Archive | Tháng Sáu 2013

Đỗ Anh Thơ : Chiều ni ( Bài thơ liên tuong lan man viết trước khi về quê giỗ cha 27/5)

 

Chiều ni chuẩn bị ra về
Nghĩ cha mẹ đợi ở quê : Bồi hồi .
Những mong nhà cũ được ngồi
Nhưng đâu còn nữa chõng, nôi thuở nào!
Nhìn ra sau ngõ …cồn cao
Sương  rơi ướt đẫm có bao nấm mồ.
Xiêu xiêu chân bước mập mò
Không gian lẽo đẽo hư vô …con tìm!

Bên sông Rạch Chiếc chiều 25/6/2013
( tức 18/5 AL)

ĐAT

Advertisements

Nguyễn Xuân Thiệu : Thương con kiến gió

Phản hồi bài : Với con kiến gió của Đỗ Anh Thơ

Tội nghiệp lũ kiến chúng mày
Chỗ ngon chẳng chọn,đốt ngay thầy Đồ
Thịt thầy dai lắm lại khô
Mùi thơm chẳng có,mùi thơ toàn gàn
NXT
Posted just now by beqmai.blogspot.com

Đỗ Anh Thơ : Với con kiến gió

 

Bởi chưng tớ không áo gì cả,(*)
Cậu thỉnh thoảng đốt cái sau lưng.
Chọc tức tớ như ai đã từng
Ví tớ là đồ gàn học giả (**),
Thôi tám mươi tuổi rồi sống đã,
Miệng đời nịnh với thậm xưng .
Chuyện đó Đồ này tủi như mừng
Trơ trơ Đồng Mô mồ côi đá.

Đỗ Anh Thơ
21/6/2013
(*) Ý thơ của cháu Quỳnh Mai

(**) : Dùng theo nghĩa: giả ﹐( 假) , thật (chân 真) chứ không phải giả ( 者)

 

 

 

Thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi : Đề tranh chim núi gọi người ( do Nguyễn Chân dịch ra Việt- Pháp–Nga )

 

深 山 寂 寞 鳥 呼 人
畫 裏 看 來 亦 逼 真
閒 掛 午 窗 朝 退 日
夢 回 疑 是 故 園 春

ĐỀ SƠN ĐIỂU HÔ NH N ĐỒ
NGUYỄN TRÃI
Thâm sơn tịch mich điểu hô nhân
Hoạ lí khan lai diệc bức chân
Nhàn quải ngọ song triều thoái nhật
Mộng hồi nghi thị cố viên xuân

: Dịch nghĩa 

CẢM ĐỀ BỨC TRANH “CHIM NÚI GỌI NGƯỜI”
NGUYỄN TRÃI
Trong núi sâu vắng vẻ chim (như) gọi người
Lối vẽ xem ra cũng gần sát sự thật
Nhàn rỗi treo (tranh) ở song cửa sau buổi chầu
Trong giấc mơ về quê nhà tưởng đây là
vườn xuân xưa cũ

ĐỀ TRANH “CHIM NÚI GỌI NGƯỜI”
NGUYỄN TRÃI
Rừng sâu chim núi gọi người
Trông tranh chẳng khác ngoài đời bao nhiêu
Triều về cạnh cửa đem treo
Mộng xuân những tưởng đã theo về nhà.

Rừng sâu chim núi gọi người hoài
Tranh tả thiên nhiên hệt chẳng sai
Bên cửa, tan chầu treo ngắm mãi
Mộng về vườn cũ lúc xuân tươi.

LE LAVIS “L’OISEAU SAUVAGE 
HÈLE LES GENS”
NGUYEN TRAI
Aux profondeurs du bois l’oiseau hèle les gens
Ce lavis est une réplique de la nature
Rentré de la Cour, on le suspend près de l’ouverture
S’assoupi, on croit rentrer chez soi au printemps.

О КАРТИНЕ «ДИКИЕ ПТИЦЫ ЗОВУТ ЛЮДЕЙ »
НГУЕН ЧАЙ 
В глубокой горе птицы зовут людей
Рисунка очень похожа на натуру
Вернув со Двора её около окна вешу
И грежу что нахожусь в домашнем саду.

NGUYỄN CH N 25.10.2008 (ВП 24.05.2012)

 

 

Đỗ Anh Thơ : Lời cu gáy hỏi chích chòe lửa

Ngài mặc chiếc quần ống chẽn đỏ
Vai khoắc áo đuôi tôm tuyền đen .
Xứng danh hiệp sĩ chích chòe lửa,
Kiếm ngài đâu bênh vực Khuyên hèn ?
Ta già , nằm yên là một lẽ
Ngài sao còn trẻ , sức thanh niên.
Hay cám trứng, lồng son, mãn nguyện
Chỉ hót huyên thiên để kiếm tiền !
18/6/2013
ĐAT

PHẠM ĐÌNH HỔ: BÌNH SA LẠC NHẠN- Nguyễn Chân dịch ra Việt Pháp Nga

 

平 沙 落 雁
范 廷 琥
回 雁 峰 邊 雁 陣 斜
含 蘆 帖 帖 落 平 沙
一 聲 漁 笛 經 過 處
沖 破 長 空 篆 碧 霞

BÌNH SA LẠC NHẠN
PHẠM ĐÌNH HỔ
Hồi nhạn phong biên nhạn trận tà
Hàm lô thiếp thiếp lạc bình sa
Nhất thanh ngư địch kinh qua xứ
Xung phá trường không triện bích hà.

Dịch nghĩa :

NHẠN SÀ XUỐNG BÃI CÁT
PHẠM ĐÌNH HỔ
Đàn nhạn bay chếch đỉnh núi Hồi Nhạn
Ngậm bông lau, chăm chăm sà xuống bài cát phẳng
Một tiếng sáo chài vọng qua chốn đó
Vút bay lên tầng không in bóng vào ráng biếc

NHẠN SA BÃI CÁT
PHẠM ĐÌNH HỔ
Đỉnh Hồi Nhạn, nhạn bay ngang
Ngậm lau sà xuống cả đàn ven sông
Sáo chài vẳng tiếng trên không
Vút lên in bóng vào trong ráng chiều.

Đàn nhạn bay ngang Hồi Nhạn đỉnh
Ngậm lau sà xuống bãi ven sông
Sáo chài một tiếng vang trời biếc
Bay vút hình in giữa ráng hồng.

LES SARCELLES S’ÉLANCENT SUR LE LAIS
PHAM DINH HO
Une bande de sarcelles survole Hoi Nhan
Puis s’élancent l’une après l’autre sur le javeau
Un son de la flûte du pêcheur remonte aux cieux
Toutes s’envolent, se profilant dans l’espace bleu.

УТКИ, ОПУСКАЮЩИЕ НА НАНОСЫ
ФАМ ДИНЬ ХО
Летит рядом с верхушкой Хой Нян стая уток
Затем друг за другом на отмель опускаются
Звучит рыбацкая флейта и улетают все
Вписываясь в облаках на закате солнца

Lại Quang Nam : Bài thơ Độ Tang Càn của Giả Đảo

 

賈島
Giả Đảo
(793-865 )

Giả Đảo là nhà thơ Đường, thời kỳ Trung Đường, chơi chữ cực kỳ tinh tế. Ông thuộc trường phái khổ ngâm cùng với Mạnh Giao. Tô Đông Pha gọi họ là “Giao hàn , Giả gầy “ (Mạnh giao lạnh, Giả đảo gầy). Dòng thơ tứ tuyệt vốn là sở trường của Ông. Trong bài laiquangnam giới thiệu dưới đây, bài thơ chỉ có 28 chữ mà ông đã dùng 8 chữ là danh từ riêng, chiếm gần 30% số lượng chữ.
Chưa bao giờ trong lịch sử dân tộc, Đàn Chim Việt phải bay tản mác khắp bốn trời như cuối thế kỷ 20 qua. Tinh cầu ngập niềm thương nhớ cùng nỗi ray rức. Mong hơn 3.000.000 con chim Việt xa xứ lòng ấm lại khi tìm gặp trong ý người xưa tuồng như có ý của mình .
Xin mời các bạn đọc thử bài thứ nhất trong dịp xuân về .

LQN .
*

渡桑乾
Độ Tang Càn

Nguyên tác

客捨並州已十霜,
歸心日夜憶咸昜。
無端更渡桑乾水,
卻望並州是故鄉。

Phiên âm

Độ Tang Càn .

Khách xá Tinh Châu dĩ thập sương
Qui tâm nhật dạ xứ Hàm Dương
Vô đoan cánh độ Tang Càn thuỷ
Khước vọng Tinh Châu thị cố hương
Giả Đảo

Dịch thơ Việt ngữ

Mười năm làm khách Tinh Châu
Hàm Dương ngày nhớ, đêm sầu lệ vương,
Tang càn xuôi ngược Hàm Dương
Tinh Châu ,” à há “, quê hương!. Ngoảnh nhìn.
Lqn

Chú vài từ

1- Tang Càng,Tinh châu, Hàm Dương là các là địa danh, trong đó
Tinh Châu(quê người ), Hàm Dương (là quê mẹ) Tang Càng là bến đò dọc đi về giữa Tinh Châu và Hàm Dương
2- Đoan là nguyên nhân,”vô đoan” 無端 không có nguyên nhân gì, bổng dưng
Cánh là lại thêm, Độ là đi qua

Vô đoan cánh độ Tang Càng thuỷ
Tạm dịch : Bỗng dưng lại qua bến Tang càng

3- Mắt thơ, cách chơi chữ, chọn từ của Giả Đảo
Khách (phản nghĩa với chủ), Qui tâm là một dạ , nhất là ‘Khước vọng”, ngảnh nhìn, ngoái, quay đầu nhìn.

*

Lời bàn này xem như không có với khách thơ, đây chỉ là đôi lời tâm sự cùng thế hệ 7x, 8x, 9x, thế hệ 1,5 Có thể Họ là những người con của người xa xứ.

Địa danh, hai lần nhắc đến là tên quê người, Tinh Châu, nơi đã cho mình nơi cư trú, nơi đã cưu mang mình trong những ngày hàn vi, khốn khổ, một cõi đi về trong suốt mười năm. Mười năm thường là thời gian ước lệ của người xưa. Thời gian đủ cho người học trò dùi mài kinh sử, thành ngữ trong tiếng Việt “mười năm đèn sách ». Thời gian mười năm cũng vừa đủ cho người trụ lại một công ăn việc làm sau khi đã trưởng thành. Mười năm cũng đủ để đánh giá dại khôn tỉ như Đỗ Mục trong bài Khiển hoài :

十年一覺揚州夢
佔得青樓薄倖名

Thập niên nhất giác Dương Châu mộng
Doanh đắc thanh lâu bạc hãnh danh.

Dương châu thập kỷ mộng vùi,
Hãnh danh khách Sở, tiếng cười lầu xanh .

Cao Bá Quát, một đại thi hào của nước Việt cũng đã mất mười năm trong mưu toan tìm bạn đổi dòng lịch sử .

“ Thập tải luân giao cầu cổ kiếm ,
Nhất sinh đê thủ bái mai hoa » , (1)
tạm dịch
Mười năm kết bạn cầu gươm báu,
Một kiếp nghiêng mình bái hoa mai .

Tinh Châu lần gọi đầu, ở câu thứ nhất là cách gọi “bình bình”, trong đó ông chỉ là “khách”, sống và nhìn một cách bàng quan. Tinh Châu, một địa danh như là một tinh cầu xa xôi nào đó, một địa danh chưa rơi vào tiềm thức, chưa thế chỗ cho Hàm Dương quê nhà mà ông một dạ nhung nhớ, vậy mà ở câu cuối thì “ Tinh Châu » lại là từ đậm nét thân thương.

Một chuyển biến khi Ông chạm bến Tang Càng, đúng ra người ly khách phải rất vui, vì ngày trở về với quê hương chỉ là bước chân, ly khách bước xuống đò như thể do một sự đây đưa vô thức, Ngoái nhìn Tinh châu lần cuối giả từ. Đò chuyển bến, phút quyết đinh , ‘về? , hay ở ?, ở ? hay về ? .” . Bối rối, ngập ngừng , “Ngảnh nhìn , “à há ‘ , chợt tỉnh ! Ngộ !

“Khi ta đến chỉ là nơi đất ở , khi ta đi đất đã hóa linh hồn”( Chế Lan Viên ) cũng cùng ý. Còn mình an cư lạc nghiệp ở đây. Nơi đây đã cho ta sự an cư, lạc nghiệp, một chốn đi về, nơi mà mỗi sáng đi bộ , “Hi! Hi!”, Bonjours!, âm thanh đã thành quen thuộc. Quơ tay cười vui, chào thân mật người hàng xóm, ngôn ngữ này cũng đã quen thân, thói quen cũng đã trở thành quán tính, mà “ta đâu có hay!”. Tổ quốc thì có một, nhưng quê nhà cũng chỉ là nơi chứa sự hoài niệm. Bè bạn ta chắc gì đã còn, và cha mẹ thì cũng đã đi xa !.
Ngảnh nhìn , “à há! ‘, từ đây nỗi nhớ quê không còn dai dẳng ám ảnh. Ông đã ngon giấc ngủ kể từ ngày này. Laiquangnam xin chúc mừng Ông !

Quê nhà.

*

Cả ba bản dịch sau đều theo sát nguyên thể thất ngôn tứ tuyệt

01-Bản dịch của người xưa , Bản của cụ Tản Đà

Qua bến Tang Kiềng

Tinh châu đất khách trải mười hè
Hôm sớm Hàm Dương bụng nhớ về
Qua bến Tang Kìền vô tích nữa
Tinh Châu nghoảnh lại đã thành quê

Tản Đà

(Ngày nay số 79, ngày 03-10-1937)

02- Bản dịch của Bùi Khánh Đản —

Qua sông Tang Càn

Quán khách mười năm trải gió sương
Tinh Châu sớm tối nhớ Hàm Dương
Vì đâu lại vượt dòng Tang thủy
Ngoảnh lại Tinh Châu tưởng cố hương.

03- Bản dịch của anh Đặng Tiến,
(nhà biên khảo , người thấm mùi ly khách hơn 40 năm sống tại Pháp)

Lưu lạc Tinh Châu những chục sương,
Ngày đêm canh cánh nhớ Hàm Dương.
Tang Càng một buổi thuyền xa bến,
Ngoảnh lại: Tinh Châu chính cố hương
ĐT dịch

*
Chú thích : Đặng Tiến viết : “dịch tặng LQN, vui chơi.Thân,
DT,09.30 thứ ba. Dzich lai thơ Giả Đảo “.Tháng 12-2008

LAI QUẢNG NAM