Trần Văn Kinh: Tôi nghe “ Xuân Vọng”

Tôi đã được đọc hàng chục bản dịch bài thơ “Xuân Vọng” của Đỗ Phủ nhưng đều cảm thấy chưa thỏa mãn về điểm này hay điểm khác trong một số bản dịch đó. Đành rằng dịch thơ là điều cực khó xưa nay (ngôn ngữ và văn hóa không tương thích được từng chữ), mà điều khó nhất lại là ở chỗ hoàn cảnh đã thay đổi. Lúc Đỗ Phủ viết “ Xuân vọng” , hoàn cảnh và tâm trạng ông như thế nào, và bây giờ khi ta dịch, hoàn cảnh và tâm trạng ta thế nào, thật khó mà có sự đồng điệu! Và nếu thiếu sự đồng điệu đó, các bản dịch khó lòng lột tả được hồn thơ của Đỗ Phủ. Các nhà thơ có danh tiếng, các bậc túc nho đã thấy khó, huống gì tôi ? Biết thế nên tôi chỉ ngồi im lâu nay. Bỗng thấy vang lên đâu đó: ”Cảm thời hoa tiễn lệ/ Hận biệt điểu kinh tâm…” tôi bèn chép lại đây những điều tôi nghe thấy từ bài “Xuân vọng”.
1.       Trước hết là tên bài “Xuân vọng”. “Xuân vọng” chứ không phải “Vọng Xuân”. “Khi chén rượu, khi cuộc cờ/ Khi xem hoa nở , khi chờ trăng lên” (Kiều). Đó là cách thưởng thức của những “tài tử, giai nhân” trên lầu “vọng nguyệt” (chờ trăng là để ngắm trăng lên).
Trong “Xuân vọng”, mùa xuân đã đến sờ sờ trước mắt rồi:  “Thành xuân thảo mộc thâm…”. Vậy còn chờ ( đợi…) xuân đến gì nữa?  Nhưng vì trong mùa xuân ấy: “Cảm thời hoa tiễn lệ/ Hận biệt điểu kinh tâm”… cho nên, phải chăng, ở đây tác giả muốn trông ngóng “một mùa xuân khác” ?
Tôi “nghe” như vậy, nên thấy cái tên của bản dịch phải là  “Mong xuân” hay “Ngóng xuân”. Riêng tôi xin chọn là “Ngóng xuân”.
2.       Sau hai câu đề (ta sẽ trở lại sau) là hai câu “là 2 câu “tả thực” về mùa xuân đang hiển hiện trước mắt Đỗ Phủ:” Cảm thời hoa tiễn lệ/ Hận biệt điểu kinh tâm”: Hoa ứa nước mắt vị thương thời thế/ Chim kinh hãi mang hận phải lìa đàn!
Tiếp đó là hai câu luận: “Phong hỏa liên tam nguyệt/ Gia thư đồ vạn kim” lại là một cặp đối xứng khác (hai trạng thái ngược nhau): Chinh chiến liên miên trong khi thư nhà vắng biệt. Chính sự vắng biệt thư nhà này mà Đỗ Phủ mới mô tả là “Thư nhà (nhận được) tựa ngàn vàng”
3.       Hai câu kết: “Bạch đầu tao cánh đoản/ Hồn dục bất thăng trâm” càng nói lên tâm trạng “rã rời” của Đỗ Phủ sau hai “liên”  tả thực và luận như trên: Tóc bạc càng thêm ngắn/ Không giữ được cái trâm cài nữa!
4.       Đến đây, ta có thể quay trở lại hai câu mở đề : “Quốc phá sơn hà tại/ Thành xuân thảo mộc thâm”.
Hai câu này không thể dịch (mot à mot)  là “Nước mất, còn sông núi”, nghe nó “suông” quá, không có hồn thơ! Cũng không thể giải thích theo nghĩa “tích cực” ngày nay như là: nước mất còn sông núi nên cũng coi như nước vẫn còn!
Khi ta hiểu được Đỗ Phủ mong ngóng một mùa xuân khác, ta sẽ hiểu là tác giả muốn nói với ta: “Sông núi (cái xác) còn đây, (mà) nước (cái hồn) đã bị phá tan! / Thành xuân cây có mọc ken dầy” (che hết cả lối xưa) , cũng như “ Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo/ Nền cũ lâu đài bóng tịch dương” (Thăng Long thành hoài cổ- Bà Huyện thanh quan). “Cái hồn”  quan trọng hơn  ”cái xác”. Cái xác Trương Ba nhưng hồn anh hàng thịt thì còn gì là Trương Ba nữa? Một đất nước càng phải như thế.
“ Như nước Đại Việt ta/ Vốn xưng nền văn hiến đã lâu/ Núi sông bờ cõi đã chia/ Mà phong tục bắc nam cũng khác…” (Bình Ngô Đại cáo). Đó là một định nghĩa tài tình về dân tộc, quốc gia mà Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi đã đưa ra cách đây gần 600 năm! Phong tục ở đây là văn hóa, là hồn dân tộc!
Khác với nhiều nhà thơ khác buổi “Thịnh Đường” như Lý Bạch, Vương Xương Linh, Mạnh Hạo Nhiên, Thôi Hiệu, Bạch Cư Dị, Trương Kế…,   Đỗ Phủ là nhà thơ gắn bó với “triều đại” nhà Đường  hơn. Ông luyến tiếc một thời thịnh trị của nhà Đường (Đường Minh Hoàng), và lên án vụ An Lộc Sơn. Ông phản ứng với chiến tranh theo cách của ông- một nhà thơ lớn-  như vậy đó. Cũng như bà Huyện Thanh Quan từng luyến tiếc một thời Thăng Long xưa vậy.
Và dưới đây là bài “Xuân vọng” mà tôi “nghe” được. Tôi nghe và tôi chép ra. Cũng có nghĩa là “bản dịch” đã qua “cái tai” của tôi rồi. Nó còn trung thành với bản gốc được đến đâu?  Rất mong bạn đọc thẩm định lại cho.
Xuân vọng
(Đỗ Phủ)
Quốc phá sơn hà tại
Thành xuân thảo mộc thâm
Cảm thời hoa tiễn lệ
Hận biệt điểu kinh tâm
Phong hỏa liên tam nguyệt
Gia thư đồ vạn kim
Bạch đầu tao cánh đoản
Hồn dục bất thăng trâm.
Ngóng Xuân
(Bản dịch của Trần Văn Kinh)
Sông núi còn đây, nước ở đâu
Thành xuân cỏ mọc ngút ngàn dâu
Hoa nhìn thời thế khôn ngăn lệ
Chim hãi hùng ôm hận biệt sầu
Ba tháng liên hồi cơn chinh chiến
Thư nhà nhận được đáng vàng âu
Lơ thơ tóc bạc càng thêm ngắn
Để chiếc trâm cài tuột khỏi đầu…!
                                TVK.

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s