TTCh Vệt mưa trên kính : @

 

 


Sau một thời gian bệnh nặng, nằm viện dài ngày, tôi những tưởng cuộc đời sẽ bước sang một khúc quanh mới. Nhưng giời thương, hôm nay tôi lại bình yên trở về, ngồi trên tuyến xe buýt số 50 như mọi ngày, từ bể bơi Ba đình về nhà; xe quẹo qua đền Quán Trấn Vũ, băng băng trên đường Cổ Ngư trong buổi sớm tinh mơ, sương ban mai se lạnh của ngày đầu xuân Quí tỵ còn giăng đầy mặt hồ, lòng tôi lâng lâng bao cảm giác mới lạ như người đi xa lâu, nay trở về. Vẫn những tốp người tập thể dục buổi sớm tụ tập bên hồ, vẫn những đội đua xe đạp nai nịt mũ áo vận động viên hàn huyên sau cuốc đạp vòng hồ đang nghỉ ngơi, thở hít chuyện trò râm ran như mọi ngày tôi vẫn hằng qua đây. Vẫn lối cũ, đường xưa, nhưng sáng nay lòng tôi bâng khuâng, rạo rực, rộn rã niềm vui, như có tiếng chim đang thánh thót, nhẩy nhót trong tâm hồn, một người vừa bình phục trở về với cuộc sống ngày thường. Khi xe dừng tại bến trước chùa Trấn quốc, như mọi ngày tôi vẫn ngồi trên xe thẳng về bến trung chuyển Long Biên, rồi bắt tiếp xe 36 về nhà, nhưng hôm nay tôi xuống bến Trấn quốc, hít thêm chút không khí trong lành của buối sớm bên hồ, rồi lững thững sang đường, như muốn nán lại chút thời gian đã mất bấy lâu, tìm lại những hoài niệm xưa đã gắn bó tôi với đoạn đường ngắn ngủi này.  Những người sinh trưởng ở HN không mấy ai là không đầy ắp kỷ niệm về con đường Cổ Ngư mộng mơ nay mang tên đường Thanh Niên dài chưa đầy nửa cây số. Thời tuổi học trò, từng mét đất nơi đây đã lưu dấu bao kỷ niệm buồn vui đời mình. Tôi lang thang những bước chân vô định, qua đường rồi quyết định thăm chùa Trấn quốc. Cổng chùa đã mở, chưa một khách vãng lai, cũng tịch không một bóng sư sãi, tất cả đều tịch mịch vắng vẻ, chùa trên, chùa dưới cửa đóng im lìm, chưa có mùi nhang khói nào thoảng bay giữa không gian linh thiêng u tịch này. Bất chợt gặp nhà sư nam vừa vác chổi tự chùa dưới đi lên, như có ý chuẩn bị cho việc quét dọn chùa. Tôi lên tiếng : a di đà phật bạch thầy, xin vô phép được thăm chùa, và hỏi  :  con muốn đến thắp nhang 1 người bạn hoc chết đuối tại chùa vào mùa hè 1952, có bia gắn trên tường ở gian chùa ngang, tên là Thái, rồi đưa tấm ảnh chụp tôi đứng bên tấm bia để sư thầy xem, nhưng sư thầy trả lời : thời gian đã quá lâu nay chùa đã qua nhiều lần trùng tu, tất cả các vong ẩn nơi cửa chùa đã lâu, nay đều cho nhập tháp. Tôi bâng khuâng, thoáng buồn rồi vội cáo từ sư thầy, rút chiếc điện thoại chụp nhanh vài cảnh chùa trước khi ra về. Đã qua cổng ngoài mà lòng vẫn ngổn ngang bao kỷ niệm xưa xô về. Bên phải chùa, nay đã dựng tường hoa bao quanh cao vút, thì xưa lũ học trò HN chúng tôi vùng vẫy thỏa thích trong một loại bể bơi được bao quanh bằng các thùng phuy trống, đóng thành bè làm cầu nhẩy, chùa chẳng rào, chẳng giậu. Ngày đó HN thiếu bể bơi cho các học sinh luyện tập trong những ngày hè oi bức, nên hầu hết là tới đây, tới bể  Trấn quốc, rồi hồ Nghi Tàm, hồ Quảng Bá…tất cả là hồ tự nhiên quanh đây, học sinh bơi giỏi thì ra Sông Hồng, chỉ thế thôi, bể bơi Mangin, bể Cercle sportif d’Hanoi thì chỉ dành cho những vận động viên, và con tây, nên mùa hè nào cũng hầu như có người chết đuối tại hồ, hoặc bơi xa hoặc gió bão lật thuyền …thường xuyên mỗi vụ hè đến. Lũ học trò thời nhất quỉ nhì ma thứ ba học trò chúng tôi, khi chán bơi thì thuê périssoire, canoë, voilier… ở các nhà thuyền Hùng Nhân, nhà thuyền Petit Doson để trêu gheo các đôi tình nhân Pháp, chúng hay đi voilier ra giữa hồ rồi cắm neo, hạ buồm để hôn hít, làm tình, mà bọn nhóc chúng tôi, dăm chiếc périssoires cứ lảng vảng, nhằng nhẵng bám theo như đỉa đói; làm chúng khó chịu hò hét xua đuổi : “ Allez vite au loin, les petits vagabonds “ chúng láo, gọi chúng tôi là lũ con nít ma-cà-bông, nên chúng tôi càng không buông tha, đuổi đứa này còn đưa kia, mà voilier có giương buồm, gió có lộng thì đến tết chúng cũng chẳng đuổi kịp. Périssoire với tay chèo siêu hạng như chúng tôi, họa huần có kịp thì chúng tôi cũng đã dạt lên đảo, trốn biệt. Chúng đành vỡ 1 cuộc thuyền-tình, rong buồm ra về. Cứ bâng khuâng với những kỷ niệm quá vãng, tôi đã qua gần hết đoạn rào sắt ven hồ, nhìn sang bờ Trúc Bach, nay cột TV 100”, thời sự chiếu suốt ngày, hàng dãy ghế đá xin xít quanh hồ, chỉ loáng thoáng vài cụ già vừa nghỉ vừa múa may luyện võ, chứ chắc khi màn đêm buông xuống, nơi đây là những thiên đường khoẳnh khắc của những đám khách bụi đời, ngày một đông như cỏ mọc vườn hoang, khi đất nước chưa tìm lối ra cho thanh niên thất nghiệp vô công dồi nghề,chưa có cách nào giải quyết ngoài việc bán sức lao động ra nước ngoài làm osin cho các nước giầu có  quanh ta, mà trước đây có nước cha ông ta còn gọi họ là Mọi. Dãy nhà công ty dịch vụ ăn uống ven Trúc Bạch, chắc nay đã cổ phần hóa, họ kinh doanh đủ loại ăn nhậu từ bình dân, bánh tôm, ốc luộc đến hải sản, cá hấp bia cao cấp, rồi kem cốc kem que đủ lọai hương vị :  cốm, chanh, cam, chocolat…Ngày xưa đây chỉ dặt một loại hình kiosques bánh tôm mà thực khách phần lớn là các đôi tình nhân đến ăn để thưởng ngoạn cảnh hồ và lũ học sinh chúng tôi. Họ sợ nhất là lũ học trò chúng tôi đến ăn, hàng chục đứa từ hồ bơi lên, tiền thì ít, bánh tôm chỉ gọi mỗi đứa 1 chiếc, nhưng lại thay nhau ra lấy rau; xưa bánh tôm Hồ Tây chỉ bê đĩa bánh tôm, còn rổ rau trên giá tự  ăn tự lấy, đu đủ, tỏi ngâm, ớt ngâm đầy lọ, chúng tôi ăn mà ra về đến nhà miệng vẫn còn cay sè, lưỡi thè lè thâm xanh toàn rau. Quán bánh tôm mụ béo đáo để, biết lũ học trò ăn bánh tôm là phụ còn toàn đến chống đói bằng rau, nên nhiều bận mụ xua đuổi, nói hết hàng. Nhưng nào chúng tôi có tha, xua thằng Tạ Lưu Phương, con nhà giầu phố hàng Hòm, nguời rất to béo, mới học đệ ngũ mà nó năng gần 80 cân cao hơn 1,7 mét, lúc nào cũng sơ mi popeline sanford trắng toát, cổ col indéformable hàng hiệu Tino’s, luôn luồn áo trong quần tây mầu kaki Mỹ hàng hiêu Phú Hưng, chễm chệ trên chiếc xe đạp Mercier Duraluxe bóng lộn; chúng tôi bắt nó lúc nào cũng lên hồ trước tới quán bánh tôm mụ béo. Mụ thấy khách sang nên đon đả mời chào, sau nửa tiếng chúng tôi mới  ào đến, giả là khách mời của hăn, thế là trước sau mỗi thằng 1 lượt lên rổ bốc rau, ăn bằng hết rau của quán mụ. Nhưng dở trò đó vài lần cũng không qua mắt mụ, chúng tôi phải lần lượt ăn mỗi quán 1 ngày rồi mới quay vòng về quán mụ béo. Đang mê mải  với dòng chảy tuổi thơ, tôi bỗng nhận ra ven Hồ Tây hôm nay đẹp thật, xứng là nơi đệ nhất danh thắng thưởng ngoạn HN; dọc bên bờ hồ Tây chẳng còn bạt ngàn bãi bèo tây đặc quánh, cứ mỗi lần gió bấc heo may đổ về là những đám bèo tây rộng như sân bóng đá trôi từ làng Nghi Tàm Quáng Bá dạt sang, ôm trọn cả con đường thơ mộng. Giờ hồ đã kè, và người dân quanh hồ ít nuôi lợn, và nhưng quán ăn nhà bè (floating restaurant), những quán ăn du thuyền đủ loại ( moving restaurant) bán cho thực khách vừa ăn vừa thưởng ngọan cảnh hồ ban đêm đã bị xua hết sang phía bờ tây, gần nhà ông Phùng Quán, chuyên câu trộm cá ngày xưa. Tôi nhớ đến một kỷ niệm khó quên, sau mấy chục năm xa HN, khi trở về sống với vợ con ở tập thể Ba Hàng, tuổi chưa đầy 40  mà đau yếu liên miên, cơ quan cho tôi đi nghỉ ở nhà điều dưỡng Tổng công đoàn trên phủ Tây Hồ, vẫn cái thói quen du đãng tuổi thanh xuân còn rơi rớt, rửa mãi chưa sạch, tôi đã cùng ông bạn ở chung  phòng, sau bữa cơm chiều, trời đã tối, rủ nhau kéo trộm thuyền nhà nghỉ qua bờ kè đất sang phía Hồ tây, tôi chèo mạnh chừng chục sải cánh chèo périssoire cho thuyền lướt thật nhanh rồi lái vỉrage cho thuyền quẹo đột ngột, cá hồ tây nhẩy ào ào lên mặt nước, có 2 con đã nhẩy vào thuyền tôi, trời ơi mỗi con đến 5 cân, thế là toàn phòng nghỉ điều dưỡng của tôi đêm đó được bữa cháo thì là thịnh soan, còn 1 con, anh em nói nhà tôi ở HN nên đem về cho vợ con bồi dưỡng, đừng lãng phí, ăn không hết và thế là tối đó tôi vô phép bè bạn điều dưỡng trốn về nhà với vợ, cùng mang theo con cá 5 cân ăn trộm do cá bay nhầm lên thuyền để vợ con bồi dưỡng. Những năm đó Hồ Tây đúng là hồ cá Bác Hồ khổng lồ cung cấp thực phẩm cho người HN, đêm đêm tôi vẫn thường thấy từng đoàn xe containeur  chở cứt thu gom trong thành phố tới đây đổ xuống hồ làm thức ăn cho cá. Hình như đấy là công ty quốc doanh cá thuộc Công ty thực phẩm Hà nôi phụ trách và họ cũng quản lý luôn cá Hồ Gươm, nên mới xẩy ra Công ty cá bủa lưới thu cá Hồ Gươm đã đâm chết cụ rùa quí, nay tiêu bản cụ rùa còn nằm triển lãm trong chùa Ngọc sơn. Và tôi nhớ đến nhưng năm tháng tuổi đã cao, chúng tôi thường xuyên cùng đám anh em cùng  nghề hay bầy vẽ chuyện mở tiệc đón thu và tiễn thu vào những ngày lập thu, lập đông. Tất cả những bữa liên hoan tiễn thu và đón thu của chúng tôi chỉ xoay quanh trên đoạn đường này.Năm 1993 là năm đầu chúng tôi làm lễ tiễn thu ở đoạn nhà hàng Hải sản trước của đền Trấn Vũ, nhà hàng là những dãy chòi lá chẳng mộng, chẳng mơ gì, ngồi ăn như ngồi trên chòi canh cá, đầy bèo tây, ngồi rất khuya cho tới đúng 23 giờ khuya, nhà hàng đã nhắc nhở thực khách ra về và đúng giờ tý chờ nàng thu quí mão năm đó ra đi hẳn, chúng tôi mới lục tục ra về. Bữa tiệc tiễn thu năm ấy, nay còn lưu lại trong tôi 1 bản nhạc “ Chiều tàn thu Hà nôi” ra đời, với những ca từ mà bè bạn vẫn thích thú hát mỗi lần gặp lại nhau trên Hồ Tây…:
..Bèo dạt lạc bến, ngủ yên,nghe chiều dần tắt
                                       Sóng buồn thương vô cớ xô về, nao nao, chiều thu đi.
Còn nhiều, nhiều nữa, những bài hát : Hương thu. Mùa thu đi đâu, Nhớ về với thu,Thế là mùa thu đã đi;Chuyển mùa; Tuổi xuân đã ra đi…đều là nhưng bài hát lưu dấu ấn quanh quất đâu đây trên con đường này.
Tôi đang nao nao với làn sóng kỷ niệm buồn thương vô cớ xô về, thì tôi đã quay trở về con đường mới mở Yên Hoa, con đường này xưa không có,  chỉ thấy trong truyện Lều Chõng của Cụ Ngô Tất Tố đã viết trong đoạn : “ Rồi đó ai nấy đội khăn áo kéo thẳng lên nẻo Cửa Bắc và rẽ sang đường Cổ Ngựa , lúc ấy cây cối đã đương đổi lộc, quanh hồ như vẽ một cảnh tiêu sơ , sau khi thăm Quán Trấn-Vũ cả bọn đủng đỉnh sang chùa Trấn Quốc… “.  Vậy Cổ Ngưa là đường nào ?  hay chính là Cổ Ngư hôm nay ? chẳng lẽ cụ Tố lầm lẫn, hay người xếp chữ in đã sắp sai ? Những sử liệu Thăng Long đến nay vẫn còn nhiều khoảng tối; người ta nói về làng Yên Hoa xưa, nay là làng Yên Phụ, đất trồng hoa của thủ đô. Rất xa xưa, khoảng thời Tiền Lý 542-547, chùa Trấn Quốc nằm ngoài đê sông Hồng, đoạn đê này đã vỡ nên chùa được chuyển vào trong đê và người ta đã xây con đập đất Cố ngự là để chống đỡ đoạn đê xung yếu này, và nay nói chệch  Cố Ngự là Cổ Ngư chăng ? và đoạn đất đắp giữ chắc cho đê Yên Hoa này đã sẻ Hồ Tây ra thành hai, một bên Hồ tây, một bên Hồ Trúc Bach, chứ xưa chỉ là một hồ lớn rộng bao la. Mà cá đâu có cổ mà gọi là Cổ Ngư ? Nhưng tôi vẫn ưa tên gọi Cổ Ngư hơn là Cổ Ngựa, hơn là Cố Ngự và hơn cả tên đường Thanh Niên hôm nay. Miên man bao dấu ấn quanh hồ, chợt số xe 50 đỗ xịch trước ngã ba Yên Hoa – Cổ Ngư, chắc là chuyến thứ 7 thứ 8…đã đi qua, nên tôi vội vã lên xe, mặt trời đã lên cao, bóng nắng chếch dần sang giờ tỵ, tôi phải ra về. Được nhường chỗ cho người già nên tôi vẫn ngồi bên dãy ghế trái, nhìn dòng người trên con đường gốm sứ đoạn Yên Phụ loang loáng qua mặt. Nhưng tôi chợt giật mình, cảnh phố xá diễn ra trước mắt cứ mờ mờ như người đi trong sương, tôi lấy khăn mùi xoa ra lau lại chiếc kính lão, nhưng chắng thấy sáng hơn, hay con bệnh hiểm nghèo vừa qua nay tôi lại bước vào căn bệnh mới, đục giác mạc của tuổi già ? Nhưng rồi cẩn thận nhìn trái, nhìn phải thì ôi thôi ! tôi hay mắc bệnh tự kỷ ám thị. Đấy là những vệt mưa trên kính xe buýt đã đóng thành vết lâu ngày chồng chất qua nhiều trận mưa khác nhau đã khô đi mà người ta không lau sạch.  Xe đến bến Long biên, tôi bắt được ngay xe 36 đang vào bến, nhanh nhẹn lên xe, chọn ngồi hàng ghế trái để nhìn cho sáng, ánh mặt trời  vẫn rọi từ hướng đông sang. Tôi lại nhìn qua kính xe,  lại những vệt mưa trên kính, ôi đẹp làm sao ! kính xe như một lớp kính hoa muôn hình muôn thể của các vệt mưa đọng lại trên kính. Với nhiều vệt to, vệt nhỏ, vệt tròn, vệt méo, vệt ngắn,  vệt dài…, chắc là những vệt mưa của những trận mưa bui bay lất phất, hoặc của những trận mưa dầm, và nhiều nữa…, rất rõ những vệt mưa khác nhau, và qua nhiều ngày chồng chất càng tăng thêm những vệt mưa đa hình mỗi xe mỗi vẻ. Cảm giác này cho tôi nhũng thi vị quan sát, tha hồ suy tưởng trong khoảng thời gian nhàn rỗi trên xe. Nhưng dần ấn tượng về vêt mưa trên kính đến nay đã qua nhiều chuyến, qua nhiều ngày đi lại, cứ hiện đi hiện lại mỗi lần lên xe đã tạo trong tôi những suy nghĩ và cả những nỗi buồn khó giải  ! Một việc thật giản đơn, với 1 chiếc rẻ lau và một chai nước rửa kính Jetcars là xong béng sạch trơn. Nhưng nó đang thiếu một địa chỉ gọi tên người chịu trách nhiệm. hay là anh tài xế ? hay cô lơ xoát vé ? Xưa, việc vệ sinh, quét nhà, lau kinh, lau bàn ghế, lấy nước…người ta làm lịch xoay vòng cho mọi người trong cơ quan; việc vệ sinh lớn hơn, cho một khối phố, một công viên người ta thường hô hào bà con cùng đường phố làm vào những ngày lễ tết…các hình thức mang nặng trò chơi chính trị này đang dần ít đi, nay đã có người chuyên trách. Miên man tôi nghĩ đến khẩu hiệu tiền cách mang : “ trí, phú, địa, hào đạo tận gốc trốc tận rễ “; rồi tôi nghĩ khi loài người từ bỏ nền cộng sản nguyên thủy để bước vào kỷ nguyên nô lệ :  đã xẩy ra có người lao động đầu tắt mặt tối và có người vô công dồi nghề đắm mình trong tháp ngà, và thế là có cụ Descartes ra đời. Giá trị của trí tuệ và lao động gian đơn đâu có phải triêt tiêu lẫn nhau,  phải đào tận gốc trốc tận rễ lẫn nhau đâu nhỉ ? Thực chất cả 2 giá trị trí tuệ và lao động giản đơn lại công sinh cùng nhau, nương tưa vào nhau để xã hội phát triển. Giả sử ta làm 1 trò chơi : bắt ông Descartes ra khỏi tháp ngà để lau kính xe thì tôi khẳng định kính sẽ không sạch mà bẩn thêm, và lộn chỗ cho người lao động giản đơn chiu vào thấp ngà làm việc của ông Descartes thì chắc chắn  nghìn đời sau không đẻ ra ông Descartes thứ 2.  Đất nước hôm nay sau nhiều năm phát triển nay ta đang đi tim giải pháp cơ cấu lại cho các tập đoàn kinh tế, các tập đoàn ngân hàng nhà nước…nhưng tôi nghĩ trước măt và cấp bách đầu tiên là chúng ta phải cơ cấu lại giá trị đích thực của trí tuệ và lao đông giản đơn, nó không những không triệt tiêu lẫn nhau mà nó phải cộng sinh nương tưa vào nhau cùng phát triển, nhưng nhất định nó cũng không thể đổi chỗ cho nhau mà làm nên một xã hội văn minh. Mối lần lên xe, nhìn nhưng vệt mưa trên kính lại để lại trong tôi những suy tưởng hoang mang về môt khoảng trống nhân văn mênh mông đang hiện hữu.


                                                                                             T.T.Ch

                                                                               Tháng giêng năm Quí Tỵ

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s