LaiQuangNam: Thằng Bờm có cái quạt mo, Bài ca di sản của tiền nhân người Đàng Ngoài .

 

I-Phần giói thiệu tổng quát
II-Thằng bờm thời thơ ấu, bài đồng dao thằng Bờm  
III –Thằng bờm trong giai đoạn trưởng thành, bài phong dao thằng Bờm  
     3a- thằng Bờm chọn nghiêp vào đời .
     3b- thằng Bờm hành xử trên đường đời sau khi chọn nghiệp .
IV – Thằng bờm khi vào giai đoạn kết thúc, bài phong dao thằng Bờm ,lúc lâm chung.
V–Kết luận


I-Phần giới thiệu tổng quát


  Bài ca dao thằng Bờm là một bài ca  nói về ba giai đoạn của trong đời của một người con trai dưới sự giúp đở và theo dõi một cách nghiêm ngặt của tiền nhân nó. Trong giai đoạn lịch sử đau thương nhất của dân tộc, con trẻ sinh ra và lớn lên trong một giai đoạn nhiễu nhương và bi đát nhất của xã hội, trẻ sống trên đe dưới búa,văn hoá cội nguồn tiêu tan. Làm sao để có được  một  phẩm giá cao đep trong một  xã hội ngày càng xuống cấp như vậy?.Đó chính là sự trăn trở của tiền nhân ta, đó là chìa khoá của tồn tại của chúng ta mà tiền nhân đã mong ước. Làm sao từ một cậu bé đã bị chết tên là “thằng Bờm” có thể lột xác để lên hàng PhúÔng, một tôn ông trong xã hội .Từ thằng lên ông dưới mắt thán phụccủa người đương thời là chuỵện không phải dễ dàng gì . Qua bài ca ta thấy rõ , ba cột mốc quan trọng trong cuộc đời của đứa cháu trai. Đó là giai đoạn ấu thơ, giai đoạn trưởng thành và cuối cùng là giai đoạn chấm dứt là lúc lâm chung.  Cả ba giai đoạn này đều được thể hiện một cách khá rõ ràng chỉ với 5 câu thơ lục bát, gồm mười dòng với 32 từ đơn. Sự tài tình mà bài ca đạt được chính là là do sự kỳ ảo của ngôn ngữ Việt và sự tài hoa của xưa khi họ  thể hiện một bản văn mạch lạc và có cách lý luận nhất quán và độc đáo.


   Giá trị nhân bản của Bài ca thằng Bờm là nói lên tấm lòng và trách nhiệm của ông cha ta đối đứa cháu trai nối dõi tông đường của mình theo phong cách của người Việt xưa, còn nước còn tát, họ mớm lời khôn dại, cầm tay chỉ dẫn từng bước đi, nghe hay không nghe là quyền của nó,  đời nó do chính nó quyết định, không ai quyết định thay cho nó cả và không ai có đủ thẩm  quyền để  áp đặt cách sống của mình lên nó. Nó chỉ đúc kết được sự khôn dại khi mà nó nhắm mắt xuôi tay, lúc đó tn han nó cũng đã có mặt kịp thời nhưng đã quá trễ rồi.


Làm thế nào mà một bài ca ngắn như thế lại có thể chuyển tải một sự khôn dại có giá trị lớn lao đến như vây, đó là cách khéo léo trong sự vận hành ngôn ngữ của tiền nhân ta. Họ đã vận hành như thế nào? và tại sao họ lại khéo đến mức như vậy?. Tất cả đều phát xuất từ là tấm lòng. Bản sắc của dân tộc ta là “máu chảy ruột mềm” , “tình nghĩa đồng bào’ , chúng ta cùng chung một bọc mà ra cả, tiền nhân  ta thương yêu không hết lấy đâu mà dùng thủ đoạn với nhau. Nếu không có những phẩm cách ấy không biết ngày nay bạn và tôi, chúng ta đã đi về đâu?. Tuy đất nước trải qua bao sóng gió, chúng ta vẫn tồn tại, tấm lòng của tiền nhân thật không gì có thể so sánh được, giá như đàn anh chúng ta cùng biết dùng viên ngọc quý này trong quá khứ thì đất nước chúng ta không đến nỗi tàn mạc thậm tệ như hiện tại.


Thằng Bờm có cái quạt mo là bài ca di sản của tiền nhân ta, người Đàng Ngoài đã để lại cho hậu thế. Đó là bài ca dao viết theo thể thơ lục bát hoàn chỉnh. Dạng  thơ lục bát  hoàn chỉnh này chỉ có thể xuất hiện trong văn học Việt nam vào cuối thế kỷ thứ 16 mà thôi [1] . Đó là một bài thơ hoàn toàn bằng chữ nôm trừ từ phú là ta cứ tưởng là một từ thuần Hán, thật ra nó một từ Việt Hán [2 ].  Bài ca này được xuất hiện với tần số cao nhất trong dòng ca dao Việt nam và đã được rất nhiều người Việt nam thuộc nhiều thế hệ khác nhau thuộc các thể chế chính phủ khác nhau thuộc  nằm lòng, được  phổ biến rộng rãi nhất trong dòng ca dao Việt nam. Tại miền Nam Việt nam nó là được xem như là một bài đồng dao xuất hiện rất sớm trong sách giáo khoa bậc tiểu học. Tại bậc đại học   thì nó đã được giáo sư Nguyễn đăng Thục thuộc Đại học Văn Khoa Sai gòn đưa vào giáo trình Đại học Văn khoa trong một bài viết về triết Đông của mình.  Tại  miền Nam nó xuất hiện như một tác phẩm văn học cổ với nhiều lời bình đủ mọi khuynh hướng nhau  và lời bình đầy hương sắc. Điển hình là bài viết có tính cách tổng kết của Thiện Căn , Lại nói về thằng Bờm , tuần báo Khởi Hành,Saigon, năm 1969[ 3 ].Tại  miền Bắc thì nó xuất hiện dưới màu sắc khác “có thể làm buồn lòng tiền nhân ta” do nhu cầu phục vụ một chính sách của nhà cầm quyền [ 4 ]  . Ngày nay nó vẫn còn xuất hiện dày đặc trên mạng internet với nhiều lời bình khác nhau. [ 5 ]
Tại sao bài ca có không bao nhiêu câu lại gây nhiều tranh cãi đến thế?.Có lẽ vì nó thuộc về lãnh vực văn chương nên nó có quá nhiều cách hiểu khác nhau chăng?. Mặt khác, nó thuộc dòng văn chương truyền khẩu từ lâu đời với lối hành văn không có dấu chấm câu và sự rõ ràng giữa chủ từ và động từ như trong Anh ngữ?. Sự tranh cãi sẽ thu hẹp dần nếu như chúng ta chịu khó xét lại thời điểm mà nó xuất hiện và cùng nhau giải quyết vài từ “khó chịu”. Dù gì thì chúng ta phải cắn răng giải quyết một cách dứt điểm mà thôi. Tiền nhân ta đã có tấm lòng,  nó như viên ngọc quý lẽ nào ta lại vô tâm!. Có hai từ cần định nghĩa trước khi vào bài ca dao thằng Bờm đó là hai từ  Phú ông và thằng Bờm.


Vài định nghĩa
Sau đây là vài định nghĩa tối cần thiết trước khi chúng ta  cùng đọc lại bài thơ di sản tiền nhân một cách kỹ càng hơn. Hai từ Phú ông  và thằng Bờm được định nghĩa như thế nào?. Có bao nhiêu nhân vật cùng mang hai âm là Phú ông và thằng Bờm?.  Mỗi âm đôi gọi tên mỗi nhân vật đều có hai nhân vật phản diện. Đó là sự kỳ diệu của Việt ngữ dưới hình thức chữ chữ quốc ngữ  ngày nay đó là các từ mang ký tự  Phú ông, PhúÔng ,thằng Bờm ,thằngBờm ,sự khác nhau là từ rời quá quen thuộc đến từ hình thức biểu thị dịnh liền như một thuật ngữ văn học .


Từ ông trong tiếng Hán Việt là từ dùng để  chỉ một  người già đáng kính, tiếng gọi dành cho bậc trưởng thượng. Trong từ  Hán Việt có từ tôn ông và trong nhóm từ Việt Hán thì có từ lão ông. Nguyễn Du trong bài Thăng long I có câu :
同    遊     俠   少   盡    成     翁
Ðồng du hiệp thiếu tẫn thành ông.
Tạm dịch, bè bạn hào hiệp lúc thiếu thời nay đều thành người già (người đáng kính) [ 6 ]


Người bình dân  Việt nam  khi gọi ai đó là Ông một cách trực diện thì người được gọi hoặc có vai vế trong giòng họ, hoặclà một người lớn tuổi hơn mình; từ ông  cũng dùng để gọi một người đàn ông đã trưởng thành hoặc khi họ là một viên chức công quyền.


Phản nghĩa với ông là từ thằng. Từ thằng là từ dùng để gọi một người đàn ông đã bị họ miệt thị cho dù hắn ta có địa vị nào, tuổi tác nào và có bằng cấp nào đi chăng nữa. Có một ngoại lệ trong  từ thằng. Thằng là tiếng gọi thương yêu dành cho thằng bé khi nó còn vị thành niên, còn  ăn cơm cha mẹ, hoặc là người trưởng thượng gọi con cháu họ,hay tiếng gọi giữa bạn bè quá đổi thân quen. Gọi ai đó là thằng hay ông là do quyết định của người trong cuộc gọi nhau. Thân thương hay miệt thị .  Ai đó ,bị người bình dân gọi là thằng khi họ không quen thân thì người đàn ông hoàn toàn bỏ đi.


Phú là sự dư dã, sung mãn. Về phương diện vật chất của cải, phú là sự giàu có. Về phương diện tinh thần, trí năng thì phú là sự phong phú về trí tuệ, sự dồi dào về sự khôn ngoan, đối nhân xử thế, kẻ thức giả. Phú ông là một người đàn ông lớn tuổi có cuộc đời thành đạt, được mọi sự trọng vọng trong đáy mắt từ cái nhìn của tất cả  mọi người trong xã hội. Từ  phú trước đây do Khách thơ  đọc vội vàng nên nghĩ người ta dùng để chỉ người giàu có về của cải mà thôi, trong hàm nghĩa này chúng  ta có các từ  phú nông, phú hào ,phú hộ ,triệu phú, tỉ phú để gọi ông nhà giàu rồi . Không thấy ai dùng từ phú ông để chỉ ông nhà giàu, bởi chắc gì một ông nhà giàu đã được người bình dân kính trọng, cũng có khi ai đó gọi ông ta bằng thằng nhà giàu không chừng, tất cả tuỳ thuộc cách ăn ở và làm giàu của ông ta.  Đừng lầm với từ phú trong cụm từ “trí phú địa hào”, cụm từ rât quen với lớp người trên dưới 60 hiện nay với từ phú trong bài thằng Bờm này.Để tránh nhầm lẫn vì quán tính, trong bài viết này laiquangnam dùng từ Phú ông theo định nghĩa là một tôn ông có đời sống phong phú, cực kỳ phú quý trong xã hội đương thời của đất Bắc vào thế kỷ 17 trở đi và ông là người thành đạt về mọi phương diện. Và theo định nghĩa này thì Phú ông  là một danh từ rất riêng trong kho tàng Việt ngữ khi bài thằng Bờm xuất hiện nên ta không thể tuỳ tiện định nghĩa theo từng tiếng rời rạc dựa theo tiếng Tàu được. laiquangnam xin đề nghị dùng là PhúÔng, hai từ liền lạc. PhúÔng là một nhân vật phản diện trong bài ca thằng Bờm.  PhúÔng được viết liền lạc để kho tàng chữ quốc ngữ thêm phong phú nó khác với từ “Phú ông” mà xưa nay ta vẫn dùng khi bình bài ca thằng Bờm, từ này sẽ trở lại trong một đoạn khác của bài ca dao nguyên thuỷ. Như thế khi đọc từ PhúÔng trong bài Thằng Bờm thì các bạn dứt khoát cần loại bỏ ra trong đầu mình quán tính đã có từ thời còn đi học là từ “Phú ông” viết rời rạc như thế này vì thói quen trực giác liên tưởng là đó chỉ là là một ông lão nhà giàu. ‘PhúÔng” nay một thuật ngữ văn học.


Bờm trong kho tàng Việt ngữ là từ dùng để chỉ nhúm tóc mọc trên gáy người hay vật . Riêng người Việt mình ngày xưa, cha mẹ có bé trai ở tuổi trên dưới 20 tháng, lứa tuổi chững mới biết đi, khi đầu trẻ đóng cứt trâu thì cha mẹ cạo đầu trẻ và luôn có chừa nhúm tóc lại cái chỏm trên đầu về phía trán [7 ] . Từ thằng Bờm chỉ thằng bé còn non dại lắm, cũng không mấy khi ai lấy tên này đặt tên cho bé bởi sợ thằng bé con cháu cưng của mình sẽ chết tên [ 8 Bờm là từ không mấy hay dành đặt tên cho con trai là vậy.


Do thuộc tính của người Việt, Thằng bé để chỏm dành được mọi sự thương yêu và săn sóc của mọi người lớn huống hồ gì của ông nó. Ông nó ở đây có thể là là ông nội hay ông ngoại. laiquangnam mong rằng ngày nay người Việt không mấy quan tâm đến vấn đề nội ngoại này. Do bài ca thằng Bờm là bài ca di sản của tiền nhân người Đàng Ngoài đang quan tâm theo dõi cuộc đời nó suốt trong  ba thời kỳ, thời thơ ấu là bài đồng dao, lúc trưởng thành và lúc về già là bài  phong dao , lúc này bài ca này không còn ở dạng đồng dao nữa. Khi bài ca trở thành bài phong dao thì PhúÔng phải là ông nội mà thôi, bởi nhiều người Việt bị bóng đè,lớp  người  bị  nhiễm  bẩn văn hoá Tàu nhiều nhất là người xưa còn biết đọc lõm bỏm đôi chữ Tàu, họ sinh đầu thế kỷ 20, họ luôn luôn coi trọng việc nối dõi tông đường này.
  Vậy Khách thơ của laiquangnam đã thấy rõ tính phản diện rõ ràng trong bài ca thằng Bờm qua hai định nghĩa vừa kể . Nó giúp Khách thơ nhận diện dễ dàng về nhiều sự phản diện. Phản diện về vai vế trong gia đình, phản diện về vai vế trong xã hội, phản diện về sự thành đạt trong cuộc đời, phản diện về nhân cách dưới cái nhìn của người bình dân Việt nam và phản diện về cách gọi tên nhân vật. Thằng và Ông. Bờm và Phú. Thằng Bờm và PhúÔng . Thằng Bờm và thằngBờm ,Phú ông  và PhúÔng.  Bờm mang thuộc tính dành cho đứa con trai chưa trưởng thành còn lất ca lất cất, còn lí lắc, chính vì vậy mà không mấy ai chịu đặt con tên mình là Bờm là vậy . Đừng dùng từ bần để đối với từ phú. Rồi biến thằng Bờm thành thằng Bần như một vài người đã dùng tội nghiệp cho trí tuệ của tiền nhân ta.. Theo tôi, trong bài ca này hai từ thằng và phú trở thành danh từ,  và từ  bờm và từ ông có vẻ như là một tính từ hơn là một danh từ .


Thế nào là Ca dao, Đồng dao, Phong dao?


Laiquangnam xin tạm nhắc nhanh vài định nghĩa và thuộc tính của ba từ này. Ca dao là bài hát ngắn có vần điệu được lưu truyền từ đời này sang đời khác trong dân gian. Đó là các bài ca không có tên tác giả chính xác. Tập hợp các câu ca dao được chia ra làm nhiều tiểu tập hợp. Trong bài ca thằng Bờm ta quan tâm đến hai tiểu tập hợp đáng chú ý. Một là đồng dao, hai là phong dao. Đồng dao là tiểu tập hợp của ca dao. Phần tử của nó là những câu ca dao dành cho đối tượng nhi đồng với lời lẽ hồn nhiên, câu từ không ẩn dụ, khó hiểu. Mục đích của đồng dao là tạo ra sân chơi cho trẻ em ở lứa tuổi nhi đồng. Ngôn ngữ rõ ràng, lời ca có đôi khi  nghịch lý với người lớn nhưng với trẻ thơ, bọn nhóc có thể  chấp nhận được một cách vui vẻ vì chúng không bận tâm suy nghĩ. Mục đích của đồng dao là giúp trẻ học nói, học cách sống tập thể, học cải thiện sự khéo tay ,bài ca rồng rắn , bài ca đánh nẻ được xếp vào nhóm này [ dvct , cau cua dqsi ]   . Phong dao là tiểu tập hợp  khác của ca dao. Các phần tử của nó là các câu ca dao dành cho người lớn, người đã trưởng thành, thế nên ý lời có thể ẩn dụ nhằm bày tỏ ý kiến về cuộc đời, tình cảm với quốc gia hay tình yêu đôi lứa, và các thứ linh tinh khác. Phong dao nếu thích thì Khách thơ chẻ sợi tóc làm tư, từ đó ta có thể chia nhỏ nó ra thành các tập hợp con khác tuỳ ý người phân loại cho nó một định nghĩa. Bài ca dao Thằng Bờm là một bài vừa đồng dao vừa là phong dao tuỳ theo cách hiểu do ngôn ngữ kỳ ảo của Việt ngữ, đó là một đặc sắc mà hiếm có bài ca dao của bất kỳ nước nào có được sự linh hoạt và hàm súc như nó “?”. Mỗi thể văn thể hiện một bài học của tiền nhân ta dành cho lớp người hậu bối. Rất tiếc do vì cơm áo gạo tiền ,vì cuộc sống mà nhiều người trong chúng ta đã đọc một cách hời hợt, có khi còn bôi bác qua cách bình giảng của mình nữa là khác. Đáng buồn, đáng thương hay đáng trách đây?. Bài ca Thằng Bờm một khi đã giải quyết được thể loại là ta đã có thể dùng vài từ đúng nhất trong từng câu chữ, làm mất đi sự tuỳ tiện viết theo cảm tính của một số học giả. [9 ],từ đó, theo tôi, chúng ta mới thống nhất được trong cách bình một ca dao cổ ?


Phần II   – Thằng bờm thời thơ ấu , bài đồng dao thằng Bờm.

Dấu hiệu nào để nhận biết bài ca di sản thằng Bờm lúc này đây là bài ca thuộc thể loại đồng dao?. Nếu ta quan tâm ngay từ câu đầu “Thằng Bờm có cái quạt mo, chìa khoá là từ “có“, có là một động từ chỉ sự sở hữu, làm giàu cho chủ sở hữu. Mới đọc câu này là ta đã thấy chú bé lí lắc rồi, một sự lí lắc vô ưu của thằng bé còn thơm mùi sữa mẹ ,_ “Thằng Bờm có cái quạt mo”. _Cháu có ý định  khoe cái có với ông đây không cháu?. PhúÔng cười nhân hậu .


Nội dung bài đồng dao là cuộc chơi đối đáp giữa người ông và một cháu trai của họ, ngôn ngữ mang tính cách thoại kịch dễ thương. Người ông là người đàn ông đã trưởng thành, người thành đạt trong xã hội,được gọi là PhúÔng. Cậu bé còn đang ở tuổi nhi đồng, tóc cậu còn để chỏm được gọi là Thằng bờm. Gọi thằng thân mật phù hợp với lứa tuổi nhi đồng của nó, tuổi thơ không hề biết giận người lớn qua ngôn ngữ khi mà ai đó gọi chúng là thằng,là Bờm. Với chúng chỉ cần ta cho nó sự thân thiện. Bài ca gồm 5 câu lục bát như sau


1-Thằng Bờm có cái quạt mo,
Phú ông xin đổi ba bò chín trâu.
2-Bờm rằng: Bờm chẳng lấy trâu.
Phú ông xin đổi một xâu cá mè.
3-Bờm rằng: Bờm chẳng lấy mè.
Phú ông xin đổi ba bè gỗ lim.
4-Bờm rằng: Bờm chẳng lấy lim.
Phú ông xin đổi đôi chim đồi mồi.
5-Bờm rằng: Bờm chẳng lấy mồi.
Phú ông xin đổi nắm xôi. Bờm Cười!


  Bạn thấy chăng đó là một bài thơ lục bát hoàn chỉnh?.Gieo vần nghiêm túc, sự nghiêm túc này chỉ thể hiện tại nước ta có lẽ vào cuối thế kỷ thứ 16 chăng? [ dvct , con chua sang to  ]
Đó là thời điểm mà đất nước ta rơi vào vòng xoáy tệ hại khi Mạc đăng Dung tiếm ngôi nhà Lê trung hưng, rồi thời kỳ mà đất Bắc vừa có Vua Lê vừa có Chúa Trịnh. Cả ba họ Lê, Trịnh, Mạc thi nhau phá tanh bành đất Bắc. Đạo đức xã hội đất Bắc xuống cấp trầm trọng. Trong bối cảnh ấy, còn gì hạnh phúc cho bằng khi tuổi gìa được có cháu bé nội hay ngoại để mình được ngồi chơi với nó, tách cháu ra khỏi cái xã hội thối nát kia. Hạnh phúc thay cho gia đình nào có được cái không khí vui tươi như hai ông cháu thằng Bờm trong thời điểm bài ca này xuất hiện.


Bài đồng dao này được viết trong giáo trình bậc tiểu học thời Việt nam Cộng hoà và đã được các cô thầy mang ra giảng bình cho học trò bậc tiểu học học. Trong bài đồng dao này, xin đọc một xâu thay vì ao sâu, đọc đôi chim  thay vì con chim, và đọc nắm xôi  thay vì hòn xôi cho phù hợp với ngữ cảnh đồng dao và cách luận lý nhất quán của tiền nhân ta khi phổ các cụm từ này vào dòng đồng dao. Xin nhắc, tại miền Nam Việt nam không dùng cụm từ hòn xôi bao giờ; nắm xôi, vắt xôi là khẩu ngữ của trong Nam [ [ 10 ] .  Lý do? [ 11 ]    Một xâu cá mè là gì?, một khi các cá mè tươi được xỏ xâu bằng một sợi dây bằng lạt tre dành cho người mua dễ dàng mang xách về nhà để nướng hay chiên. Đôi chim đồi mồi là sự mô tả tác phẩm thủ công hình ảnh đôi chim được chạm cắt bằng vỏ con đồi mồi, một loại rùa biển có ở vùng nước ấm ở nước ta, nó là vật trang trí nội thất,treo chơi cho vui cửa vui nhà. Đôi chim nhằm nói lên tấm lòng nhân bản của người đàn ông, người chủ gia đình, khi mua cho dù đồ chơi đi nữa họ cũng có ý có tứ, chọn mua biểu tượng chim có đôi, hàm ý họ hài lòng với hạnh phúc gia đình đang có .Vợ  chồng bên nhau cho đến lúc lúc đầu bạc răng long. Các từ trên sẽ khi về trả về cho bài phong dao khi nó mang một nội hàm khác. Ở đây, theo laiquangnam, không hề có sự dị bản, tam sao thất bổn như các chú giải trong các sách giáo khoa hiện nay đang phát hành tại đất nước ta hiện nay. Lý do?[ 12 ]
Câu “ Thằng Bờm có cái quạt mo” mang từ CÓ,đó là một từ trọng tâm.Có là một động từ chỉ sự sở hữu. Câu xác định rằng thằng bé đang có trong tay cái quạt mo. “Thằng Bờm có cái quạt mo” _Cháu có ý định  khoe với ông không cháu?. _Ông hả?. Có khi ông nó buộc miệng như vậy,  ông còn có nhiều hơn cháu nữa cháu ơi. Ông cháu họ cùng đùa nghịch với nó bằng trò đổi chác cho qua ngày đọan tháng chẳng mang tâm ý gì. Với người đàn ông có tuổi giữ dùm cháu cho bà nó làm bửa cơm gia đình khi mà cha mẹ chúng không có mặt ở nhà là một việc nên thiện nguyện nên làm, PhúÔng không hề chấp nhất làm chi.  Mọi người đều cần có nhau trong không khí đại đồng giữa ba thế hệ cùng ở chung nhà vào ngày xa xưa ấy.


Người PhúÔng bắt đầu đùa với cháu khi ấy “Thằng Bờm có cái quạt mo,”ông chỉ tay ra ngoài sân và đùa
1-PhúÔng xin đổi  ba bò chín trâu.
-Bờm rằng: Bờm chẳng lấy trâu.


Ông  lại chỉ tay vào một vật trong nhà , lại  đùa


2- PhúÔng xin đổi một xâu cá mè.
và Bờm rằng: Bờm chẳng lấy mè.
Ông lại chỉ tay ra ngoài sân và tiếp tục đùa


3- PhúÔng xin đổi ba bè gỗ lim.
và Bờm rằng: Bờm chẳng lấy lim.


Ông lại chỉ tay vào  một vật trong nhà và  đùa


4- PhúÔng xin đổi đôi chim đồi mồi.
và -Bờm rằng: Bờm chẳng lấy mồi.


Ông không chỉ ra chỉ vào nữa, lần này là vật đã  dấu sẳn trong tay sau lưng ông, lại  đùa
PhúÔng xin đổi nắm xôi.
Bờm Cười!


Khách thơ có thầy hoạt cảnh sinh động thằng bé chạy ra chạy vào. Giá mà thay vì ông mà là  bà nó có khi bà nó đang dỗ dành đút cơm cho cháu bé , có thế thằng bé mới chịu ăn. Câu cuối là một câu thơ đầy kịch tính. Trẻ thấy năm xôi, nhào vô dành lấy và ông cháu kết thúc cuộc chơi. Câu thơ cũng đột ngột xuống giòng.Hân hoan trên khuôn mặt trẻ đó cũng là niềm vui của tuổi già .Cuộc chơi kết thúc


Cảnh sinh hoạt tuỳ theo sự phong phú. tuỳ theo óc tưởng tượng mà Khách thơ đang suy nghĩ về  không gian của câu chuyện kể. Một buổi cơm trưa , một bửa giỗ không chừng. Câu chuyện thêm phần đậm đà không có gì là quan trọng khi tưởng tượng về không gian câu chuyện.


Lâm ngữ Đường là một người Trung hoa,mang tâm hồn nhân bản của người Trung hoa. Trong tác phẩm dịch Sống đẹp, Nguyễn hiến Lê dịch lại của ông, trong đó có đoạn nhắc đến niềm hạnh phúc lớn lao nhất trong đời một người đàn ông người Trung Hoa. Đoạn mô tả niềm hoan hoan của ông này như sau “một buổi sáng đầu xuân,trong vườn hoa mai nở, một ông ông già vén màn nở nụ cười rạng rỡ  khi ông nhìn thấy cô con dâu xoa cái bụng bầu đi trong nắng mai “. Người PhúÔng trong bài ca thằng Bờm này của chúng ta còn hạnh phúc hân hoan gấp trăm lần cái ông già người Trung hoa kia.  PhúÔng của chúng ta còn đùa ,còn ghẹo, còn dạy nó học ăn học nói, trong khi ông ngừoi Hoa kia phải còn chờ. Ngày nay tại xứ người nhiều người đàn ông Việt nam sáng chiều hai buổi chở cháu nội ngoại đến trường giúp cho cha mẹ chúng phần nào trong cuộc mưu sinh vất vả tại xứ người, tranh thủ cùng chơi với nó cũng là một niềm hạnh phúc lớn lao ở cuối đời người ly khách.


Lẽ nào bài đồng dao này đã được gọi là di sản tiền nhân của người Đàng Ngoài mà
trong nội dung  chỉ có thế sao?. Riêng laiquangnam có nhận hai đặc sắc và nhiều thông điệp gởi đến cho chúng ta .


Nét đặc sắc thứ nhất là tất cả đều hồn nhiên và tràn đầy hạnh phúc. Cảnh một già ,một trẻ trong một đại gia đình của PhúÔng, trong khi bối cảnh mà xã hội Đàng Ngoài rách nát như bươm vì chiến tranh, vì xã hội đã đang thời xuống cấp. Sống chết mặc bay. Tại sao PhúÔng lại được như thế nhỉ ?  Bạn có biết  lúc trẻ ông sống như thế nào không? [ 13 ].


Nét đặc sắc thứ hai là tiền nhân ta đã dùng 32 từ đơn thuần nôm, trừ từ phú là từ Việt Hán, từ nguyên từ chữ Hán mà người Việt hiểu ngay không cần tra tự điển như sau;“Thằng,Bờm,có,cái,quạt,mo,Phú,ông,xin,đổi,ba,bò,chín,trâu.,rằng,chẳng,lấy,một,xâu,,cá,mè,ba,bè,gỗ,lim,đôi,chim,đồ, mồi,nắm ,xôi, cười”, Chỉ với 32 từ đơn  mà tạo được một bài ca khôn dại thật là kỳ diệu trong năm câu thơ lục bát với 70 âm.


Ngoài ra còn có 5 thông điệp mà tiền nhân  ta đã gởi đến chúng ta. Rất tiếc là chúng ta đã bỏ qua chúng từ mấy trăm năm nay mà không hề quan tâm học hỏi.


1-Thông điệp thứ nhất ,người lớn khi chơi với con trẻ đang tuổi học ăn học nói, ngôn ngữ cần phải rõ ràng, ngắn gọn, cụ  thể, trực quan để trẻ có ghi nhớ dễ dàng. Các cụm từ nên được lặp đi lặp lại để  trẻ có thể nói thành câu cú, [ dvct ,Bờm rằng: , Phú ông xin đổi … ]   nên dùng các câu vần điệu trầm bổng cho trẻ dễ nhập vào tâm trí. Đó là điều mà tiền nhân ta muốn và họ đã làm thử cho chúng ta một bài ca mẫu mà ta đang đọc. Chỉ có 32 từ đơn trong bài gồm 70 từ ,thể hiện trong 10 câu với năm câu thơ lục bát.


2-Thông điệp thứ hai , người lớn khi chơi với con trẻ đang tuổi học ăn học nói  ,cần ghi nhớ trẻ  như tre  mới mọc cần uốn nắn nhẹ nhàng, lời lẽ cần nghiêm túc.Ta thấy sự đối đáp giữa một già một trẻ, người già thì thể hiện sự khiêm cung, động tác mềm mỏng, “  xin đổi “, trong khi người trẻ dùng chữ “rằng”, có thể là thưa rằng, lời rằng … để đáp ứng.  Trò chơi này tạo mầm cho sự hình thành tư cách  trẻ ngay từ độ tuổi này cho đến lúc bé được 5 tuổi, sau thì khó mà uốn nắn. Thói quen trở thành thuộc tính, thuộc tính trở thành tính cách, tính cách hình thành số phận.  Một lối đào tạo con người của người Đàng Ngoài thật đáng nể và Người Đàng Trong cần học và soi rọi thật kỹ vào phong cách này. Đùa vui nhưng không cá mè một lứa, không ngôn ngữ hồ đồ,đạm nét căm thù , mĩa mai. Mỗi người tự đánh giá phẩm cách của mình qua tư thế xưng hô và lắng xem người khác đối đáp với mình.
3-Thông điệp thứ ba , người lớn khi chơi với con trẻ đang tuổi học ăn học nói, khi  mình có điều kiện thì nên tập trẻ đếm. Đếm từ một tới mười nhằm tạo cho trẻ một sự mạch lạc,cho trẻ một đầu óc có tổ chức , biết thuộc tính thứ tự trước sau.  Bài ca tuy  không cho chúng ta thấy đủ các số đếm 1 ,2 3,4 ,5 ,6 ,7 ,8 ,9 ,10. Lối học nhồi sọ từ chương khi tiền nhân  ta học chữ Hán dùng để  thi cử ,học ra làm quan đã làm thui chột đi tính suy nghĩ độc lập và sự phản biện đẻ thúc đảy xã hội tiến về phía trước.  Trò chơi giữa hai ông cháu có thể không chỉ xảy một lần mà có thể xảy ra  nhiều lần trong tuần, trong tháng  Lần sau, ông cháu họ lại tiếp tục chơi, lần này ông chỉ cần đổi các từ ở các câu  bát, câu tám chữ, tại các vị trí 3,5,7 khi các vần có thể bằng trắc tuỳ nghi thì các con số cũng tuỳ nghi thay đổi, ví dụ
Thằng Bờm có cái quạt mo,
Phú ông xin đổi một bò hai trâu
Bờm rằng  Bờm chẳng lấy trâu
Phú ông xin đổi ba xâu cá mè.
Chơi vài lần trẻ sẽ thuộc và có thể tự hát một mình bài ca này ,không bao lâu trẻ sẽ thuộc vài số đếm và gọi đúng tên vật ,kho tàng tự vựng lên cao trong cháu bé .


4-Thông điệp thứ tư , người lớn khi chơi với con trẻ đang tuổi học ăn học nói , khi chơi với nó họ nên thủ trong tay  cái gì có thể ăn được như bánh kẹo,xôi chè, đồ chơi …., các thứ mà trẻ thích để cù dụ nó chơi với mình. Vật vừa đủ dấu trong lòng tay để  sẳn sau lưng mình, dấu cho đến  phút chót để  tạo sự bất ngờ, vừa vui vừa hợp với tính hiếu động của trẻ. Nắm xôi ông xoè ra như là một bí mật mà trẻ con vừa khám phá ra,giúp cháu không ngán trò chơi cũ rích.Cuộc chơi không thể dài lâu được vì cả hai ông cháu đều có vấn đề  về thể lực


5-Thông điệp thứ năm, Già yêu trẻ, trẻ thương yêu già, thay vì xa cách nhau. Từ những kỷ niệm ấu thơ như thế này, một sự bình an trong tâm hồn trẻ thơ báo hiệu cho một mùa xuân cho đứa trẻ trưởng thành trong sự chững chạc, đó là điều mà cha mẹ trẻ vì vướng bận cuộc mưu sinh không mấy khi để ý . Cha mẹ trẻ nên tạo điều kiện cho ông cháu họ được chơi với nhau. Ông thêm tuổi thọ, trẻ thêm giàu lòng yêu thương, âu đó cũng là một cách báo hiếu công ơn sinh thành với cha mẹ mình. Trẻ  một khi đã có lòng thương yêu trẻ  con , sau này khi trẻ lập gia đình , nó trưởng  thành trở nên  một người đàn ông yêu thương trẻ con, tình cảm nồng ấm sẽ đa phần giúp gia đình mình  một  có bờ vai vũng chắc, sẽ là chổ dựa cho người vợ của họ sau này. Khách thơ có nghĩ như thế không ?


Cuối cùng, laiquangnam đang linh tính rằng trong lòng một trong số Khách thơ đang bật ra sự phản biện : Sự đổi chác này là sự đổi chác có thật bởi người già khi ở tuổi gần đất xa trời, họ luôn có ước muốn giá như mình có được những phút giây hồn nhiên như thằng bé  này, giá như mình đổi được mình sẳn sàng đổi tất cả tài sản đã có để  được có những phút giây hạnh phúc như nó. Từ suy nghĩ đó ,bạn có thể kết án Phú Ông trong bài Thằng Bờm là người tham lam bất nhân ,vì y đã lường gạt trẻ thơ vô tội. Phú ông cố thực hiện ý đồ đổi chác cái hồn nhiên của nó cho mình bằng những lời van xin bỉ ổi, vì sự lặp đi lặp lại một cách trơ trẻn “ xin đổi “ ,cuối cùng là Phú ông  đã cho nó cái nắm xôi  nhỏ xíu.


Tiền nhân ta hẳn cũng đã nghĩ đến tình huống khi ai đó đặt câu hỏi này. Theo tôi tiền nhân ta viết bài này không nghĩ vậy. PhúÔng, một người già hạnh phúc trong thành đạt, một khi PhúÔng đã không làm điều gì trái lương tâm trong suốt cuộc đời họ. PhúÔng hài lòng với những gì mà PhúÔng đã có và đã hưởng.  Thế bạn có biết PhúÔng vào đời bằng cách naò không?.  PhúÔng làm giàu bằng cách nào thì phần hai,trong bài thằng Bờm ở dạng phong dao thì  bạn sẽ rõ hướng vào đời của PhúÔng. Và câu hỏi của Khách thơ kia sẽ trở nên lạc lõng.Tiền nhân ta, người PhúÔng tìm vui trong sự ban phát, san sẻ của cải cho người nghèo,  chia giá trị sống với bọn trẻ, sống cuộc đời thiện nguyện,tạo công ăn việc làm cho xóm giềng. Tôi có cơm thì anh có cháo. PhúÔng,tuổi nay đã già, ông hiểu lẽ tuần hoàn của tạo hoá, Ông có một niềm vui khác với người chưa từng trãi. Lớp thằng Bờm là người chưa bao giờ có được sự hạnh phúc như Ông.  Ông hiểu sự hồn nhiên của trẻ hoàn toàn phụ thuộc vào người nuôi nấng nó nên người,trong đó có phần đóng góp của ông.  Sướng khổ của trẻ hoàn toàn phụ thuộc vào người dưỡng dục nó. Đời sống của nó vui buồn, nó không tự quyết định được. Ta thấy nó hồn nhiên chỉ vì ta nhìn đúng vào phút giây ta thấy, nhưng ngày qua ngày,  thì nổi khổ của nó hoàn toàn lộ diện, trong khi người PhúÔng hiểu lẽ tuần hoàn của trời đất, họ tự thân quyết định được sự buồn vui của mình, thế nên ông đùa với trẻ là ông đang trở về với tuổi thơ của ông đó, lúc ấy ông quên mình già, ông trẻ lại.Niềm vui của ông là sự hỷ xả, là hạnh Bồ Tát trong lòng ông. Ông vui khi thấy mầm sống vươn lên mạnh mẽ theo cách nhận thức về cuộc đời của ông ,một nhân cách người Việt .
Quê người
Laiquangnam


Tham khảo và chú thích
1*Các bài viết về “thằng Bờm“ qua Google search .
2* Đoạn lsu thời Lê mạc, Nhà Mạc,các đời chúa Trịnh, đoạn Trịnh Nguyễn phân tranh và xã hội Đàng Ngoài . Chương 16,Những Vụ Phiến Loạn Dưới Đời Chúa Trịnh. Sử gia Phạm văn Sơn viết .
[ 1]  vấn đề này còn đang tranh cãi ,chưa rõ ràng .
[2  ]   Định nghĩa từ Việt Hán  là từ gần như hoàn toàn việt hoá nói ra ai cũng hiểu ngay , khác vói từ Hán Việt  là từ cần nhờ tự điển cổ văn.xin đừng nhầm giữa tự điển Hán Việt và tự điển Trung Việt   .
[ 3 ]  Thiện Căn , Lại nói về thằng Bờm , tuần báo Khởi Hành,Saigon, năm 1969, Số 4 ,trang 8. Đây là bài tổng kết mà tác giả  đã dày công tổng kết các  bài viết hay bình bài ca dao thằng Bờm  hay nhất do nhiều tác giả thuộc giới trí thức Miền Nam Việt nam viết .Bài viết xuất sắc .
[4  ]   Vũ Ngọc Phan ,Tục ngữ, Ca dao, Dân ca Việt Nam, Nxb KHXH, Hà Nội, 1978
Tác giả  đưa bài Thằng Bờm vào tiểu mục “Những mâu thuẫn trong sinh hoạt giữa nông dân và địa chủ”.
[ 5 ] Khách thơ của laiquangnam vào google search , gỏ cụm từ khoá tbccqm
[ 6 ]  Khách thơ của laiquangnam vào google search gỏ cụm từ khoá thơ chữ Hán của Nguyễn Du.
[7  ]  Người Quảng nam chúng tôi gọi là cái  mỏ ác
[ 8 ] Đặt tên con là một sự hệ trọng .nhìn tần số xuất hiện của các từ Dũng ,Hùng ,Minh, văn ,võ  thì đủ  biết.  người bình dân thì hời hợt hơn trong việc đặt tên con, số người thành đạt có tên tầm thường cũng ít hơn.Hầu như không có ai tên bờm mà nên người cả . Tên chuối ,chúi hầu như vắng bóng  trong cách đặt tên của người Việt   cho con trai .
[ 9 ] laiquangnam tin rằng  theo thời gian thế nào trong kho tàng  tiếng Việt cũng sẽ có các từ học giả , họcgiả , họcgiã, họcdã , họ dả  họcvã , họcvả ,bởi quá nhiều người đỗ tsi do các gsu tsi dõm hướng dẫn luận văn,xin vào link này, Tạp Chí GS Dỏm Việt Nam,Journal of Incompetent Professors in Vietnam – JIPV. http://giaosudom.wordpress.com/category/b%E1%BA%A3o-tang-ti%E1%BA%BFn-si-d%E1%BB%8Fm.
[ 10 ] Hùm nằm cho lợn liếm lông,
Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi.
Nắm xôi nuốt trẻ lên mười;
Con gà, be rượu nuốt người lao-đao.
Nguồn từ Doãn quốc Sĩ .
Câu này là câu đồng dao. Tuy nhiên nếu Khách thơ tài hoa thì cũng có thể lý giải qua hướng phong dao rất  lý thú . Và một ví dụ khác ,câu đồng dao rất hay sau :Con mèo con chó có lông, Bụi tre có mắt nồi đồng có tai. Xuân Diệu cũng không hiểu nên nói tầm bậy.
[ 11 ]   có thể ai đó đã viết sách  ,được in dưới một quyền lực nàò đó , người trích dẫn ngu ngơ  nguồn trích  ,từ đó có tên họ chăng theo cùng câu ca dao cổ ?. Một  kiểu chơi nổi!  .
[12  ] Sự xuống cấp  đáng báo động trong việc dùng sách gíáo khoa,có lá cờ Tàu trên đất nước Việt namhiện nay  là một ví dụ.

[13  ]   Khách thơ sẽ gặp trong phần 2 , Phong dao

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s