Trần Văn Kinh: Tôi đã “ nghe Xuân vọng” như thế nào?(*)

Tôi hoàn toàn nhất trí với bác Chân là ta trao đổi với nhau việc dịch thơ chỉ là để trao đổi cho biết cảm xúc của  người dịch vậy thôi, chứ cảm xúc của tác giả thế nào thì chỉ có tác giả mới biết rõ được!  Chẳng thể mà ở ta đã từng có nhà thơ danh tiếng viết  lời bình cho 4 câu thơ của chính mình (in trong sách giáo khoa), đến khi con đưa cô giáo chấm thì bị cô phê là “lạc đề” đấy sao?
Và chẳng phải tập “ Nhật ký trong tù” của cụ Hồ, đã được các nhà thơ uyên bác, danh tiếng như Nam Trân, Xuân Thủy, Khương Hữu Dụng… dịch và xuất bản từ lâu, thế mà mới đây vẫn có người dịch lại (một số khá lớn bài), cũng in ra, xuất bản hẳn hoi (!). Tôi cũng hân hạnh được biếu một tập như vậy, nhưng khi đọc vào thì thấy không thể so sánh với các bậc thầy trước đây được!
Dịch thơ của người ta mà không hiểu hoàn cảnh và tâm trạng của người ta thì làm sao mà dịch? Đấy là chưa kể việc chuyển ngôn ngữ lại là một điều cực khó nữa. Khi ta nói “ Tay em .tay ẻm. tay èm”, ta có dịch được thành ra “my hand, my hảnd, my hànd” không?!!
Tôi tự xét mình cũng thuộc lớp  “sinh phải thời nhiễu nhương, lớn gặp buổi khó nhọc…” bây giờ đến tuổi này, cái gì cũng không ra cái gì, sinh ra nhút nhát, nên chẳng bao giờ dám làm như người bạn kia. Thế rồi bất thình lình, từ đâu đó trong tiềm thức, “tôi nghe Xuân vọng”, lại gặp lúc các bác đang chơi chữ về chuyện này, tôi mới mạo muội làm một bản dịch gửi đi, góp tiếng nói cùng các bác vậy thôi. Bác Thanh trách tôi rằng  “nghe Xuân vọng” thì tức là nghe tiếng của mùa xuân, chim kêu ríu rít…rồi còn gì ? Thì đúng vậy mà, hay đáng lẽ ra là phải như vậy mà! Nhưng sự thực (trong thơ) lại không có như vậy. Vì thế tôi mới dịch là “ Ngóng Xuân”. Bác đừng quên tôi đã dịch là “Ngóng xuân”, còn “Tôi nghe Xuân vọng” chỉ là khúc nhạc dạo đầu cho bản dịch đấy thôi!
Nhưng trong đoạn viết “Tôi nghe Xuân vọng” này, cũng có chỗ sai sót. Đáng lẽ nói: “ So với các nhà thơ nổi tiếng khác về thơ Đường ”, thì tôi lại sơ ý  viết: “ So với các nhà thơ nổi tiếng khác buổi “Thịnh Đường” ”, sai vì trong đó có tên Bạch Cư Dị (Vãn Đường- bác Chân nhắc- Xin cám ơn bác), và  Trương Kế (thực ra là Trung Đường)…
Nhắc đến Trương Kế, tôi lại xin mở ngoặc một chút : bài “Phong kiều dạ bạc” nổi tiếng như thế, có hàng chục người dịch có danh tiếng, nhưng có ai dịch hay bằng một tác giả khuyết danh:
“Trăng tà, chiếc quạ kêu sương/ Lửa chài, cây bến sầu vương giấc hồ” !
(hai câu nguyên tác là: “Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên/ Giang phong ngư hỏa đối sầu miên”)
Trở lại bài “Xuân vọng” của Đỗ Phủ, bác Thanh đã cung cấp hàng chục bản dịch khác nhau, trong đó có bản dịch của Trần Trọng Kim. Tôi cũng đã có dịp đọc phần lớn các bản dịch đó qua các bài bình giảng về thơ cổ điển Trung Hoa của các nhà giáo có danh tiếng ở Đại học Sư phạm Hà Nội như  Nguyễn Khắc Phi (em trai Nguyễn Khắc Viện,  bạn học cùng trường nhưng trên tôi một lớp hồi phổ thông), hay như quyển sách “Bình giảng thơ Đường” của Nguyễn thị Bích Hải…
Trong hàng chục bản dịch đó, tôi lưu ý hơn về bản dịch của Trần Trọng Kim, vì hai lẽ: Ông là học giả nổi tiếng nửa đầu thế kỷ 20 (một mình viết cả 3 cuốn: Việt sử lược, Phật giáo Việt Nam, và Nho giáo Việt Nam); ngoài ra, tôi cũng có một chút quan hệ riêng. Hồi tôi còn nhỏ, khoảng 11, 12 tuổi, tôi đã được vài lần gặp một người, thỉnh thoảng về quê thăm họ hàng, lại đến nhà tôi đàm đạo với cha tôi, có khi kéo dài từ sáng đến chiều! Người đó là ông Trần Bá Hoan, anh ruột Trần Trọng Kim. Tôi thấy ông gọi cha tôi bằng bác, còn cha tôi gọi ông bằng chú, tôi cũng theo thế mà gọi ông bằng chú (xưng cháu), mặc dù ông ấy lớn tuổi hơn cha tôi.   Thế rồi thời gian trôi đi, mỗi người một ngả và tôi cũng không còn biết gì hơn về ông nữa. Chỉ đến khi gặp bản dịch thơ Đỗ Phủ của Trần Trọng Kim thì tôi mới chú ý hơn các dịch giả khác một chút. Nhưng rất tiếc là tôi cũng thấy… hơi thất vọng! Bản dịch của Vô Tình, tôi lại thấy hợp ý tôi hơn!
Sau này tôi mới hiểu rằng hoàn cảnh và tâm trạng của người dịch quyết định hồn thơ của bản dịch.
Tôi cũng đã nói trong bài “Tôi nghe Xuân vọng” rằng Đỗ Phủ “gắn” với triều đại nhà Đường hơn các nhà thơ khác đương thời. Quả thực như thế. Ông ca ngợi triều đại đến mức đi đến sông Mịch La, viết bài “Chiêu hồn” để gọi hồn Khuất Nguyên về: Ngày nay vua sáng tôi hiền, hãy về mà hưởng !
Vậy rồi hơn 700 năm sau , có một danh nhân khác đi qua đấy, đã viết bài “Phản Chiêu hồn” sau khi đọc bài “Chiêu hồn” ấy. “Khuất Nguyên ơi! Đừng về! Thời nào cũng thế thôi !” Danh nhân ấy là đại thi hào Nguyễn Du !
Tôi không bình luận gì về hai nhà thơ lớn đó, nhưng rõ ràng Đỗ Phủ “cảm thương thời thế’ khi triều đại của  Đường Minh Hoàng sụp đổ!
Tôi cũng hơi lạ khi thấy bác Thanh dẫn ra sách Đường thi tam bách thu  của  Trung Quốc và  bảo câu thứ ba trong bài thơ của Đỗ Phủ có một chữ thừa: chữ “thời”! Tôi thì thấy chữ ấy là đắt nhất trong cả bài thơ. Không “cảm thời” thì còn cảm gì nữa? Tất cả những nỗi đau mà Đỗ Phủ nói đến sau đó, trong bài thơ,  đều xuất phát từ “cảm thời “ mà có, khi mà triều đại đã đổ sau vụ An Lộc Sơn !.
 Theo như bác Thanh dẫn, thì trong sách đó, người ta giảng nghĩa câu ”cảm thời hoa tiễn lệ/ Hận biệt điểu kinh tâm” theo cách: “Nhìn hoa mà (người) rơi lệ/ nghe chim kêu mà (lòng người) kinh hãi”. Tôi cho đấy là cách giải thích sai lầm. Sai ở chỗ “luận” phải ở liên sau, liên thứ ba (hai câu 5 và 6).  Họ là người Trung Quốc, nhưng vấn đề là họ có nghiên cứu thơ Đường không? Người Việt Nam thì không phải là người Trung Quốc, nhưng không vì thế mà không hiểu thơ Đường của Trung Quốc. Cũng chưa cần phải viện đến các bậc danh nhân như Nguyễn văn Siêu, Cao Bá Quát, Tùng Thiện Vương , Tuy Lý Vương (Văn như Siêu, Quát vô Tiền Hán/ Thi đáo Tùng, Tuy bất Thịnh Đường !).
Trước hết, trong luật Đường thi, liên thứ hai (câu 3 và câu 4) là liên tả thực. Đã nói đến mùa xuân thì phải tả cái mùa xuân đó thế nào đã. Hoa nở  và chim kêu là hai nét điển hình của mùa xuân. Thì sao? Hoa thì “cảm thời…tiễn lệ”, chim thì “hận biệt….kinh tâm”. “Khách quan” là như thế, mặc dù khách quan đó là lựa chọn của tác giả !
Nếu ở hai câu 3 và 4 mà đã đưa ngay “nỗi lòng” của tác giả.thì “hơi sớm”! Đỗ Phủ chắc không có cái sơ suất ấy! “Luận”  phải đặt ở liên thứ ba (câu 5 và 6): chiến tranh liên miên nên thư nhà thưa vắng, nhận được thật đáng ngàn vàng! (Phong hỏa liên tam nguyệt/ gia thư đồ vạn kim).
Hai câu “luận” này đặt vào sau hai câu “thực” của bài này  thì có ý nghĩa tô đậm thêm cảm xúc  trong bài này, nếu tách ra thì không có liên quan gì đến mùa xuân cả.
Bài thơ gồm 4 liên: đề, thực, luận, kết. Cuối cùng là kết (liên thứ tư, gồm hai câu 7 và 8), nói lên sự bất lực của tác giả trước một việc rất nhỏ là cái trâm lên đầu (còn nói gì đến thời cuộc!).
Bạn đọc muốn rõ hơn về điều này, xin cứ đọc lại các tác giả Việt Nam, từ bà Huyện Thanh Quan đến Nguyễn Khuyến, từ Hồ Xuân Hương đến Tú Xương…. Ở đây , tôi chỉ xin dẫn một bài của Tú Xương khi tả cảnh học trò (“Sĩ tử”) đi thi, để biết là không có ai làm thơ Đường mà không tuân thủ cái luật ấy (đề, thực, luận, kết) của Đường thi. (Nhưng bây giờ thì khác đấy. Nhiều người có thơ đăng báo, cũng gọi là thơ Đường, có khi được giải thưởng nhưng lại sai cả niêm, luật, vận, đối !).
Bài thơ của Tú Xương như sau:
Nhà nước ba năm mở một khoa
Trường Nam thi lẫn với trường Hà
Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ
Ậm ọe quan trường miệng thét loa
Xe kéo rợp trời, ông Sứ đến
Váy lê phết đất, mụ đầm ra
Sao không nghĩ đến điều tu sỉ
Ngoảnh cổ mà trông lại nước nhà!
                                (Tú Xương)
Rõ ràng hai câu tả “thực” (câu 3 và 4) là đủ để nói về cảnh học trò đi thi. Hai câu 5 và 6 là “luận”, gắn vào đây thì tô thêm ý nghĩa của hai câu trên, tách ra thì chẳng có nghĩa gì về thi cử cả!
Viết đã hơi dài, xin được dừng lại để khỏi làm phiền độc giả thêm nữa
                                                                                                                 TVK
             Phản hồi:

(*) Docago : Tiếc rằng TVK hiểu sai ý Docago:

   Chữ ” thừa” này không phải là dư thừa mà là thừa hưởng. Nghĩa là những chữ sau đó chỉ để phát triển chữ “thời” ( hận thời, chứ không phải là thừa mất chữ thời ) mà thội. Điểu và hoa ở đây không làm chủ ngữ ( câu đề thuyết) như thơ văn hiện đại  . Chủ ngữ là tác giả ( ẩn).
           Mong  TVK hiểu cho nếu Docago phân tích đúng ( theo Đường Thi tam bách thủ ) thì có rất nhiều người dịch sai.

(**)   Nhân Trần Văn Kinh có nhắc bài Phong Kiều dạ bạc và khen bản dịch của tác giả Vô Danh

              Docago xin có mấy ý :
                 Câu đầu có 3 đề thuyết ( câu chủ vị) là : Nguyệt lạc/ ô đề/ sương mãn thiên
                   Tác giả khuyết danh dịch Trăng tà chiếc quạ kêu sương như vậy chỉ còn hai, nên vẫn chưa thật hay
                 Câu 2: giang phong/ ngư hỏa/ đối sầu miên
                           dịch : Lửa chài / cây bến / sầu vương giấc hồ . Tuy rất hay nhưng vẫn không lột tả được cái ý: Cây phong/ lửa chài  đập vào mắt  tác giả đang buồn không ngủ được .
                 Tới câu 3 và 4 : Câu 3 ( bổ ngữ địa điểm) và dạ bán ( bổ ngữ thời gian) cho chung thanh vang tới  khách thuyền ( có nguwoif xa nhà không ngủ được) mà dịch là Thuyền ai đậu bến Cô Tô, Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San  thì phá vỡ hoàn toàn tứ thơ.

Bởi vậy, dịch là phản vậy

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s