Truyện giả tưởng của Nguyễn văn Lân : Đảo Mây

LỜI TỰA CUỐN “ĐẢO MÂY”
Cách nay không lâu, tác giả tình cờ
đọc mẩu tin trên mạng kể lại rằng vào
một ngày của năm 1998, có một tàu
đánh cá bắt gặp một phụ nữ trang
phục thuộc giới quý tộc của đầu thế
kỳ 20. Bà ta xưng tên là Kate và bảo
rằng trước đó mấy ngày bà là nạn
nhân của vụ đám tàu Titanic và may
mắn còn sống trôi giạt đến hòn đảo
này. Không lâu sau đó, một tàu
nghiên cứu hải dương lại phát hiện ở
một hòn đảo khác một người đàn ông
trang phục sĩ quan hải quân tự xưng
là Smith, thuyền trưởng tàu Titanic
vừa bị đắm cách đây mấy hôm.
Người này hoàn toàn trung thực bởi
vì sau đó, người ta đã kiểm tra dấu
vân tay và so đúng dấu vân tay của
ông trong thư tịch lưu trữ.
Vụ đám tàu Titanic nổi tiếng thế giới đã xảy ra vào năm 1912 đó các bạn.
Thế mà hơn tám mươi năm sau, người ta lại tìm thấy hai con người của tàu
Titanic còn sống sót mà theo họ chỉ qua hai ba ngày gì đó thôi thì được cứu ! Có
nghĩa là hai con người này đã trải qua một quãng thời gian khác biệt hẳn với thời
gian mà chúng ta đang sống. Ông cha ta vẫn thường nói một ngày trên thiên
đàng bằng mấy mươi năm trên Trái Đất Vậy hai người này đã lạc vào thiên đàng
chăng ?
Ở nước ta, chuyện xưa kể Từ Thức và Giáng Hương cũng có hoàn cảnh
tương tự. Từ Thức đã được Giáng Hương mời đến đảo Bồng Lai ở chơi mấy
tháng, sau đó Từ Thức về lại quê nhà thì đã “vật đổi sao dời”.
Cuốn sách này nói về một hòn đảo trù phú mà chính Giáng Hương đã mời
Từ Thức đến thăm. Từ Thức bây giờ không còn, đương nhiên, nhưng Giáng
Hương thì vẫn ở đó, trẻ trung, xinh đẹp, sống mãi với thời gian. Hòn đảo ấy có
tên là “Đảo Mây” và tác giả đã ghi lại bao nhiêu biến cố lạ lùng từng xảy ra ở đó
để hầu chuyện bạn đọc.
LỜI KỂ CỦA BẠN TÔI
Tôi có may mắn quen thân với một người bạn làm nghề địa chất hơn tôi
mấy tuổi. Câu chuyện của anh đặc biệt ly kỳ chưa bao giờ xảy ra trên thế giới
này, vì những gì mà anh đã trải qua sau chuyến thám sát thềm lục địa miền
Trung vào khoảng đầu năm 1980. Hiện giờ, đối với cơ quan mà anh công tác, kể
cả đối với chúng ta, anh được coi là người bị mất tích trong thời bình, mất tích
không phải lần đầu mà là lần thứ hai và lần này tôi biết là vĩnh viễn. Nhưng mất
tích không có nghĩa là chết. Tôi biết rất rõ hiện anh đang ở đâu, đang sống trong 2
một thế giới thanh bình hạnh phúc, hoàn toàn không có chém giết chiến tranh
giành giật môi trường sống. Một thế giới không có bất cứ thói hư tật xấu nào, ở
đó con người không hề bị ốm đau bệnh tật, sống trường thọ mà không phải dùng
bất cứ bí quyết gì.
Sau đây là câu chuyện anh kể sau lần mất tích thứ nhất kéo dài
khoảng 20 năm do một trận đắm tàu.
Tôi chợt tỉnh lại và mơ hồ nghe tiếng rì rào của sóng biển rõ dần như
được ai vặn lớn từ từ nút tăng âm của loa. Tôi mở mắt nhưng vì quá chói nên vội
nhắm lại và chợt nhận ra như có bóng dáng một khuôn mặt trẻ con đang chồm
bên trên đầu tôi. Tôi lẩm bẩm khẽ nhưng đủ rõ để đứa bé nghe được :
– Đây là đâu…. ?
Tức khắc, một giọng trẻ con vui vẻ và thanh thoát reo lên :
– Ông ơi, chú ấy nói tiếng mình, chú ấy đã tỉnh lại !
Thế là thoát rồi ! Không rõ các bạn có được may mắn như mình không ? Trí óc
tỉnh táo đã hẳn, nhưng tôi vẫn cảm thấy còn mệt. Tai tôi cảm nhận rất rõ tiếng
bước chân lạo xạo trên cát của nhiều người và rồi có ai đó di mạnh ngón tay lên
huyệt đạo của môi trên ngay bên dưới sống mũi tôi. Tôi tỉnh hẳn và lần này mở
to mắt nhìn mọi người đang vây quanh :
– Tôi… đang ở….đâu đây ?
– A, chú tỉnh hẳn rồi !
Tôi ngồi nhổm dậy và thấy quanh mình, ngoài hai ông cháu còn khoảng mươi
người nữa hầu hết là thanh niên nam nữ. Ông già râu tóc muối tiêu, nét mặt
phương phi, đôi mắt rất nhanh nhẹn, tinh anh. Thanh niên ai nấy đều khoẻ
mạnh, vạm vỡ, còn các cô thì cô nào cũng duyên dáng, đẹp xinh. Mọi người hầu
hết đều mặc những bộ quần áo nâu sồng, may theo kiểu cũ ở các vùng nông
thôn miền Bắc ngày trước. Thanh niên buộc búi tó sau gáy. Phụ nữ tóc buộc
khăn quấn trên đầu, mặc yếm đào, áo nâu, váy đen, rộng và dài đến khuỷu chân.
Còn trẻ con thì đầu cạo trọc để chỏm, con trai một chỏm ở giữa, con gái hai
chỏm hai bên.
Theo lời chỉ bảo của ông cụ, hai thanh niên đến xốc nách và dìu tôi đứng
dậy dẫn về ngôi nhà gần nhất. Những người khác phải giải tán, trở về với công
việc đang làm của mình. Tôi nhìn kỹ ngôi nhà. Không có rào giậu. Nhà tuềnh
toàng hai gian, vách ghép bằng gỗ tấm, mái lợp lá dừa, rất giống những căn nhà
phổ biến của xứ dừa nghèo nước ta.
Lần đi này, đoàn chúng tôi vẻn vẹn có năm người, chưa kể tài công. Kế
hoạch thăm dò tiến hành trên thềm lục địa duyên hải miền Trung. Chiếc tàu nhỏ
thôi, tôi không biết bao nhiêu mã lực. Trong khi đang làm việc vào gần trưa,
chúng tôi nhận được tin từ đất liền là có cơn bão với sức gió cấp mười một xuất
hiện. Chưa kịp xoay trở lui tàu, trời đang sáng sủa bỗng tối sầm, mây đen vần
vũ kèm theo mưa quất rát mặt. Một con sóng khủng khiếp cao bằng tòa nhà
năm tầng bất chợt ào tới chụp gọn con tàu của chúng tôi. Tàu bỗng chốc vỡ tan,
hất văng tất cả mọi người trên boong xuống biển. Tôi ngoi ngóp trong sóng dữ,
sặc sụa vì nước biển ập vào miệng mặn chát và chới với theo bản năng vớ lấy
một tấm ván không biết từ đâu đến đang vật vờ trôi kề bên. Bấu chặt vào nó, tôi
ngất đi và không còn biết gì nữa. 3
Không hiểu làm thế nào mà tôi lại trôi giạt lên mảnh đất này. Người xây
xát, da thịt rớm máu ngay tại những chỗ rách tả tơi của chiếc áo sơ mi trắng mới
mua trước lúc lên đường. May mà tôi mặc chiếc quần gin dày cộp và mang đôi
giày leo núi nên phần cơ thể từ thắt lưng trở xuống không việc gì. Mọi người ở
đây rất ít nói, nhưng qua ánh mắt của họ nhìn tôi, tôi yên tâm vì không có biểu
hiện gì là thù hằn hay cảnh giác. Ông già nhìn ngắm tôi một lúc, bấy giờ mới lên
tiếng :
– Anh nghỉ tạm tại nhà con gái tôi đây để chữa các vết thương và dưỡng
sức rồi sau sẽ tính. Chị Hương – cô gái chủ căn nhà tên là Hương đang đứng
gần đó – ra sau nhà hái nắm lá dấu rịt các vết thương cho anh. Ta về đây. Sẽ
cho người đem đến chai rượu thuốc để giúp anh mau lại sức.
Ông gật đầu chào tôi và bước ra.
– Ông về ạ ! – Tôi chào ông đáp lễ.
Theo cách nói năng của ông và thái độ cung kính của mọi người, tôi đoán
ông có lẽ là người lãnh đạo ở đây. Trời đã về chiều. Tôi phân vân không biết đây
là đâu, đất liền hay hải đảo, có người lạ xâm nhập mà không có cán bộ địa
phương hay công an đến thăm hỏi như lẽ thường tình ở nhà. Khoảng chừng
mười lăm phút sau, Hương từ sau nhà đi lên tay cầm một nắm lá, gọi vọng ra
sân :
– Tích, con mang nắm lá dấu xuống bếp giã giúp mẹ để rịt vết thương cho
chú đây.
– Vâng ! – Cậu bé khoảng sáu tuổi đang chơi lò cò trước sân với các bạn
bước vào nhận nắm lá của mẹ và đi ra sau.
Hương lại gọi vọng ra sân lần nữa bảo một bé gái cỡ chừng năm tuổi :
– Vi, cháu về nhà thưa với bố cho cô mượn một bộ quần áo chưa dùng tới
đem sang cho chú đây mặc tạm. Còn anh, mời theo tôi ra sau nhà. Trong buồng
tắm có sẵn lu nước, anh cởi quần áo giội nước ngọt tắm qua cho sạch rồi tôi bôi
thuốc. Quần áo bẩn để đấy tôi giặt.
Cái gọi là buồng tắm gồm bốn cọc tre cắm ở bốn góc, trên là mái che
bằng lá dừa. Chiếc lu sành to và cao ngang bụng luôn đầy tràn do nước suối
trong veo từ đâu phía sau theo máng đổ vào không ngừng. Cái gáo dừa giắt ở
bên vách. Cởi bỏ quần áo, tôi giội ào mấy gáo lên người. Nước mát lạnh. Nhìn
quanh quất tìm xà phòng nhưng không thấy. Rõ là dân vùng này nghèo hệt như
ở một số vùng nông thôn ta, tắm không cần xà phòng. Sau đó, xúng xính trong
bộ cánh nâu lạ lẫm, tôi đã biến thành một thanh niên nông dân nước Việt cổ
thực sự. Ở phòng trên, tôi thấy bày sẵn cái bát đựng lưng nửa nhúm lá xanh đã
giã nát.
– Anh cởi áo ra, tôi bôi thuốc cho
Cô chủ nhà thân hình cân đối, đẹp một cách tự nhiên, dáng dấp một phụ
nữ thượng lưu bẩm sinh chứ không có nét gì là quê mùa, cặp mắt long lanh ướt,
dịu dàng nhìn tôi. Mặc dù lướt trên mặt tôi, trên người tôi là những ngón tay
mềm mại nhẹ nhàng nhưng không cưỡng lại được cái cảm giác xót buốt, tôi
nhăn mặt.
– Anh gắng chịu. Cháu nó giã lá dấu với muối, xót một tẹo nhưng vết
thương chóng lành. Trước đây nhiều người trôi giạt vào vùng này cũng đều bị
giống như anh, có người trông còn thảm hại hơn. Vượt qua rặng đá ngầm lởm 4
chởm cùng dải san hô rộng lớn, không cơ thể nào tránh khỏi bầm giập. Nào,
xong rồi. Anh mặc áo lại nằm lên chõng nghỉ một lúc – Nói rồi, chị bước xuống
bếp chuẩn bị cơm tối.
Một cái chõng lát bằng thanh tre cật đã lên nước bóng trụ trên bốn chân
vững chãi chôn hẳn xuống nền đất. Cái gối bằng sợi mây đan lên bộ khung hình
hộp chữ nhật đặt ở đầu giường. Tôi ngả lưng, lim dim mắt trong tiếng sóng rì
rào, tiếng chim líu lo rộn rã và mùi thơm tự nhiên, mùi của hoa thoảng trong gió
mà bây giờ, bình tâm lại tôi mới nhận thấy. Tôi chợt nghĩ nếu tổ chức chọn nơi
này làm du lịch sinh thái thì tốt biết mấy. Những năm kháng chiến, dân ta thiếu
thốn đủ thứ, cơm không đủ no cá thịt quý hiếm, nhưng chim chóc nhiều vô kể có
ai nghĩ đến chuyện săn bắt chúng để cải thiện bữa ăn đâu. Thế mà bây giờ,
nước ta đã chuyển sang thời bình no đủ, trong bữa ăn nhiều nhà thịt cá không
thiếu, hà cớ gì mà bao nhiêu chim chóc đều bị bắt sạch, cung cấp cho các nhà
hàng đặc sản, đáp ứng thú vui cho một số người bệnh hoạn ? Hóa ra, những
sinh linh bé nhỏ đó phần nào bị vạ lây trong cuộc chiến tranh của con người, giờ
số còn lại tiếp tục bị tận diệt ngay trong thời bình của con người. Tôi đã từng
sống một thời gian bên cạnh một tiệm bán cà phê giải khát ở thành phố Hồ Chí
Minh. Sáng ra ngủ dậy, tôi đã nghe tiếng hót líu lo của nhiều chú chim và quá đỗi
ngạc nhiên. Nhưng hỏi ra mới biết đó là tiếng hót của những chú chim lồng. Một
số người chơi chim có lệ mang theo lồng chim đến tiệm cà phê buổi sáng, sau
khi điểm tâm xong họ lại mang lồng về.
Tôi chợp mắt dễ cũng được một tiếng, nghe tiếng bát đĩa khua lạch cạch,
ngồi nhổm dậy. Trời đã sụp tối từ khi nào. Trên bàn, một ngọn đèn đất thắp bằng
dầu dừa tỏa sáng. Ngọn lửa lung linh của đèn hoàn toàn không có khói đen sì
như đèn dầu hỏa mà ta thường thấy. Tôi đoan chắc ở vùng này, người dân chưa
từng biết đến xăng dầu là gì.
– Nào, mời anh ngồi vào bàn. Tích, xới cơm ra bát đi con.
Nhà chỉ có hai mẹ con, cộng thêm tôi là ba. Ba người ăn nhưng cái nồi đất
nấu cơm cỡ cho năm người đầy vun. Cơm hạt nhỏ, dài trắng tinh, vừa dẻo vừa
thơm ngào ngạt, đúng là nấu từ gạo tám xoan. Trên chiếc mâm gỗ mộc, chén,
bát, đĩa cùng đều bằng đất nung. Đũa vót từ cật tre. Tất cả chế tác từ vật liệu
thiên nhiên. Bữa ăn gồm những món truyền thống quen thuộc của người Việt
Nam vùng quê : một bát canh rau ngót nấu nấm rạ, một đĩa rau khoai lang luộc
chấm với tương, một đĩa cá kho và một đĩa tôm xào thơm lừng mùi dầu dừa tự
nhiên.
– Mời anh. Con mời chú đi con.
– Mời chú xơi cơm ạ.
– Cám ơn. Mời chị và cháu.
Nhịn đói đã mấy ngày cộng với lạ miệng nên tôi ăn rất ngon. So với bình
thường, tôi đã chén liền một lúc bằng số lượng gấp đôi. Trong khi ăn, tôi vẫn cứ
thắc thỏm không biết đây là nơi nào. Nói giọng Bắc, chắc chắn họ gốc miền Bắc
rồi, nhưng mà là nơi nào trên miền Bắc, đất liền hay hải đảo. Đồ dùng bằng
nhựa hiện tràn ngập cả nước, thành thị, nông thôn, vùng sâu, vùng xa đều có cả,
nhưng đây là nơi nào mà chúng chưa đến được ? Cũng chưa tiện hỏi đời tư của
họ và điều lạ lùng nữa là ông cụ hoàn toàn tin tưởng bố trí cho tôi ở đây, căn
nhà chỉ có hai người một lớn một bé, người mẹ trẻ và giòn kiểu gái một con. 5
Gần cuối bữa cơm, chị chủ nhà rót rượu từ chiếc bầu khô nhỏ cạnh mâm
một ly đưa cho tôi, chất men vàng óng sóng sánh và lên tiếng :
– Mời anh ly rượu giải hàn. Bầu rượu sâm rừng của ông cụ vừa bảo người
đưa sang cho anh uống sau bữa cơm.
– Cảm ơn chị. Ông cụ chu đáo quá
– Ông cụ còn muốn gặp anh sáng mai nói chuyện. Anh biết không, cụ có
vẻ rất quý mến và cảm tình với anh, điều này hiếm khi xảy với những người lạ.
Có thể anh cùng dòng máu Việt như chúng tôi, ngoài ra còn nhiều lý do khác
nữa mà chỉ có cụ nói ra mới biết được. À, mà xin lỗi anh tên gì nhỉ ?
– Tôi tên Nam.
– Nhìn bộ dạng anh, mặt mũi trắng trẻo, chân tay mềm mại, chắc anh
không thuộc dân chài lưới bị đắm thuyền chứ ?
– Vâng, đúng vậy.
– Anh làm nghề gì, ở đâu, sao trôi giạt đến đây ?
– Tôi làm nghề địa chất. Đắm tàu chứ không phải đắm thuyền. Trong khi
thăm dò thềm lục địa, tàu tôi gặp bão lớn, khoảng trưa ngày 15 tháng 5.
Theo phản xạ tự nhiên, tôi đưa tay nhìn đồng hồ. Chiếc đồng hồ vỏ nhựa
chỉ giờ, ngày và thứ trong tuần, mặt có thêm kim nam châm dùng như một la
bàn, thuộc loại chống thấm nước vẫn còn hoạt động. Kim đồng hồ chỉ 6 giờ 20
chiều thứ hai ngày 17. Thế là tôi đã lênh đênh trên biển hơn một ngày trời, trưa
ngày 17 dân ở đây tìm thấy tôi nằm mé bãi. Ấy là nhờ nước thủy triều lên và
sóng đã đẩy tôi lướt trên đỉnh của rừng san hô và rặng đá lởm chởm vào bờ.
Nhìn nét mặt của hai mẹ con khi nghe tôi trả lời, tôi biết chắc là họ không hiểu
được gì nhiều, nhất là cái vật đen nhỏ tôi đeo trên tay vừa đưa lên xem. Nhưng
tôi lờ đi, không phải lúc để giải thích cặn kẽ cho họ hiểu. Tôi cần phải hỏi họ
nhiều hơn.
– Chị Hương này, đây là đâu hở chị ?
– Đảo Mây.
– Đảo Mây ? Sao tôi không thấy nó trên bản đồ ?
Mình là dân địa chất, tôi tự nhủ, khi thăm dò vùng biển này, mình đã có
trong tay một bản đồ khá chi tiết. Nó có tên khác ? Hay nó quá nhỏ không đáng
ghi lên bản đồ ? Hoặc là người ta chưa phát hiện ra nó ? Tất cả đều có thể.
– Anh không biết là phải bởi vì tên đảo là do ông cụ đặt ra. Ngày đầu tiên,
sau khi liều vượt qua lớp mây mù, dân chạy trốn chúng tôi mới nhìn thấy đảo.
Thói thường, mây phải bay lên trời, không hiểu sao ở quanh đảo này mây cứ tụ
lại trên mặt biển dày đặc mênh mông. Bởi thế, ông cụ mới đặt tên đảo theo chữ
Nho là “Vân trung đảo” nghĩa là “Đảo trong mây” hay cứ gọi “Đảo Mây” cho gọn.
Hình như ông trời cố tình giấu kín đảo không muốn cho người đến đây. Không
có một tàu thuyền nào hoặc nhìn thấy hoặc dám mạo hiểm chui vào lớp mây mù
rộng lớn dày đặc này bởi không biết có hiểm nguy nào rình rập ở phía trước.
Cho nên, đã lâu lắm rồi, dân đảo chúng tôi không gặp lại ai nhất là người Việt
mình. Bây giờ mới gặp được một người là anh… Thực ra, anh không phải là
người Việt đầu tiên đến đây từ ngày chúng tôi định cư.
– Người Việt đầu tiên là bố cháu – Tích buột miệng nói chen vào.
– Tích ! Không được hỗn. Bao nhiêu lần mẹ dặn con rồi mà ! – Chị chủ nhà
trừng mắt nhìn thằng bé. 6
Tích xịu mặt :
– Con xin lỗi.
Tôi thấy thương thằng bé và có linh cảm dường như đã xảy ra chuyện gì
ở cái tổ ấm nhỏ bé chỉ có hai mẹ con này. Tôi nói đỡ cho cháu :
– Chị đừng mắng cháu. Trẻ con nơi nào, thời nào chẳng muốn
gia đình có đầy đủ bố mẹ.
– Không phải đâu anh ạ. Chuyện này dài dòng lắm. Để lúc khác tôi kể anh
nghe. Anh chuẩn bị rửa ráy chân tay rồi đi ngủ cho lại sức. Anh nằm trên chõng.
Mẹ con tôi ngủ trong buồng sau. Tích ! Con bê nồi cơm xuống bếp giúp mẹ.
Cô chủ nhà thu gọn bát đĩa lên mâm rồi đi ra nhà sau cùng với đứa con.
Tối hôm ấy, tôi đi nằm sớm. Đảo hoàn toàn yên tĩnh, chỉ nghe tiếng sóng
rì rầm và tiếng lay động lào xào rất đặc trưng của tàu dừa mỗi khi gió thổi, vừa
nhắm mắt là tôi ngủ say ngay không còn biết trời đất, không hề mộng mị.
TRÒ CHUYỆN CÙNG ÔNG QUAN NHÀ HỒ
CÒN SỐNG ĐẾN HÔM NAY
Sáng hôm sau, tôi là người dậy muộn nhất trong số ba người ở căn nhà
đơn sơ này. Trên chiếc bàn gỗ mộc mạc, chủ nhà đã dọn sẵn một rổ sắn nghi
ngút khói. Bên cạnh là một chiếc ấm đất to đựng nước chè xanh mới hãm. Hai
mẹ con biến đi đâu không rõ. Nhà lặng ngắt. Tôi vươn vai tập vài động tác thể
dục và ra phía sau rửa mặt. Một đôi lợn thả rông và đàn gà khoảng mươi con
đang bới đất tìm thức ăn, loại nhỏ bé trông như gà tre trong Nam, thấy người lạ
nháo nhác chạy trốn. Tôi mặc kệ chúng, rửa qua mặt mũi và lên nhà trên ngồi
nhâm nhi bữa sáng. Đi qua gian bếp, vẫn cảnh bình thường của những nhà ở
nông thôn nghèo. Có hai bếp, mỗi bếp ba hòn đá đầu đen bóng vì muội than kê
chụm vào nhau. Quan sát kỹ, tôi hoàn toàn không tìm thấy một mẩu củi hay
nhúm tro nào. Quái lạ, ở đây chủ nhà nấu bằng gì ? Lên nhà trên, một mình tôi
ngồi thưởng thức bữa sáng. Khoai chấm đường thốt nốt ăn cùng với cùi dừa cắt
thành miếng, ngon tuyệt !
Khoảng tám giờ, Hương về.
– Anh ăn sáng rồi chứ ? Có được không ?
– Cảm ơn chị, rất ngon. Tôi chưa bao giờ được ăn khoai kèm dừa chấm
đường thốt nốt vừa ngọt vừa béo như thế này.
– Cây nhà lá vườn ấy mà ! À, mà vừa rồi anh nói đường gì ?
– Đường thốt nốt.
– Đường thốt nốt ? Cái cây giống như cây cọ ấy tên gọi là cây thốt nốt ư ?
– Vâng.
– Thế mà lâu nay dân đảo chúng tôi vẫn gọi cây “cọ đường” đấy, bởi vì nó
khá giống cây cọ mà lại cho đường.
– Ở miền Bắc và miền Trung nước ta không trồng cây thốt nốt. Ở miền
Nam loại cây này được trồng nhiều ở Kiên Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng.
Tôi nêu thắc mắc chuyện bếp núc vừa rồi :
– Chị Hương này, ở đây ta nấu bằng gì mà tôi không thấy củi lửa ?
– À, chúng tôi nấu bằng khí cháy đó anh.
Thấy tôi còn ngạc nhiên, cô chủ nhà giải thích : 7
– Chả là thế này. Chuyện tình cờ thôi. Cách nay hơn tháng, cu Tích nhà tôi
đang nấu nước thấy gà bươi rác ở bên ngoài vung vãi bẩn thỉu bèn ném một que
củi cháy ra xua đuổi. Không ngờ cháu thấy một tia lửa xanh lè phụt cháy ở một
cái lỗ nhỏ cạnh que củi. Cháu chạy vội lên bảo mẹ ra sau mà xem, đất phụt lửa
cháy, con sờ thấy nóng lắm. Tôi báo với cụ và mọi người trên đảo đổ xô đến nhà
tôi xem hiện tượng lạ. Tôi bắc ba hòn đá đun thử nước, không ngờ nước sôi
sùng sục. Sau đó, tôi dời luôn nhà bếp ra chỗ có lỗ cháy để tiện việc đun nấu.
Các nhà khác thấy thế bắt chước cầm que củi cháy rà mảnh đất xung quanh nhà
và cũng tìm thấy các lỗ khí cháy. Thế là từ đó, toàn đảo chỉ dùng khí cháy đun
nấu, không nhà nào còn đi vào rừng lấy củi nữa. Ông cụ tôi bảo, tuy vậy phải đề
phòng hỏa hoạn, nấu xong phải dùng vung chụp lỗ cháy lại.
Tôi bảo :
– Không phải chỉ có hỏa hoạn mà khí này độc lắm đấy. Chị thưa với cụ là
bảo các gia đình rà xem ở trong các gian, các buồng trong nhà có khí rò rỉ
không, nếu có lập tức tưới nước nện đất nền nhà thật kỹ. Ở đất liền có nhiều
người bị chết do khí này khi ở trong phòng kín. Còn như gia đình nào ở nhà sàn
thì không thành vấn đề.
Hương nói tiếp :
– Thế ư ? Tôi sẽ nói lại. Bây giờ anh theo tôi đi gặp ông cụ, cụ đang chờ
anh.
Tôi và Hương ra khỏi nhà, đi dọc theo bờ biển. Bãi cát trắng tinh, sạch
bong như đã được người thường xuyên quét dọn, chăm sóc. Phía trong bờ, san
sát những hàng dừa trĩu quả. Vài người dân đang trèo đẵn thảy xuống gốc
những trái dừa khô. Biển lặn bởi nước thủy triều đang xuống, sóng chỉ gợn lăn
tăn do rặng đá ngầm và bãi san hô trải dài mênh mông. Phía ngoài khơi, vẫn là
lớp mây mù dày đặc.
– Anh thấy lớp mây mù kia không – Hương lên tiếng – Từ ngày dân chúng
tôi đặt chân lần đầu tiên đến đây, chưa khi nào thấy mây mù tan. Đảo diện tích
hàng vạn mẫu, bốn bề đều bị mây mù che phủ. Thời tiết đông xuân, mây mù còn
trùm kín cả đảo, suốt ngày không nhìn thấy ánh mặt trời, suốt đêm cũng chẳng
thấy trăng sao. Lúc đi lại trên đảo, ta có cảm giác như đang đi trên mây. Khi có
gió, mây trên đảo bị thổi bạt đi, tan dần rồi sau đó mọi thứ trong nhà đều bị ướt
nhẹp hết. Nhưng khí hậu ở đây lạ lắm anh, chỉ cần một khắc sau mọi thứ trở
nên khô ráo nhanh chóng như có phép màu.
Tôi gợi chuyện bỏ dở tối hôm qua :
– Chị Hương kể tôi nghe cái câu chuyện mà chị cho là dài dòng ấy đi !
– Chuyện bố cháu Tích ấy ư ? Thật ra, bố mẹ gia đình tôi tự nhận chứ
anh ấy không hề biết mình có con ở đây. Mẹ con tôi chờ anh ấy trong vô vọng,
xem như anh ấy mất tích, không biết còn sống hay đã chết. Cho nên, sau khi
sinh cháu, tôi thưa với bố mẹ đặt tên cho cháu là Tích từ ý nghĩ ông ấy mất tích.
– Nhỡ may mắn anh ấy trở về thì sao ? Chị sẽ đổi lại tên cháu chứ ?
– Không bao giờ đâu, ông cụ đã bảo thế.
Rồi Hương trầm ngâm hỏi lại tôi :
– Ở trong đất liền,…anh có biết ông Từ Thức không ? À mà sao tôi hỏi thế
nhỉ! Ông ấy là một quan nhỏ làm thư lại trong huyện. Có hàng trăm hàng nghìn
ông quan nhỏ trong cả nước rộng lớn, làm sao anh biết được ! 8
– Sao ? Ai chứ ông Từ Thức thì tôi có biết. Bất kỳ già trẻ lớn bé nào là dân
Việt bây giờ đều biết ông Từ Thức.
– Ông ấy nổi tiếng thế sao ? Ông ấy sau này chắc là được thăng quan tiến
chức giữ trọng trách trong triều ?
Tôi phì cười.
– Không phải đâu. Ông Từ Thức là nhân vật trong một tích chèo, một câu
chuyện dân gian đầy thơ mộng.
– Anh bảo sao ?
– Đại loại là câu chuyện bịa ra đưa lên chiếu chèo diễn mua vui đó mà.
– Không ! Không bịa đâu anh. Ông ấy có thực đấy ! Thế người ta kể thế
nào ?
– Ông là một nho sĩ sống ở thế kỷ 18, theo một cô tiên đến Bồng Lai tiên
cảnh non xanh nước biếc, ham chơi quên về. Được nửa năm khi nhớ nhà trở về
thì xóm làng không còn ai thân thuộc. Không còn chút dấu vết gì của ngôi nhà
cũ. Ông gặng hỏi người già nhất trong làng có biết nơi này ai tên Từ Thức
không, cụ già bảo ngay từ thời còn bé ông đã nghe nói làng này có ông Từ
Thức, đang làm quan trên huyện bỗng nhiên bỏ đi đâu mất, nghe đồn là theo
một cô tiên về trời.
Hương trầm ngâm, lẩm bẩm :
– Không lẽ anh Từ Thức này ? Hay có người trùng tên Từ Thức ? Đã có
một ông tên là Từ Thức đến đây !
Câu chuyện chưa ngã ngũ thì hai chúng tôi đã tới trước một cái cổng lớn.
Hương bảo :
– Đến nhà ông cụ rồi đó, anh !
Tôi và Hương bước qua cánh cổng xây bằng đá, mái lợp lá dừa nhưng
thông thống không có cửa, nằm giữa vòng rào bao quanh một khu nhà khá rộng.
Ở đây, cổng có lẽ chỉ để trang trí cho thêm phần tôn nghiêm chứ không có mục
đích bảo vệ chống kẻ gian xâm nhập. Có thể nó còn nói lên vai trò của ông cụ
trên đảo. Bên trong cổng là một cái sân gạch rộng và một căn nhà lớn kiến trúc
hình chữ U hoàn toàn bằng gỗ, mái lợp lá dừa. Ngay từ ngoài sân, Hương nói
vọng vào :
– Bố ơi, con đưa anh ấy đến đó ạ.
– Chào cụ ạ ! – Tôi lên tiếng.
– Không dám. Mời anh vào !
Hình như ông cụ đang chờ từ lâu, quần nâu áo cánh trắng bằng lụa tơ
tằm, vội vàng bước ra cửa đưa tay kéo tôi lên từ bậc tam cấp. Trên bàn, người
nhà đã dọn sẵn một ấm chè bằng đất nung màu gan gà, loại thường dùng cho
những người sành uống chè. Ông trỏ ghế mời tôi ngồi và Hương bắt đầu rót
nước chè ra chén, sau đó cô đi xuống nhà dưới. Mùi chè Thái Nguyên thơm ngát
và đậm đà gợi nhớ cho tôi những ngày sống cùng cơ quan nơi sơ tán tại vùng
trung du miền Bắc. Kể cũng lạ, ở mãi tận hòn đảo xa xôi này, vẫn có người biết
ướp sao chè theo công nghệ Thái Nguyên.
– Anh tên gì nhỉ ? – Ông cụ bắt đầu câu chuyện.
– Thưa, cháu tên Nam ạ.
– Tôi hỏi khí không phải, anh bao nhiêu tuổi, có gia đình chưa, ông bà nhà
anh chị em thế nào ? 9
– Dạ cháu hai nhăm ạ. Cháu chưa lập gia đình. Cháu còn bố mẹ. Hai ông
bà già cháu hiếm muộn, chỉ sinh có mỗi mình cháu.
– Anh cỡ tuổi cháu Hương nhà tôi đó. Anh làm nghề gì và sao bỗng chốc trôi
giạt đến đây ?
– Cháu làm nghề địa chất, tiến sĩ địa chất. Đang cùng đoàn năm người đi trên
tàu thăm dò thềm lục địa. Bão nổi bất ngờ không lui về kịp bị sóng thần chụp làm
chìm tàu. Cháu kịp vớ lấy mảnh ván trôi bên cạnh rồi sau đó không còn biết gì
nữa.
– May cho anh đó ! Lâu nay, không mấy người bị nạn giạt vào đảo này mà
còn sống. Sóng biển đã xô anh vào bờ khi nước thủy triều đang lên, còn bình
thường, anh bị kẹt trong dãy đá ngầm hoặc rặng san hô dày đặc xung quanh
đảo là cái chắc. À, mà anh nói gì nhỉ ? Anh đỗ tiến sĩ kỳ thi đình dưới triều nào ?
Anh chuyên về địa lý xem đất đai mồ mả à ?
Rõ ông cụ này thật cổ lỗ, cứ như người sống ở thời phong kiến.
– Dạ không ạ. Địa chất chứ không phải địa lý. Nghề địa chất tìm hiểu bên
dưới đất có những loại khoáng sản gì, tỷ dụ như có than, có quặng kim loại, có
mạch nước ngầm, có dầu mỏ không, sau đó đánh giá trữ lượng rồi đề nghị Nhà
nước khai thác. Nước Việt Nam hiện nay không còn vua quan phong kiến. Nhà
Nguyễn là triều đại cuối cùng, bắt đầu từ vua Gia Long và kết thúc là vua Bảo
Đại. Suốt 80 năm cùng với triều đại này, người Pháp đô hộ nước ta. Mãi đến
năm 1945, cả nước giành chính quyền, chuyển sang chế độ dân chủ, kháng
chiến chống Pháp 9 năm rồi chống Mỹ 20 năm, bây giờ mới hoàn toàn độc lập.
Ông cụ nghe tôi nói không giấu nổi ngạc nhiên. Tôi phải hỏi lại cụ :
– Thưa cụ, thế cụ cho rằng nước ta đang ở thời đại nào ?
– Ta không rõ nên mới hỏi anh đây. Không giấu gì anh, ta chính là quan tư đồ
(1) nhà Hồ, dưới triều vua Hồ Quý Ly. Vua Hồ soán ngôi nhà Trần nên nhiều
quan lại của nhà Trần không phục, không ai chịu làm việc cho triều nhà Hồ.
Những người hiền tài đều lánh về quê, dạy học ở ẩn. Để có người giỏi ra giúp
nước, ngay từ năm đầu tiên vua đã mở khoa thi chọn người tài, còn trẻ chưa
từng là bề tôi hưởng lộc nhà Trần. Trong kỳ thi đình, ta đỗ tiến sĩ đệ nhất đầu
bảng, được phong Trạng nguyên. Ta vốn là quan văn, am hiểu ngũ kinh tứ thư.
Khi bói quẻ, ta biết nhà Hồ trụ không được lâu do mệnh Trời và cũng còn do
lòng người. Sau khi đoạt ngôi nhà Trần, đáng lẽ phải an sức dân, nhưng nhà vua
chỉ chú tâm đến công việc phòng thủ, bắt dân xây thành đắp lũy, chế tạo thần
công mà không nghĩ rằng lòng người không thuận bởi để dân tình đói khổ. Ta
thấy không ổn nên đã bàn với quan đề đốc (2) thủy sư là bạn chí cốt vừa đồng
hương vừa đồng môn của ta rời bỏ đất nước tìm nơi ẩn thân. Lúc đầu quan đề
đốc bảo làm thế là không trung với vua. Ta phải nói lý là “tam cương ngũ
thường” do người Tàu đề ra chứ không phải của ta.
Nước ta từ thời các vua Hùng cho đến nay quan niệm khác Tàu. Làm
quan là phải trung với nước, hiếu với dân. Vua quan chỉ là nhất thời, dân nước
mới là vạn đại. Vua hiền thì được lòng dân, trị vì được lâu, còn không thì triều
đại khác lên thay là lẽ Trời. Nếu vua không ra gì mà bề tôi cứ một mực trung
thành theo kiểu người Tàu thì sẽ chẳng được gì. Ta còn nói, theo quẻ đã xem số
———
(1) Tư đồ – chức quan to thời xưa có nhiệm vụ khác nhau tùy triều đại,
(2) Đề đốc – chức quan võ chỉ huy quân đội trong một tỉnh thời phong kiến. 10
mệnh của ta và quan đề đốc khá đặc biệt, quá tuổi ba mươi phải bỏ xứ mà đi
chứ không được thờ vua. Thế thì ta theo mệnh vua hay theo mệnh Trời ?
Đến lượt tôi không giấu nổi ngạc nhiên khi nghe ông cụ nói như nói chuyện
cổ tích chứ không phải chuyện hiện tại.
– Xin lỗi cụ, cháu hỏi khí không phải. Lúc bỏ xứ ra đi cụ bao nhiêu tuổi và bây
giờ cụ bao nhiêu tuổi ?
– Lúc đó ta ba hai, còn bây giờ ta đã sang tuổi năm bảy rồi !
Đầu óc tôi bỗng rối tung lên. Hồ Quý Ly đoạt ngôi nhà Trần, làm vua từ năm
1400 cách nay đã là 580 năm. Chỉ 7 năm sau, giặc Minh lật đổ nhà Hồ, xâm
chiếm đất nước. Nếu thời đó ông cụ 32 tuổi bỏ xứ mà đi vào năm 1407 thì bây
giờ cụ phải 612 tuổi rồi, chỉ thua ông Bành Tổ sống đến 800 năm. Thế mà cụ nói
mới đến tuổi 57. Có cái gì ẩn khuất ở đây chăng ? Lẽ nào ông cụ bị bệnh tâm
thần ?
– Hồ Quý Ly là một ông vua thông minh, có nhiều tài năng trong việc kinh
bang nhưng cũng lắm thủ đoạn làm nhiều người không phục. Bình sinh, ông có
hai bạn thân, một quan văn là Phạm Cự Lượng, một quan võ là Nguyễn Đa
Phương. Tuy ông Phương vừa là bạn chí cốt vừa là con thầy dạy võ của mình
nhưng đã bị ông Ly hại chết. Con người này – chỉ ông Hồ Quý Ly – thông minh
tài trí nhưng thiếu lòng nhân nghĩa.
– Thế từ bấy đến nay, cụ có biết tình hình vua quan nhà Hồ và giặc Minh đã
xâm chiếm nước ta kết cục thế nào rồi ?
– Ta có biết một ít khi Từ Thức đến đây.
– Từ Thức ? …
Tôi thực sự không giấu nỗi ngạc nhiên. Chưa kịp hỏi gì thêm thì Hương từ nhà
dưới đi lên, ngắt ngang câu chuyện :
– Bố, anh Nam chưa lại sức chắc anh ấy mệt rồi. Bố cho anh ấy về, mai hai
người tâm sự tiếp.
– Phải đấy, mải câu chuyện, ta quên khuấy đi mất. Anh về nghỉ đi, mai ta lại
tiếp tục. Ta cần hỏi anh nhiều điều lắm đó.
– Dạ chào cụ ạ !
– Không dám.
– Chào bố, con về ạ.
Hương tay xách nách mang lỉnh kỉnh mấy thứ. Tôi đón lấy mang hộ cô cái bầu
khô đựng chất nước gì đó lắc có vẻ đậm đặc. Hương bảo đó là mật ong rừng mẹ
cô cho cùng với giỏ trứng đem về bồi dưỡng anh mau chóng lại sức. Ra khỏi
nhà ông cụ, Hương lại tiếp tuc câu chuyện bỏ dở.
– Cụ tôi bói quẻ giỏi lắm đó, anh. Cụ biết trước khoảng mấy ngày là anh sẽ
đến đây. Cụ nói vui là sẽ có khách quý, người tộc Việt. Cho nên khi nhìn thấy
anh nằm trên bãi biển, không ai ngạc nhiên. Cụ còn bảo anh có duyên nợ với
hòn đảo này.
– Vừa rồi, cụ có nói với tôi cụ là quan triều Hồ Quý Ly đúng không ?
– Đúng.
– A,..thôi được. Chị hãy kể chuyện ông Từ Thức đến đây như thế nào đi.
Hương trầm ngâm một lúc không trả lời ngay mà hỏi ngược lại tôi :
– Thế ở trong nước, ngoài Từ Thức ra, người ta có biết Giáng Hương
không ? 11
– Sao lại không ? Nếu không có Giáng Hương, làm sao có chuyện Từ Thức ?
– Thế người ta đặt chuyện về Giáng Hương như thế nào ?
Tôi kể ra những điều đọc được ở sách :
– Nhân dự lễ hội chùa Thầy thờ sư Từ Đạo Hạnh, Từ Thức bỗng thấy một cô
gái xinh đẹp đang bị người nhà chùa bắt giữ đòi tiền đền mấy nhành hoa trồng
trong vườn bị cô vô ý làm gãy. Cô gái không mang theo tiền lúng túng chưa biết
làm sao thì Từ Thức cởi chiếc áo dài đang mặc đền giúp cô. Để trả ơn cứu giúp,
cô gái – thực chất là cô tiên – mời Từ Thức về nhà chơi, tức là đến Bồng lai nơi
tiên ở. Chừng nửa năm sau, Từ Thức nhớ nhà đòi về. Khi về đến nhà hỏi ra mới
biết mình mất tích đã 70 năm, mọi người thân quen không còn ai. Từ Thức buồn
bã quay lại Bồng lai…
– Anh kể hết chưa ?
– Đại khái là như vậy.
– Tôi chính là Giáng Hương đây, anh có tin không ?
Tôi đột ngột quay ngoắt ra sau nhìn Hương. Qua ánh mắt, tôi không tìm thấy
vẻ gì là đùa cợt ở đây.
– Sao ? Chị là…
– Là nàng Giáng Hương rủ rê Từ Thức đến chốn Bồng Lai. Giáng Hương
chẳng phải là tiên, còn chốn Bồng Lai chính là đảo này đó !
– Chuyện ông Từ Thức cách nay hơn hai trăm năm, còn chị mới tuổi 25 theo
như cụ nói ?
Bây giờ đến lượt cô tiên bàng hoàng.
– Anh Từ Thức mới trở về nhà cách nay sáu năm thôi ! Sao lại có chuyện
trùng người trùng tên cách đây hai trăm năm ?
Và rồi cô tiên bật khóc. Cô nức nở kể :
– Khi sinh cháu Tích, ông cụ bói quẻ nói là cháu không bao giờ gặp được bố,
nghĩa là anh ấy còn gia đình bố mẹ và công việc ở huyện nên không muốn trở lại
đây. Vả lại anh đâu biết là mình có con với Giáng Hương mà trở lại.
– Sao chị không vào đất liền tìm ông ấy ?
– Ông cụ lần này không cho, nói là sẽ gặp rủi nhiều hơn may, vả cái số của
tôi là không được gặp ông ấy lần thứ hai. Bố tôi không muốn cãi mệnh Trời. Tôi
có linh cảm là bố tôi còn điều gì đó không muốn nói ra.
Tôi chợt cảm nhận là có điều dị thường ở đây. Ở hai vùng đất khác nhau mà
hai câu chuyện trùng nhau như một cặp sinh đôi, chỉ có điều trong đất liền là câu
chuyện ảo còn ở đảo này là câu chuyện thực. Tôi tò mò muốn biết câu chuyện
thực mới xảy ra tại đảo cách đây sáu năm như thế nào.
– Chị kể tôi nghe câu chuyện chị đến chùa Thầy gặp ông Từ Thức thế nào đi.
– Vâng.
Sau đây là chuyện kể của Giáng Hương.
CHUYỆN KỂ CỦA GIÁNG HƯƠNG
Tôi được bố mẹ sinh ra trên đảo này. Từ bé, tôi đã từng nghe kể về nước
Việt quê hương xứ sở mà những người lớn ở đây đã vội vàng rời bỏ để tránh
giặc Minh sắp xâm chiếm bờ cõi. Thế giặc mạnh lắm mà lòng dân ly tán nên nhà
Hồ chắc không chống cự nổi. Ở lại nhất định sẽ bị giết hoặc bị bắt sang Tàu. 12
Không rõ bây giờ nước đã có vị vua nào đứng dậy đánh đuổi giặc Minh giành lại
độc lập cho dân mình chưa ? Tôi có hỏi hai cụ tại sao không thử tìm về thăm lại
quê hương, nhưng hai cụ không dám mạo hiểm. Đang sống yên vui bỗng nhiên
rủ nhau về, chẳng may chui đầu vào hang hùm thì sao ? Giặc Tàu đã từng cai trị
nước ta cả nghìn năm, mới hơn mươi năm thôi, chắc gì ta đã giành lại đất nước
thoát ách ngoại xâm. Nhưng tôi có ý nghĩ ngây thơ là nếu bố mẹ không đi thì
mình đi. Trong nước, bố từng làm quan to trong triều mới sợ chứ mình còn trẻ lại
là con gái, sẽ chẳng ai thèm để ý đến mình. Ý nghĩ này nung nấu cho đến khi tôi
tròn 18. Tôi xin phép gia đình, không hiểu sao bố tôi đồng ý ngay mà không chút
đắn đo. Tôi nghĩ thầm trong bụng “Thế là Trời cho phép rồi !”. Cái lệ ở đây, hễ ai
muốn làm gì phải đến thưa cụ trước, nếu cụ không đồng tình thì chớ có dại dột
tự làm theo ý mình. Cụ ngăn là Trời cản đó. Ra đảo còn có quan đề đốc nhưng
là con nhà tướng mà ở cái xứ không quá dăm chục mống sống trong cảnh
thanh bình này nên không có đất dụng võ. Bố tôi là quan văn, am thông kinh
Dịch, bói toán và lại biết nghề y nữa nên là linh hồn, là cuộc sống tinh thần của
toàn đảo.
Ở đảo lúc nào cũng sẵn hai loại bè, làm bằng tre lồ ô. Loại dùng cho dân
đánh cá thì đơn sơ. Còn loại chuyên đưa ra khỏi đảo những khách không mời thì
bền chắc hơn, có mái vòm để trú mưa nắng, có buồm, chèo, sào chống và tùy
theo số phận mà được chu cấp thêm lương thực, nước uống nhiều ít hay không
có.
– Tại sao phân biệt đối xử như vậy ?
– Nêú giạt vào đảo là xác chết thì đương nhiên không có lương thực nước
uống rồi. Dân đảo không dành đất chôn người lạ. Nếu từ biển đến thì phải trở lại
biển thôi. Lương thực nước uống cho người sống nhiều ít bao nhiêu là do cụ
quyết định. Cụ biết rõ khách lạ cần bao nhiêu thời gian để về được đất liền hoặc
gặp thuyền cứu hoặc sẽ làm mồi cho biển cả.
– Những người còn sống có ai xin ở lại đảo không ?
– Nếu ai xin không phải người Việt thì cụ không bao giờ nhận.
Sau khi chữa lành vết thương, cụ cho khách uống thuốc ngủ kéo dài khoảng
một ngày, buộc dây ngang người vào cột buồm và cho người đẩy bè ra khỏi lớp
mây mù.
Như vậy là tôi có sẵn bè chắc chắn. Ở nhà, mẹ và chị dâu chuẩn bị lương
thực, nước uống đầy đủ là tôi lên đường một mình. Bác đề đốc cho tôi mượn
chiếc la bàn và dặn cứ lái bè về hướng Tây thì thế nào cũng đến đất liền.
Lâu nay, sống trong khung cảnh bị vây quanh bởi vành đai mây mù hạn chế
tầm nhìn, bây giờ một mình một bè bé nhỏ giữa biển nước mênh mông không
thấy đâu là bờ, tôi cảm thấy mình thật nhỏ nhoi và cô đơn lạ lùng còn hơn cả
chiếc lá lìa cành rơi xuống trôi nhanh giữa dòng suối trong trên đảo.
Lênh đênh trên biển mất một ngày một đêm, sáng tinh mơ hôm sau đến đất
liền. Tôi tìm một ghềnh đá kín đáo buộc giấu bè rồi lên bờ. Từ bé lớn lên chỉ biết
có đảo, bây giờ lên đất liền, nhìn cái gì cũng thấy lạ lẫm. Hôm ấy đúng ngày hội
chùa Thầy. Dân ở đấy hình như nghỉ làm, đua nhau đi trẩy hội rất đông vui. Có
điều làm tôi yên tâm là ai cũng nói tiếng Việt và cách ăn mặc của tôi không có gì
khác với các cô gái vùng này. Bởi vậy, tôi hòa mình vào đám đông và dòng
người trẩy hội dễ dàng. Gần trưa bụng hơi đói. Tôi chú ý đến một bà cụ đang 13
ngồi trên đòn gánh giữa hai cái thúng to. Hỏi bà làm gì, bà bảo bán bánh đúc. À,
món này rất quen đối với tôi. Ở nhà, tôi và dân đảo thường được ăn trong dịp lễ,
Tết. Bà hỏi tôi :
– Cháu lấy một đĩa nhé ?
– Vâng ạ. Nhưng…
Tôi chợt nhớ mẹ và chị dâu dặn ở đất liền, không ai cho ăn không, mà phải
trả tiền. Nhưng tiền là gì, tôi chưa nhìn thấy bao giờ. Tôi đành phải thú thực :
– Cháu không có tiền, bà ạ.
Bà già lom lom nhìn tôi. Tôi không đoán được bà đang nghĩ gì. Bỗng bà bảo :
– Chuỗi hạt cháu đeo ở cổ là của cháu đấy à ?
– Vâng ạ.
– Thế mà cháu bảo không có tiền !
– Cháu nói thật đấy.
– Thế tiền đâu cháu mua chuỗi hạt kia ?
Tôi sợ nhất điều mà bà già nghi vấn : ăn cắp. Cái từ này, mỗi lần nhắc lại
mọi thói hư tật xấu của quê hương đất tổ khi xưa nhưng ở đảo không bao giờ
có, bố mẹ tôi đều nhắc tới. Tôi tìm kế chuồn cho nhanh :
– Bố mẹ cháu cho đấy ạ. Thế cháu ăn xong, trả bà chuỗi hạt này nhé ?
– Mô Phật ! Nhà giàu nào có con cái khờ vậy ? Cháu cứ bứt trả lão một hạt
thôi, cháu muốn ăn bao nhiêu đĩa cũng được.
Tôi đón từ tay bà một đĩa bánh nhìn rất ngon mắt và cũng quá nhiều. Tôi
lượng sức, dùng đũa gạt bớt mấy miếng vào thúng rồi ăn vội cho xong. Đoạn tôi
tháo dây chuỗi ra khỏi cổ, bứt ra hai hạt đặt vào lòng bàn tay bà lão.
Bà sững người ngạc nhiên :
– Kìa cháu…
Nhưng tôi đã lẩn nhanh, không nghe được những tiếng sau của bà. Thế là
tôi biết giá trị ở đất liền của những viên ngọc trai này rồi. Không tiền nhưng dùng
được ngọc trai thay thế. Mà xem ra, bà lão còn có vẻ thích lấy ngọc trai hơn tiền.
Để khỏi bỡ ngỡ trong những tình huống lạ lẫm, tôi nảy ra ý nghĩ phải tìm bạn
đường. Nhìn phía trước thấy có một cô gái ăn mặc diêm dúa rõ ra con nhà giàu
đi một mình, tôi dấn nhanh lên, gạ :
– Này bạn, mình không đủ tiền để đi tới hội chùa nhưng mình có ngọc trai,
bạn giúp mình chứ ?
Cô gái trông cũng xinh, tướng người phúc hậu, nhỏ hơn tôi một vài tuổi gì
đó, nhìn tôi có vẻ thăm dò một lúc, sau đó gật đầu đồng ý. Vừa đi vừa chuyện
trò, tôi mới biết cô bạn con nhà làm đồ trang sức giàu có trong vùng. Đúng là
mình gặp may. Từ đó chúng tôi như hình với bóng, cùng đi, cùng nghỉ, cùng ăn
vặt dọc đường, cùng dâng hương, lâm râm khấn vái và rút thẻ xem số, tất thảy
cô bạn đều trả tiền. Khi nhận thấy người nhận thẻ đoán số trố mắt nhìn tôi với vẻ
sững sốt, tôi vội kéo tay cô bạn lủi nhanh chứ không dám ở lại nghe phán. Vì vội
vàng, tôi đã ngã vào vườn hoa làm đổ gãy mấy cây bông thược dược rất đẹp.
Tức thì không rõ từ đâu, một chú tiểu xông tới níu áo tôi đòi bắt đền. Bạn tôi nói
đền bao nhiêu tiền chú tiểu ấy cũng không chịu, chỉ đòi lột áo tôi thôi. Trời ạ, con
gái bị lột áo thì còn ra thể thống gì ! Tiền có đó, nhưng ở chùa ai bán áo con gái
mà mua. Có một anh dáng vẻ nho nhã thư sinh đứng gần đấy biết được câu
chuyện, bèn cởi chiếc áo dài đang mặc đưa cho chú tiểu. Nhìn người đàn ông 14
cởi áo, chú tiểu hơi ngần ngừ, dáng vẻ sợ sệt, miễn cưỡng chìa tay nhận áo.
Chúng tôi cảm ơn ân nhân, rồi lẩn nhanh ra cổng. Bạn tôi bảo tu hành còn ghẹo
gái, ngữ ấy chết đi quỷ sứ có bắt xuống âm phủ, Phật cũng chẳng cứu.
Tôi và cô bạn cùng sát cánh bên nhau trên đường về. Khi đến ngả rẽ chia
tay, biết từ giờ về sau không còn cần đến nữa, tôi đưa cả chuỗi ngọc trai cho
bạn :
– Mình cảm ơn bạn nhiều lắm. Số ngọc trai cho chuyến đi hôm nay thế này
đủ chưa ?
Cô bạn quá biết giá trị của ngọc nên thật thà trả lời :
– Đâu nhiều đến thế ! Vài viên cũng đủ.
Tôi khoát tay :
– Được rồi bạn cứ lấy cả đi ! Mình biếu thêm bạn làm kỷ niệm !
Thật tình, qua chuyện này tôi muốn lẩn đi càng nhanh càng tốt. Tôi sợ một
điều tệ hại là người ta nghi ngờ chuyện tôi có nhiều ngọc trai và truy tìm tông
tích. Trong lúc vội vàng, tôi xô mạnh vào một ai đó làm người ấy liểng xiểng suýt
ngã. Ngước nhìn, hóa ra là ân nhân của mình trên chùa. Vừa sững sờ vừa thẹn
thùng, tôi lúng túng nói lời xin lỗi. Anh bảo không hề gì, hỏi tôi sao lại vướng
chuyện lôi thôi. Tôi nói tôi làm gãy mấy bông hoa nhà chùa, bạn tôi đền tiền
nhưng chú tiểu khăng khăng không nhận, bảo người nào làm người ấy phải đền.
Chú đòi lột áo tôi đang mặc kìa. Anh ấy cười ngất :
– Cô lại bị bắt nọn rồi !
Tôi nói :
– Rất cảm ơn anh. May có anh mà tôi thoát nạn.
Anh hỏi :
– Cô người đâu tới ? Trẩy hội chùa bao nhiêu lần rồi ?
Tôi trả lời :
– Đây là lần đầu. Tôi sống ở ngoài đảo, đi bè tới đây. Anh có rỗi không, xin
mời đến chơi.
Muốn giấu tông tích lại mời người lạ ra đảo, thật là điên. Buột mồm nói ra,
hối không kịp nữa. Chỉ mong người ta từ chối. Nhưng ngược lại điều tôi mong
đợi, anh ấy cảm ơn và nhận lời. Tôi cố cản :
– Đi biển gian nan lắm đó !
– Không sao ! – Anh đáp tỉnh bơ.
Tôi nghi ngờ anh đang có tâm sự gì đây. Chịu đi theo một cô gái chưa hề
quen. Thôi được, chắc là ông Trời định như thế, nếu không ông cụ đã dặn trước
mình. Tôi dẫn anh ra chỗ giấu bè trong cảnh nhập nhoạng tối. Chiếc bè vẫn còn
đấy. Tôi chỉ cho anh thấy :
– Ta đi ra đảo bằng chiếc bè này. Phải hơn một ngày đêm mới tới đảo.
Tôi lội xuống nước, anh bì bõm lò dò theo sau. Tôi dựng cột, căng buồm rồi
ra sau giữ tay lái. Gió đêm thổi mạnh nên bè lao băng băng ra khơi. Tôi nhờ anh
mồi lửa thắp cây đèn gió và canh la bàn cho tôi lái bè trực chỉ hướng Đông. Trời
đêm mịt mù không thấy trăng sao. Nước biển dập dình đen như mực tàu. Bè cứ
thế mà lướt gió. Lâu lắm không nghe anh nói năng gì. Tôi phá vỡ bầu không khí
e dè ban đầu :
– Trong khoang có đủ thức ăn nước uống. Tối rồi, anh lấy bánh chưng bánh
dầy ra đây ta cùng ăn. 15
Bên ánh đèn, anh hí hoáy mở lạt bóc lá bánh chưng đưa cho tôi một chiếc.
Để tiện lúc đi đường, mẹ và chị dâu tôi chỉ gói bánh chưng cỡ nhỏ bóc lá ra là ăn
ngay khỏi phải cắt. Tôi tò mò hỏi :
– Anh làm nghề gì ?
– Thư lại ở huyện.
– Quý danh ?
– Từ Thức.
– Còn tôi tên Giáng Hương
– Giáng Hương ? Cái tên đẹp làm sao ! Như một bài thơ. Mà cô cũng đẹp
người rất xứng với cái tên. Cụ nhà khéo đặt đó.
– Anh quá khen. Ở đảo, tôi chưa bao giờ được ai khen đẹp, con gái cỡ như
tôi nhiều lắm.
– Trong đất liền huyện tôi, cô thuộc hạng nhất nhì đó.
– Ở nhà, cụ tôi vẫn thường bảo đẹp người không bằng tốt nết.
– Cụ nói chí lý. Sống với nhau, tốt nết mới được lâu bền. Nhưng tốt nết mà
cả đẹp người nữa thì càng hay chứ sao ! À mà này, theo cách đặt tên cho con,
theo lối răn dạy người nhà, tôi đoán cụ không phải dân chài lưới ?
– Anh nói đúng ! Cụ tôi từng làm quan trong triều.
– Hóa ra, cô là con quan cơ đấy. Cũng khá khen cho cô chiêu con quan. Một
mình thân gái dặm trường dám xông pha biển cả mà không sợ gì sao ?
– Nhưng anh cũng thế đấy thôi !
– Lúc đầu tôi nghĩ đảo chỉ gần đây, đi giỏi lắm một canh giờ là cùng. Không
ngờ lúc sắp lên bè, cô mới bảo khoảng hơn ngày giời. Thú thật, lúc đó tôi… cũng
thấy chờn, nhưng sau lòng tự ái bảo tôi lẽ nào mình thua kém nữ nhi, thế là liều
cùng cô một phen.
Tôi cười ngất :
– À ra thế ! Lúc mới lên bè, nhìn anh dáng vẻ trầm ngâm không nói, tôi không
hiểu anh đang nghĩ gì. Té ra quân tử đang vấn lương tâm mình xem có còn
xứng danh quân tử nữa không đấy.
Anh cũng cười :
– Được rồi, tôi chịu thua cô. Lên bờ đừng có mà đặt điều nói xấu tôi đấy nhá !
– Rành rành ra đấy mà bảo đặt điều. Nhưng tôi không có tâm địa tiểu nhân
đâu, anh khỏi lo.
Một lúc sau, anh hỏi :
– Nhà cô Giáng Hương có mấy người ?
– Bố, mẹ, ông anh cả đã lập gia đình riêng, một con. Bà chị hai ốm chết trong
khi chạy nạn. Tôi là con gái út.
– Nhìn cảnh này, tôi cứ tự hỏi làm sao mà một quan ông dám đánh cược số
mạng cô gái rượu của mình với Hải vương ?
– Anh không biết đấy thôi, bố tôi rất giỏi tướng số. Ông đã nói gì thì sự việc
cứ thế xảy đến, không chệch đi đâu một ly một lai. Ông bảo số tôi hơi đặc biệt so
với mấy cô gái trên đảo. Nhưng ông không nói rõ. Ông đã cho phép đi là cứ yên
tâm đi. Lúc chiều, nhỡ lời mời anh ra đảo, sau hối lại không kịp. Anh đã nhận
nhời, mình lại thoái thác thì đâu còn là… quân tử, à không, đâu còn là gái đứng
đắn. Tôi sợ bố trách mắng, nhưng sau nghiền ngẫm tôi có quyền cãi lại bố vì sao 16
biết chuyện sắp xảy đến mà không dặn con trước. Vậy đương nhiên anh được
bố tôi cho phép ra thăm đảo rồi đó !
Chúng tôi chuyện trò quên cả buồn ngủ. Tôi hướng dẫn anh cách cầm lái và
dõi theo la bàn để cho anh chỉnh hướng. Chỉ lúc sau là anh thành thạo ngay.
Cuối cùng rồi cũng qua đêm. Sáng tinh mơ, trời trong veo không một áng
mây. Nhìn thấy rõ một đường cong tuyệt mỹ ngăn đôi giữa trời và biển. Ngay
chính trước mặt, vùng trời bắt đầu ửng hồng và không lâu sau, một quả cầu lửa
như đã đẫy giấc một đêm dưới đáy biển từ từ nhô lên. Mặt trời sau đó lên cao
chừng con sào là tỏa sáng rực rỡ chói mắt, không thể nhìn thẳng. Cảnh này đối
với tôi rất lạ, từ bé đến giờ mới thấy, bởi vì ở đảo quanh năm mây mù trấn giữ
chân trời. Ở đây, chỉ có trời và biển. Vòm trời trong xanh điểm mấy áng mây
trắng hững hờ trôi. Mặt biển mênh mông lượn sóng nhấp nhô. Buồm no gió kéo
bè của chúng tôi rẽ sóng lao nhanh về phía trước. Đôi lúc có những đàn cá heo
rượt đuổi và vượt lên trước bè chúng tôi, vừa phóng ào ào trên sóng vừa kêu rin
rít như thể chào hỏi bạn đường. Khi mặt trời hạ xuống về phía Tây cách đường
chân trời khoảng con sào, chúng tôi nhìn thấy đám mây mù trước mặt. Khi bè đã
vào bên trong, tôi hạ buồm vì không còn có gió nữa. Hai người ra sức chèo và
theo la bàn chỉnh bè đúng hướng Đông. Không khí ẩm và lạnh nên không thấy
mệt. Phải hơn một canh thì bè ra khỏi mây mù và đảo đã lộ rõ phía trước. May
gặp lúc thủy triều đang lên nên vừa bơi vừa chống, không mấy lúc bè cặp bãi.
Thấy bè của tôi, có mấy người đứng đợi và không khỏi ngạc nhiên nhìn người
đàn ông lạ theo tôi lên bờ.
Tôi đưa anh Thức vào nhà thì chạm mặt ngay bố tôi trước tiên.
– Chào bố, con về đây ạ.
Bố không nhìn tôi mà chỉ chú tâm nhìn qua vai tôi, ánh mắt thản nhiên không
tỏ thái độ gì có thể gọi là đáng sợ.
– Chào bác ạ. Chị Giáng Hương có nhã ý đưa cháu ra thăm bác, thăm đảo.
– Mời anh ngồi.
Chị dâu tôi hốt hoảng lôi tuột tôi xuống ngay nhà dưới.
– Sao em dại thế ?
– Ranh con – Mẹ tôi đã nhìn thấy chuyện xảy ra ở nhà trên, mắng té tát – Chị
không còn muốn sống nữa hả mà đem của lạ về đây ?
– Mẹ thứ lỗi, con nhỡ dại miệng mời anh ấy. Nhưng bố biết trước nên đã
không dặn con.
– Không dặn thì chớ mời mọc, sao chị lại làm ?
Tôi phân bua :
– Thật tình con chả hiểu ra làm sao nữa. Con trẩy hội chùa gặp nạn, anh ấy
cứu. Đáng lẽ con cảm ơn anh ấy là xong nhưng con buột mồm mời anh ấy về
nhà chơi, không ngờ anh ấy đồng ý ngay. Con đâu dám nói lại mình mời là mời
lơi mời đùa, sợ anh ấy đánh giá con là gái lăng nhăng không đứng đắn.
Chị dâu tôi đem nước lên mời khách, xong xuống bếp chuẩn bị ăn sáng. Tôi
cũng ghé mắt nhìn trộm lên nhà trên, thấy hai người trò chuyện với nhau có vẻ
tâm đầu ý hợp, tôi thở phào nhẹ nhõm. Xuống nhà bếp, chị dâu gặng hỏi :
– Sao em về sớm vậy ?
– Em sợ chết khiếp ! Từ bé em chỉ biết có đảo, chưa bao giờ đặt chân lên đất
liền, hoàn toàn lạ cảnh lạ người. Đi xa mà không một chinh lận lưng. Ăn bánh 17
đúc không tiền trả, bà lão gợi ý trả hạt ngọc trai em đeo ở cổ. Bà còn nghi em ăn
cắp, nhưng nói trớ là em con nhà giàu mà khờ khạo. May có một cô gái tốt bụng
chịu trả mọi chi phí bằng tiền cho em, sau em trả nợ cô ấy bằng ngọc trai. Ở
đất liền, người ta quý ngọc trai lắm chị ạ. Khi đến chùa, em nhỡ giẫm gãy mấy
cây hoa, có chú tiểu cứ khăng khăng đòi em cởi áo đền. Bạn em đền tiền không
chịu. May nhờ có anh kia cởi áo dài đang mặc đền giúp em. Anh tên Thức họ
Từ.
– Em đã đi bao nhiêu lâu mà lắm chuyện xảy ra thế ?
– Em lênh đênh trên biển một ngày một đêm, sáng sớm đến đất liền đi chơi
cả ngày, chiều ra bè dong thẳng hướng Đông, lại một ngày một đêm nữa mới về
đến nhà.
– Thế mà chị tưởng… à không. Chị không hiểu sao em về chóng vậy.
– Thế chị bảo em đã đi bao lâu.
– Khoảng hai canh giờ thôi !
– Thật lạ lùng !
Bây giờ hai chị em không hẹn mà cùng có ý nghĩ rằng bố tôi cũng đã biết
chuyện lạ này. Trên nhà, nghe thêm có tiếng người thứ ba. Đó là bác đề đốc mà
bố tôi cho người đi mời sang ngay. Mãi sau này bố tôi mới thổ lộ cho cả nhà biết
hồi xưa trong đất liền trước khi chạy nạn, bố tôi xem quẻ thấy gia đình hai nhà
sẽ ra đi đến một xứ sở rất đặc biệt, cách ly hẳn đất nước. Bây giờ mọi người
mới vỡ lẽ, cách ly đặc biệt không phải chỉ có nơi chốn mà còn cả thời gian nữa.
Ở đảo, thời gian trôi rất chậm, còn ở đất liền thời gian trôi vùn vụt nhưng người
của cả hai nơi đều không cảm nhận được.
Hai cụ thay nhau hỏi chuyện anh Từ Thức. Điều lo lắng nhất là đất nước có
còn bị giặc Minh xâm chiếm nữa không. Nếu không thì ai lãnh đạo dân chúng
đứng lên đánh đuổi. Bây giờ là triều đại nào. Đời sống dân chúng ra sao.
Hai cụ muốn biết tình hình đất nước trong thời gian từ ngày rời bỏ quê
hương lánh giặc. Năm Ất Dậu (1405), nhà Minh bắt đầu xâm lấn vùng phía Bắc
nước ta. Đến tháng Chạp năm Bính Tuất (1406), quân Minh đánh úp quân nhà
Hồ ở bãi Mộc Hoàn và thừa thắng xông thẳng vào chiếm đất Long Đỗ (tức Đông
Đô, kinh đô cũ nhà Trần). Đêm mồng Năm Tết năm Đinh Hợi (1407), cả gia đình
hai ông quan nhà Hồ cùng gia nô lên thuyền giong buồm chạy trốn.
Anh Từ Thức kể :
– Tháng Tư năm Đinh Hợi, quân Minh đánh vào Lỗi Giang (Thanh Hoa) và
cửa biển Điển Canh, tấn công ồ ạt quân nhà Hồ. Tháng Năm năm Đinh Hợi, Hồ
Quý Ly bị bắt ngay tại Tây Đô. Mấy ngày sau đó, đến lượt Hồ Nguyên Trừng
cùng cha con Hồ Hán Thương nối tiếp bị giặc bắt tại đất Kỳ La, Hà Tĩnh. Sau khi
thôn tính bờ cõi, giặc Minh đưa cha con Hồ Quý Ly cùng một số đại thần nhà Hồ
không chạy thoát, về Tàu cầm tù. Thế là nước ta bị nhà Minh chiếm giữ cho đến
năm Đinh Mùi (1427). Ròng rã hai mươi năm trời, dân ta lầm than đói khổ không
kể xiết.
Tháng Giêng năm Mậu Tuất (1418), mười một năm sau khi nhà Hồ bị thất
thủ, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, xưng Bình Định vương. Những trận
đánh lớn vào năm Giáp Thìn (1424) trận Trà Long, năm Ất Tỵ (1425) trận Bồ Ải
và trận cuối cùng quyết định vận mệnh của đất nước là vào năm Đinh Mùi
(1427). Sau chiến thắng Tốt Động, thành Đông Quan bị quân ta bao vây. Liễu 18
Thăng đem năm vạn quân sang tiếp cứu. Lê Lợi kéo quân từ Thanh ra, không
đánh thẳng vào Đông Quan mà ra sức đánh quân tiếp viện. Chi Lăng, Xương
Giang là hai chiến trường quyết định. Ở đây không thành quách, chỉ có đồi núi,
đồng bằng nhưng quân ta đã tiêu diệt toàn bộ số quân này, chỉ có một mống
chạy thoát. Vì đó, tổng binh Vương Thông ở Đông Quan phải hạ khí giới xin
hàng, được Lê Lợi cấp lương thực, phương tiện vận chuyển kéo quân về, đến
nước rồi còn ngực đập chân run.
Nghe Từ Thức nói đến đây, hai ông quan cũ nhà Hồ đập bàn khoái chí, sai
người nhà đem rượu ra gọi là khao quân, tuy rằng ở đây không có ai là quân của
Lê Lợi. Mặc cảm về sự trốn chạy và nỗi đau mất nước canh cánh bên lòng bỗng
nhiên lúc này được giải tỏa, lương tâm trở nên hoàn toàn thanh thản ở hai ông
công dân nhà Hồ. Ba người bắt chặt tay nhau và cùng cụng ly như những bạn
cố tri. Có lẽ vì đại sự đã thành ngoài mong đợi mà quan tư đồ từ đó trở đi xem
Từ Thức như là khách quý, không phải loại không mời mà đến.
– Như thế là nước ta thoát ách cai trị của nhà Minh từ đó – Từ Thức tiếp –
Phò vua Lê, có công lớn nhất là nhà chiến lược xuất sắc Nguyễn Trãi, lưu danh
với bài “Bình Ngô đại cáo” mà bất kỳ nhà Nho nào đời sau cũng đều thuộc lòng.
Nói rồi, Từ Thức đọc liền một mạch, giọng ngân nga đầy diễn cảm toàn bộ
bài Bình Ngô đại cáo. Hai ông quan nhà Hồ vừa nghe vừa gật gù. Họ thích nhất
là mấy câu mở đầu của bài :
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.
Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.
Núi sông bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác.
Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần, bao đời xây nền độc lập,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên, mỗi bên hùng cứ một phương.
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,
Song hào kiệt đời nào cũng có.
Lại hai câu ở giữa bài :
Lấy đại nghĩa mà thắng hung tàn ;
Lấy chí nhân mà thay cường bạo.
và các câu cuối :
Càn khôn đã bĩ mà lại thái.
Trời trăng đã mờ mà lại trong.
Để mở nền thái bình muôn thuở.
Để rửa nỗi sỉ nhục ngàn thu.
– Nguyễn Trãi chính là con của Nguyễn Phi Khanh đỗ Thái học sinh (tức Tiến
sĩ) vốn là đại thần nhà Hồ cùng bị bắt với cha con Hồ Quý Ly sang Tàu, còn bản
thân bị giam lỏng ở Đông Quan. Nguyễn Trãi đỗ Thái học sinh năm 20 tuổi tức là
năm Canh Thìn (1400), chắc là cùng khoa thi với bác ?
– Đúng, Nguyễn Trãi là người thông minh tài trí, giỏi cả văn lẫn võ. Tuy đỗ đạt
cao nhưng giữ chức quan nhỏ. Lúc đó, Nguyễn Phi Khanh là chánh chủ khảo
khoa thi đầu tiên của triều nhà Hồ. 19
– Khi nhà Minh bắt vua và các đại thần sang Tàu, Nguyễn Phi Khanh cũng có
trong số đó. Nguyễn Trãi đi theo tiễn cha đến quan ải, được cha dặn mệnh con
là người tài đức, sẽ tìm được minh chúa và có công lao rất lớn với đất nước
nhưng rồi số con lận đận tai ương sẽ ập tới, con khó lòng tránh khỏi. Cha biết
chỉ chừng ấy nên dặn con hãy đề phòng. Nguyễn Trãi bị giam lỏng ở Đông Quan
(tức Đông Đô, sau này nhà Lê đổi tên là Đông Kinh) nên dễ dàng trốn vào Lam
Sơn. Nguyễn Trãi dâng lên Lê Lợi Bình Ngô sách nêu rõ chiến lược quân sự
dựa vào dân để đánh giặc Minh. Sau này, Nguyễn Trãi còn nổi tiếng lưu danh
hậu thế với các tác phẩm khi viết bằng chữ Nho, khi viết bằng chữ Nôm, như
Bình Ngô đại cáo, Quân trung từ mệnh tập, Quốc âm thi tập.
Năm sau, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế lấy danh hiệu là Lê Thái Tổ, trị vì đất
nước từ năm Mậu Thân (1428) cho đến năm Quý Sửu (1433). Nghe theo lời
cha, Nguyễn Trãi sớm treo ấn từ quan sau khi công thành, danh toại. Vua Lê
Thái Tổ băng hà truyền ngôi cho Lê Thái Tông. Vị vua này trị vì đến năm Nhâm
Tuất (1442) thì bị cảm trong khi du ngoạn và băng hà đột ngột. Triều thần vu cho
Nguyễn Thị Lộ, vợ lẽ của Nguyễn Trãi bấy giờ đang giữ chức Lễ nghi học sĩ đi
theo hầu vua và đầu độc vua. Thế là Nguyễn Trãi bị triều đình khép tội tru di tam
tộc. Đó là vụ án Lệ Chi viên nổi tiếng thảm khốc thời bấy giờ. Mãi hơn hai mươi
năm sau, đời vua Lê Thánh Tông, triều nhà Lê mới minh oan cho Nguyễn Trãi.
Văn học nước nhà cực thịnh vào thời ông vua này. Vua đam mê thi phú, lập nên
thi đàn Nhị thập bát tú gồm hai mười tám vị đại thần cùng với vua (hai mươi tám
ngôi sao) thường xuyên gặp mặt làm thơ ngâm vịnh. Các vua Lê truyền ngôi cho
nhau đến đời Lê Cung Hoàng năm Đinh Hợi (1527) thì Mạc Đăng Dung cướp
ngôi lập nên nhà Mạc. Tuy lúc đầu không được lòng dân, các sĩ phu phản ứng
gay gắt, nhưng trong sáu mươi lăm năm trị vì của nhà Mạc, chính sử nhà Lê
phải thừa nhận “Khoảng bấy nhiêu năm, đường sá không nhặt của rơi, cổng
ngoài không đóng, thường được mùa to, trong cõi tạm yên”. Mạc Đăng Dung
vốn là cháu bảy đời của Mạc Đĩnh Chi, dưới triều nhà Lê ứng thí đỗ Đệ nhất đô
lực sĩ, được vua gả công chúa. Sau đó, thăng chức Thái sư và được phong tước
vương.
Khi nhà Minh có ý xâm lăng nước ta một lần nữa, cảm thấy không cậy được
vào quân thần, nhà Mạc có ý định đầu hàng nhà Minh để giữ ngôi. Vì vậy mà
chúa Trịnh lúc bấy giờ giương cao cờ phù Lê diệt Mạc, kêu gọi dân chúng đứng
lên một lần nữa chống giặc Minh ngoại xâm. Từ người dân cùng khổ cho đến
quan lại lớn nhỏ, vì lòng yêu nước nên ai cũng hưởng ứng. Do vậy, việc chiếm
kinh đô, đánh đuổi vua Mạc không mấy khó khăn. Nhà Minh thấy thế mạnh của
dân mình từ bỏ ý định sang giúp nhà Mạc. Từ năm Quý Tỵ (1533) tức là năm Lê
Trang Tông lên ngôi, thực quyền do chúa Trịnh Kiểm thao túng. Đến năm Mậu
Ngọ (1558) dưới triều Lê Anh Tông, chúa Nguyễn Hoàng sợ Trịnh Kiểm trừ khử
đã xin vua vào trấn thủ Thanh Hóa từ đèo Ngang trở vào, mặc nhiên chiếm giữ
hẳn cả vùng phía Nam tính từ sông Gianh. Kể từ năm Đinh Mão (1627) dưới
triều Lê Thần Tông, cho đến năm Nhâm Tý (1672) dưới triều Lê Gia Tông, liên
tục xảy ra xung đột vũ trang giữa hai chúa. Đất nước đang bị chia cắt tại sông
Gianh…
Từ Thức sinh năm Canh Thìn (1700) dưới triều vua Lê Hy Tông, khi cùng với
Giáng Hương ra đảo là năm Canh Tý (1720) tức là ở tuổi 20 dưới triều vua Lê 20
Dụ Tông năm thứ 15. Theo lời mời của hai cụ, anh Thức đồng ý ở lại đảo chơi
một thời gian. Cùng với Giáng Hương ngao du sơn thủy. Anh khá rành chữ
Nôm. Anh bảo từ đời Lý đã có chữ Nôm nhưng đến đời nhà Trần, ông Hàn
Thuyên sử dụng chữ Nôm rất nhuần nhuyễn. Chữ Nôm là chữ của người Việt
mình, dân chúng trong nước hưởng ứng nhiệt tình. Viết ra đọc lên là hiểu ngay,
không phải dịch nghĩa lôi thôi.
Anh thấy đấy, dân đảo không nhiều lắm. Cái ăn cái mặc không phải lo nên cụ
tôi chủ trương toàn dân đảo phải học. Có biết chữ nghĩa của thánh hiền thì mới
biết sống theo đạo lý, cụ tôi bảo thế. Lúc đầu học chữ Nho, chương trình gồm có
tứ thư tức bốn bộ sách Nho giáo là Đại học, Trung dung, Luận ngữ và Mạnh Tử ;
ngũ kinh là kinh Thi, kinh Thư, kinh Lễ, kinh Nhạc và kinh Xuân Thu do Khổng
Tử đề xướng. Sau chữ Nho phải học thêm chữ Nôm bởi mình là dân Việt. Thật
tình học chữ Nôm không dễ đâu anh. Giả dụ ta nói nhất, nhì chữ Nho dịch ra là
một, hai cầm bút gạch ngang một nét, hai nét là xong, còn chữ Nôm mà viết một
( ), hai ( ) như thế này – Giáng Hương lấy que vẽ lên cát, anh có thấy nhiều
nét lôi thôi không. Bởi vậy, trẻ con lúc đầu vẫn cứ học chữ Nho, sau một năm có
vốn liếng ít nhiều mới cho chúng học song song chữ Nho với chữ Nôm, dịch
nghĩa chữ Nho bằng chữ Nôm.
Cứ vào độ cuối năm trước Tết mươi ngày, cụ tôi cho mở khoa thi. Cũng mở
ba kỳ thi lần lượt như ở đất liền. Lúc đầu là thi hương, ai đỗ nhận danh hiệu tú
tài và được dự tiếp kỳ thi hội. Ai đỗ kỳ thi hội nhận danh hiệu cử nhân. Kỳ thi thứ
ba là thi đình, chỉ các cử nhân mới được thi và ai đỗ thì nhận danh hiệu tiến sĩ.
Không đỗ kỳ này thì kỳ sau phải thi lại. Nhưng đỗ đạt để đó cho vui chứ không
có triều đình để ra làm quan. Bố tôi giao trách nhiệm cho người học giỏi đỗ đạt
phải làm thầy dạy lại người khác và đám con nít. Hằng ngày trẻ con trên đảo đều
phải đi học. Tôi cũng học, cũng đỗ đạt anh có tin không ? Đôi lúc dân đảo gọi tôi
là nghè Hương do tôi đỗ được tiến sĩ.
Bác đề đốc thấy bố tôi quán xuyến nhiều việc, buồn tình nghĩ mình cũng là
quan trong triều như ông ấy chẳng nhẽ ngồi chơi không. Thế là ông ngỏ ý muốn
dạy võ cho dân đảo. Thấy bố tôi ngần ngừ, ông bảo anh coi chừng đấy, một
ngày nào đó hải tặc xông vào chiếm đảo, liệu mọi người chống cự không nổi
đành chịu chết sao.
Bố tôi xem quẻ, trả lời bác là đảo này không ai có thể chiếm được, Trời cho
chúng ta rồi. Bác đề đốc không chịu thua bảo bố tôi ông cha ta xưa có câu “Ý
dân là ý Trời”, nghĩa là một số dân – ở đây là hải tặc – dám làm trái ý Trời, hậu
quả bị Trời phạt đâu chưa thấy, đã thấy dân đảo ta thiệt thòi. Bố tôi thấy có lý
đành chịu nhường. Vả lại học thêm võ, người khoẻ thêm, đâu có hại gì. Thế là
từ đó, nghĩa là cách nay khoảng chục năm, toàn dân trên đảo đều phải học cả
võ nữa. Ai chứ bọn con nít thì rất khoái học võ. Cũng có tổ chức cho mọi người
đấu võ hằng năm, ai giỏi nhất thì giữ chức trạng võ, làm thầy luyện võ cho dân
đảo.
Anh biết không, lúc tôi vào đất liền trẩy hội chùa, may mà không có ai sàm
sỡ với tôi. Nếu có, tôi quật ngã hắn ta ngay. Với chú tiểu, tôi tính tặng hắn một
chiêu, còn đang ngần ngừ vì có đông người quá thì anh Thức kịp đến gỡ rối.
Anh Thức ở đảo chừng chín mười ngày gì đó chứ không phải nửa năm như
dân đất liền nói, không ngăn được nỗi nhớ nhà, nên xin về. Bố tôi biết ý không 21
giữ, đưa tặng anh mấy nén vàng lận lưng hồi cả nhà bỏ xứ ra đi và một túi ngọc
trai nói sẽ có lúc cần đến. Còn nói là mấy ngày đêm anh về, trời quang mây
tạnh, ban ngày nhìn mặt trời, ban đêm nhìn sao Bắc đẩu định hướng Tây giong
buồm mà đi, thế nào cũng tới được nhà. Từ đó, anh Thức bặt tăm chim cá,
không rõ anh có mua thuyền quay trở lại đảo không. Đã sáu năm rồi, quãng thời
gian này đối với đảo chẳng là bao, nhưng ở đất liền, chắc gì anh còn sống !
Tôi khẳng định với Hương hai khả năng, một là nếu Từ Thức còn ở đất liền
thì chết bệnh chết già rồi, hai là nếu có quay ra đảo tìm lại Bồng Lai tiên cảnh thì
không bị đắm thuyền cũng trôi giạt mất tích nơi đâu, nếu sống sót tại đấy rồi
cũng đã chết già chết bệnh. Hương nói có lẽ vì thế mà ông cụ bảo số anh Từ
Thức không có duyên lần thứ hai với đảo.
ĐI THĂM ĐẢO
Chiều hôm đó, Hương đưa tôi ra thăm bãi phía Đông của đảo. Ngược với
cảnh im ắng ở bờ Tây, nơi đây sôi động hơn. Nhiều người đang ngồi bè chăm
sóc một vùng biển rộng chừng hai hecta hoàn toàn trống trải không có san hô và
đá ngầm, trò chuyện gọi nhau í ới. Hương bảo ngày xưa nơi đây từ bờ trở ra
vẫn có bãi san hô và đá ngầm như mọi nơi nhưng ngay từ những ngày đầu lên
đảo, cụ đã cho thanh niên trai tráng lặn ngụp hì hục mấy tháng liền đục phá, dọn
sạch san hô đá ngầm cho đến tận đáy để tiện việc bắt cá. Những khi nước thủy
triều xuống, nơi này chỉ sâu ngang bụng người lớn. Muốn bắt cá phải dùng đăng.
Đăng là đồ nghề làm bằng nhiều thanh tre dài cỡ gấp đôi chiều cao người lớn.
Dùng dây mây tước nhỏ buộc liền các thanh tre cạnh nhau, nếu quây lại giáp
vòng chu vi của nó bao bọc c? một vùng rộng cỡ một sào (khoảng 490 mét
vuông). Chỉ cần hai người kéo hai đầu đăng tạo một vòng kín, sau đó từ từ thu
nhỏ vòng lại, cá sẽ bị gom đen đặc ở giữa, tha hồ mà vợt, mà nơm thậm chí có
thể bắt bằng tay không. Vì dân đảo không quá dăm chục nên chỉ cần một lần
quây đăng cũng đủ cá cho cả đảo ăn trong vài ngày.
– Có xẻ cá phơi khô không ?
– Cũng có dành một ít xẻ phơi khô, nhưng chỉ là để cánh đàn ông nướng ăn
chơi, làm mồi nhắm rượu những khi nhàn rỗi. Ngoài ra, cá khô nướng còn là
thực phẩm chu cấp cho những bè khách lạ bị đẩy ra khỏi đảo.
Trên bãi Đông, cũng những hàng cây loài cọ cao vút bạt ngàn. Nhìn kỹ, hóa
ra không phải dừa mà là cây thốt nốt.
– Ở bờ này của đảo, không hiểu sao chỉ có cây cọ đường, à cây thốt nốt như
anh nói. Khi buồng của nó trỗ bông, dân đảo cắt ngang dùng ống lồ ô hứng lấy
nước. Nước hứng khá ngọt, vả cũng chóng lên men. Dùng một ít làm rượu, còn
chủ yếu nấu cô đặc thành đường. Biết lấy nước của cây này làm rượu, làm
đường là chuyện tình cờ thôi. Cách nay khoảng năm năm, có một người đàn ông
tuổi trung niên bị đắm thuyền giạt vào đảo được cứu sống. Hỏi mấy câu, ông này
trả lời bằng cái thứ tiếng gì lạ hoắc không ai hiểu. Bọn tôi thử dùng ngón tay viết
lên cát mấy chữ Nho “Ông là ai ? Từ đâu đến ?”. Ông lộ vẻ mừng rỡ vội vàng
viết trả lời ông là người Tàu làm ăn sinh sống mấy đời ở Xiêm La. Thế là sau đó,
dân đảo hoàn toàn bút đàm với ông ấy. Anh biết rồi đấy, dân đảo già trẻ lớn bé
ai cũng biết chữ Nho mà. Anh có biết chữ Nho, chữ Nôm không? 22
Tôi lắc đầu. Hương tỏ ra ngạc nhiên.
– Thế anh học chữ gì ?
– Quốc ngữ hiện giờ viết kiểu chữ La tinh, đọc ngay ra tiếng Việt như chữ
Nôm.
Tôi dùng ngón tay viết lên cát hai chữ “Hương, Nam” và chỉ :
– Đây là chữ Hương, còn kia là chữ Nam, tên tôi.
– Chữ viết lằng ngoằng quá thể ! Học có dễ không ?
– Học dễ và nhanh hơn học chữ Nôm rất nhiều. Chữ Nho, bây giờ trong
nước người ta gọi là chữ Hán, và chữ Nôm khi học phải nhớ mặt chữ, thuộc chữ
nào biết chữ ấy. Còn chữ Việt hiện nay nhờ ghép vần nên học rất dễ, trẻ con
thuộc cách đánh vần thì đọc được bất cứ chữ nào thành tiếng. Trong nước hiện
nay, mọi người dân chỉ học mỗi loại chữ này. Nếu dân đảo bút đàm với người
Việt chính gốc trong nước hiện nay bằng chữ Nho hoặc chữ Nôm, sẽ ít có
người hiểu.
– Thế chữ của người xưa viết để lại ở các đình chùa, văn miếu không học
chữ Nho, chữ Nôm làm thế nào hiểu được ?
– Thì đành chịu thua ! Hiện nay chỉ một số ít người học hai loại chữ này. Chỉ
vì nghề nghiệp thôi ! Có một học giả phát biểu rằng hiện tại số người Việt trong
nước kể cả ở nước ngoài đọc và viết thành thạo chữ Nôm khoảng chừng một
trăm. Trong tiếng Việt đang dùng hiện nay, người ta thống kê có đến 70% từ gốc
Hán-Việt. Vì không được học chữ Hán nên nhiều người nói sai, viết sai tiếng
Việt, tình trạng này rất phổ biến. Ví dụ đáng lẽ viết “nữ văn sĩ”, “nữ giáo viên”,
bây giờ có người viết ngược ngạo là “nữ nhà văn”, “nữ nhà giáo”. Xưa ta nói
“anh thư” thì ngày nay người ta nói “nữ anh hùng”. “Hùng” đã có nghĩa làm nam,
là giống đực…
Hương cười ngặt nghẹo :
– Trời ạ, thế thì có khác gì nói “nữ gà trống” để chỉ “gà mái”, “nữ đàn ông” thì
ra “đàn bà”. Tôi bảo đảm dân đảo ở đây không ai nói sai như thế.
– Hiện nay, trong chương trình giáo dục phổ thông ở đất liền không hề có
môn học chữ Hán, chữ Nôm mà chỉ có tiếng Anh. Rồi đây, không biết sẽ có bao
nhiêu thế hệ con cháu ta nói tiếng nước ngoài giỏi nhưng tiếng mẹ đẻ thì không
rành, chữ viết của người xưa để lại không biết đọc, văn hóa dân tộc truyền thống
chỉ hiểu lơ mơ. Nhân một chuyến đến tham quan các di tích cổ, khi hướng dẫn
viên du lịch ấp úng không đọc được các hoành phi câu đối để giải nghĩa, có
người nước ngoài nói vui rằng người Việt Nam “mù chữ” ngay trên đất nước
mình.
Tôi còn nói thêm :
– Trong nước hiện có bán cuốn “Tam thiên tự” do Ngô Thì Nhậm, một quan
văn thời vua Quang Trung Nguyễn Huệ biên soạn từ thế kỷ 18, dành cho người
mới học vỡ lòng chữ Hán, giải nghĩa chữ Nôm có vần điệu dễ thuộc, người đời
sau in kèm chữ Việt La tinh, nhưng chỉ để cho vui chứ không được đưa vào dạy
ở các nhà trường chính khóa. Không biết đến bao giờ ngành giáo dục đất liền
mới có kế hoạch đưa chữ Hán, chữ Nôm vào chương trình xóa mù chữ cho toàn
dân đây ! – Tôi thở dài than.
– Thế ư ? Giá như ở đảo có cuốn sách Tam thiên tự để dạy cho các cháu thì
hay quá ! 23
Rồi Hương tiếp tục câu chuyện bỏ dở :
– Lại nói về cái ông người Tàu ấy, khi tôi đưa ông đi thăm thú quanh đảo, ông
đã chỉ hàng thốt nốt nơi đây và hỏi dân đảo biết dùng nó làm gì ? Tôi trả lời loại
cây cọ này rất lạ, bẹ và lá thì gai góc, lúc có buồng thì chỉ sinh ra quả bé tẹo, của
đáng tội, nếu bổ ra bóc lấy nhân ăn cùng mật ong, trẻ con rất khoái. Ngoài ra,
bọn này còn bứt lá phơi khô để viết chữ lên đó thay giấy.
Ông cười, viết lên cát, bảo :
– Không phải cọ mà là thốt nốt, cắt ngang buồng lấy nước vừa làm rượu
uống rất đậm đà, vừa làm đường ăn rất ngọt và béo đậm. Lúc bấy giờ, ông viết
mấy chữ tên cây thốt nốt nhưng tôi không đọc ra chữ gì. Đem về hỏi cụ, cụ cũng
chịu bởi vì từ khi cha sinh mẹ đẻ đến nay, cụ đã bao giờ biết cây thốt nốt là gì.
Bởi vậy từ đó, dân đảo gọi nó là cây cọ đường. Rồi ông chỉ vẽ dân đảo cách cắt
buồng thốt nốt lấy nước làm rượu, làm đường. Tuy ông có công với đảo nhưng
rồi cũng để ông ấy ra đi. Tôi có thử ướm hỏi, ông lắc đầu bảo phải tìm cách về
nhà thôi bởi vì còn vợ và bầy con, phải lo cái ăn cho chúng. Vả lại đảo có gì hấp
dẫn để ông ở lại mà đành từ bỏ vợ con ?
– Thế trước đó, ở đảo nấu đường bằng gì ? Có trồng mía không ?
– Ở đảo không có mía. Đây là một trong những điều mà ông cụ rất ân hận khi
chạy trốn ra đảo. Tuy chuẩn bị rất cẩn thận nhưng không ai nghĩ đến cây mía.
Thật ra, trong tình huống cấp bách lúc đó, ai mà lường trước được hết mọi thứ ?
Về lương thực, hai cụ cho đem theo các hạt giống như lúa tẻ, lúa nếp, đậu xanh,
đậu nành, đậu đen, lạc, vừng, ngô; về củ quả thì có khoai lang, mướp, bí và một
ít hạt rau thơm. Bà cụ tôi còn nhớ mang theo một ít hạt bông, hom dâu, trứng
tằm, củ nâu. Cái gì dính đến nghề canh cửi thì các bà không thể quên được.
– Lợn gà thì sao ?
– Đi trốn mà mang theo lợn gà đâu được ! Không đủ chỗ. Vả lại chúng kêu la
inh ỏi thì đâu còn bí mật. May mắn là trên đảo, dân bản địa tuy không có người
nhưng lại có thú hoang như lợn lòi, gà rừng, hươu nai, sơn dương. Đặc biệt
không có thú dữ. Chim chóc thì nhiều vô kể. Chim và thú hoang rất dạn dĩ thậm
chí còn tỏ ra thân thiện với mình nếu thường xuyên cho chúng ăn những thứ
mang theo từ đất liền và vuốt ve âu yếm chúng. Đáp lại, ông cụ cấm mọi người
không được giết thịt chim muông, mà ăn cá là chính. Hãn hữu mấy ngày giỗ,
ngày Tết được phép giết lợn, dê, gà nhưng phải làm rất kín đáo, bắt chúng vào
ban đêm và đánh thuốc mê cho chúng không đau khi cắt tiết. Chúng tôi gọi là có
“nuôi” gà lấy trứng, nuôi dê vắt sữa, nuôi nai cắt nhung nhưng chủ yếu ở dạng
thả rông, có cho chúng ăn thêm. Về thực vật bản địa như anh thấy đấy, có sẵn
dừa, thốt nốt, ngoài ra còn có chuối, sắn. Măng tre và củ mài thì nhiều vô kể.
Hương đưa tôi đi vòng sang phía Nam đảo. Cảnh quan ở đây khác hẳn bờ
Đông, bờ Tây. Không có dừa, thốt nốt mà chỉ là những quả đồi nhấp nhô, chân
chạm ngay mép biển với bãi đá sỏi chạy dài. Nhưng trên các quả đồi ấy, hoa dại
bạt ngàn khoe đủ màu sắc và hương thơm. Hương bảo khi Từ Thức đặt chân
lên đây, ông đã ngây ngất thốt lên “ Thật đây chính là Bồng Lai tiên cảnh. Giáng
Hương là nàng tiên, còn anh là người trần đang lạc bước đến cõi tiên”. Hương
đã cười bảo anh quả mộng mơ, Hương đâu biết biến hóa bay lượn trên mây,
Hương cũng chỉ người trần mắt thịt như anh thôi. Xen lẫn với hoa cỏ có cả đủ
loại dược thảo, cụ và cả nhà Hương hay lên đây hái về làm thuốc. Thuốc sẵn 24
vậy thôi chứ ít khi dùng tới vì đảo này lạ lắm, ai sống ở đây như được Trời ban
cho ân huệ miễn bệnh tật ốm đau. Từ ngày định cư ở đảo, tức là cách nay 25
năm, dân số đảo không hề giảm mà chỉ có tăng do sinh đẻ thêm. Thuốc cụ làm
hiện tại chủ yếu là thuốc bổ dưỡng sinh, nhiều lắm. Nhà nào cũng phải đến lấy
về uống, cụ bắt buộc như vậy.
Xế bên trong các quả đồi là một vùng bằng phẳng khá rộng, dân đảo đã khai
phá cuốc xới và tùy theo thời vụ mà trồng tỉa ngô, lạc, vừng và đậu các loại. Có
những thửa trồng bông, trồng dâu. Vùng đất trũng thì trồng lúa tẻ, lúa nếp. Đất
vốn sẵn phì nhiêu mỗi năm gieo trồng một vụ cũng đủ cả đảo dùng không hết.
Xa bên trong nữa, lúp xúp những căn nhà làm kho và khu chế biến. Kho chứa
thóc lúa, đậu, ngô, khoai, rượu, đường, tương, nước mắm, kể cả vải bông và lụa
tơ tằm. Nhà nào cần bao nhiêu đến lấy, không quy định suất. Người giữ kho khi
nhập xuất có ghi chép thu chi hằng ngày. Khu chế biến có nhiều gian, gian đặt
các cối xay, giã và một số vật dụng khác để gia đình đến tự làm, còn những
gian khác dùng vào việc ủ rượu lên men, nấu đường thốt nốt, ướp cá làm mắm,
xay đậu làm tương, ươm tơ kéo sợi, dệt nhuộm vải. Củ nâu tuy đem theo nhưng
thực sự rừng ở đây có rất nhiều, dùng để nhuộm vải ra màu nâu, màu đen. Có
gian chuyên việc rèn dao, kéo, rựa, cuốc xẻng. Ở những gian chế biến, phải thợ
chuyên môn mới làm được và cung cấp cho mọi gia đình.
Sáng hôm sau, Hương còn có nhiệm vụ đưa tôi thăm nốt bờ Bắc của đảo.
Hương đã chuẩn bị từ sáng sớm cơm nắm muối vừng và bảo chuyến đi này mất
nhiều thời gian, không về nhà ăn cơm trưa được. Bước ra khỏi cửa, Hương nói :
– Anh Nam này, anh nói anh làm nghề gì ?
– Địa chất.
Hương cười mỉm :
– “Hòn đất mà biết nói năng / Thì thầy địa chất hàm răng không còn”.
– Bậy nào ! Thầy địa lý chứ.
– Địa chất và địa lý có gì khác nhau ?
– Khác lắm. Ngày xưa thầy địa lý dựa vào thuật phong thủy để tìm đất lành
cho mồ mả, nhà cửa. Còn ngành địa chất dựa vào quy luật cấu tạo địa tầng để
dò tìm khoáng sản, dầu khí. Hồi bọn này còn làm việc với chuyên gia địa chất
Liên Xô, nghe hai câu trên, họ rất thú vị, khen ông bà mình ngày xưa thật thông
minh và dí dỏm.
Nhưng sau đó, tôi phải thú nhận :
– Nói đúng ra, hòn đất mà biết nói năng thật thì cả hai nghề này chẳng còn
đất sống.
Hương đưa tay trỏ :
– Ta đi vào trung tâm đảo rồi rẽ trái tiến sang bờ Bắc. Nếu cứ từ bờ Tây men
theo bãi biển mà đi thì không có cách nào để lên bờ được. Ở đó, vách đá dựng
đứng sát biển, có nhiều hang động và chim yến làm tổ. Tổ yến nhiều vô kể và
toàn loại hồng sào và huyết sào quý hiếm ở đất liền, cụ bảo thế. Chờ khi yến con
nở xong bay được, đảo mới cắt người chống bè vào hang gỡ tổ. Cụ còn bảo ở
đất liền, tổ yến đắt lắm chỉ có vua, quan và người giàu mới đủ tiền mua tổ yến về
nấu ăn. Ở đây thì dân đảo ăn tổ yến phát chán, chả có gì là ngon nhưng cụ bắt
phải ăn để bồi bổ sức khoẻ.
Tôi bảo : 25
– Ở trong nước hiện nay, tuy không còn vua quan nhưng người giàu thời nào
cũng có và chỉ có họ mới đủ tiền thỉnh thoảng đến khách sạn sang trọng để ăn
canh yến.
Chúng tôi bắt đầu chui vào rừng rậm. Lần đi này khó khăn vất vả hơn nhiều
so với các lần trước. Rừng rất nhiều cây cổ thụ cao vút, tán lá gần như che kín
bầu trời. Khí hậu rất ẩm ướt. Nền đất mềm, xốp do lá mục tích tụ lâu năm.
Chúng tôi men theo một con suối đi ngược lên. Nước chảy róc rách, trong như
lọc. Đôi chỗ, chúng tôi bắt gặp những con thác nhỏ, ào ào đổ nước bắn tung bọt
lên những tảng đá lớn bên dưới. Đến một quãng rộng, tôi bất chợt nhận thấy cát
sỏi nơi đây lóng lánh một cách đặc biệt dưới ánh mặt trời. Bốc một vốc nhìn kỹ,
tôi bàng hoàng, dò hỏi :
– Chị Hương biết loại cát sỏi này không ?
– Không. Tôi chỉ thấy nó to hạt và lóng lánh đẹp hơn cát biển.
– Cát này là kim cương đó !
– Kim cương là gì ?
– Kim cương nguồn gốc là than đá bị thiên nhiên ép cứng, có hình hai tháp
úp vào nhau rất đặc biệt và nó rất quý. Ở đất liền, tôi chỉ cần có một vốc này thôi
là đủ để thành người giàu nhất nước. Nhất là những viên sỏi, càng lớn càng đắt
giá.
– Kim cương có quý bằng ngọc trai không ?
– Ngọc trai gốc đá vôi, đẹp và chỉ để trang sức. Còn kim cương vừa làm đồ
trang sức vừa dùng trong công nghiệp vì nó rất cứng, cắt được các loại đá và
sắt thép nên nó có giá hơn ngọc trai. Chị Hương biết không, những hạt kim
cương cỡ hạt tấm giá cũng tới vài trăm ngàn đồng Việt Nam rồi, cỡ từ 3 ly đến
4,5 ly giá 1,5 triệu đến 15 triệu, cỡ 12 ly giá không dưới 1,5 tỷ đồng Việt Nam. Ở
đây, kim cương có đủ cỡ, đủ màu như trắng trong, xanh nước biển, vàng, nâu
hay thật !
– Thế mà lâu nay, dân đảo không biết con suối này giàu đến thế. Ngay cụ
cũng không biết kim cương là gì. Anh hãy đi theo tôi. Còn có hai con suối đặc
biệt nữa, cụ và những người lớn biết giá trị của nó ở đất liền, nhưng ở đây nó
bình thường như mấy con suối khác thôi.
Bỏ con suối này, Hương dẫn tôi băng sang trái. Hoàn toàn không có con
đường mòn nào. Phải vạch lá len qua các lùm cây mà đi. Chim chóc bay xào xạc
không phải vì sợ sệt người lạ mà có vẻ như chào đón chúng tôi. Đôi lúc bất chợt
chúng cất tiếng hót lảnh lót rất vui tai. Có con mạnh dạn sà đậu lên vai hai chúng
tôi, ríu ra ríu rít trông thật dễ mến. Sống trong cảnh thiên nhiên thân thiện như
thế, làm sao mà không cảm thấy yêu đời được. Khoảng mười lăm phút sau, bắt
đầu nghe tiếng suối chảy róc rách. Hương bảo đến rồi đó. Chúng tôi vượt qua
mấy lùm cây lúp xúp. Một quang cảnh huy hoàng bất ngờ hiện ra trước mắt.
Toàn một màu vàng chói lọi trải dài viền hai bên bờ suối. Cát, sỏi và đá ở đây
đều bằng vàng ròng.
– Vàng đối với dân đảo không có ích gì. Nhưng cụ bảo ở đất liền, ai có nhiều
vàng như thế này thì giàu hơn vua. Vua sẵn sàng đổi ngai vàng về làm thường
dân để sở hữu cái suối này. Bởi thế, những khách lạ giạt vào đảo, cụ cấm ngặt
không cho dẫn đi thăm bờ Bắc. Cụ bảo hải tặc mà biết đảo này có vàng đầy 26
suối, lòng tham nổi lên, chúng bất chấp đạo lý sẽ tận diệt dân đảo để chiếm lấy
kho vàng.
– Thế sao chị Hương đưa tôi đi…
– Anh khác, cụ cho anh là khách đặc biệt, có duyên nợ với đảo. Anh cần biết
mọi nơi trên đảo và tất cả những bí mật của đảo. Anh sẽ không phản bội chúng
tôi, ngược lại sau này còn giúp dân đảo rất nhiều. Cụ còn nói đảo này chỉ dành
cho những con người tốt, có tâm hồn trong sáng.
– Xin cảm ơn, cảm ơn cụ, cảm ơn chị Hương và tất thảy mọi người trên đảo
đã tin tưởng tôi.
– Còn có một con suối nữa mà cát sỏi bằng bạc trắng bóng rất đẹp mắt.
Nhưng đi đến đó vất vả lắm, ta hãy để dịp khác. Ngày xưa, cụ không cho anh
Thức đến mấy con suối đặc biệt này mặc dù anh là người Việt mình. Cụ bảo số
anh Thức không làm nên trò trống gì, sống đấy nhưng như người cõi khác, luôn
xem cuộc đời là phù du, nhiều khi tỏ vẻ bất cần. Việc anh tự ý bỏ công việc ở
huyện đi chơi và lưu lại nơi đây lâu ngày chứng tỏ điều đó. Không biết anh ấy có
tâm sự gì không. Anh nói từng lai kinh ứng thí mấy lần nhưng lần nào cũng hỏng
đành phải làm một anh ký quèn, chịu sự sai bảo của một tên quan huyện dốt nát,
tham lam, chuyên bắt nạt dân đen. Gia cảnh đáng buồn : bố mẹ già ốm quanh
năm và một thằng em trai ngỗ nghịch, lêu lổng không ra gì.
Tôi gặng hỏi thêm về Từ Thức.
– Khi Từ Thức từ giã mọi người ở đây, ông có tỏ vẻ bịn rịn lưu luyến không ?
– Hoàn toàn không ! Anh bảo cần về nhà, lãng du mấy ngày nơi đây, đủ rồi !
Chúng tôi đi ngược lên thượng nguồn của suối vàng. Nhiều khi phải bám vào
mấy tảng đá chênh vênh để leo. Rồi thì hiện ra trước mắt một hồ nước mênh
mông, bờ bên kia tuy nhìn thấy nhưng nhỏ và không được rõ lắm. Tôi ước tính
hai chiều dọc ngang của hồ khoảng chừng một cây số. Hình như nó là miệng núi
lửa đã tắt từ hàng mấy thế kỷ nay, bây giờ biến thành bể trữ nước ngọt rất lớn
cung cấp cho dân đảo dùng trong sinh hoạt và trồng trọt. Đây đó, có một số loài
chim trời như le le, cò trắng, thiên nga, già đẫy bơi lội kiếm ăn. Hồ cũng có cá,
dân đảo đi câu nhưng thỉnh thoảng thôi vì cá biển dễ bắt hơn. Muốn ăn cá hồ,
phải leo núi vất vả, ít ai muốn. Quanh bờ hồ, lau sậy cây cối rậm rạp và những tổ
trứng chim thì nhiều vô kể, khi đi phải chú ý nhìn nếu không sẽ giẫm phải. Loại
trứng to nhất là của thiên nga, già đẫy sau đó là của le le, cò và số loài chim
nước nhỏ khác. Có con nhìn thấy chúng tôi vội bỏ tổ nhảy xuống nước bơi đi.
Nhưng cũng có con cứ điềm nhiên ấp trứng trên tổ, không thèm bận tâm đến
chúng tôi.
Có thể nói hồ là nơi cao nhất của đảo. Đứng ở bờ hồ quay một vòng là có
thể nhìn thấy tận chân trời quanh đảo. Thực ra chân trời ở đây chỉ có mây mù
viền trắng phía sau mặt biển xanh, làm cho ta dễ có cảm giác như bị giam trong
một cái tổ chim khổng lồ đang bay lửng lơ trên trời.
BUỔI TIỆC CHIA TAY – TRỞ VỀ ĐẤT LIỀN
Buổi chiều hôm ấy của ngày thứ ba tôi sống trên đảo, ông cụ muốn gặp tôi
và đồng thời mời ăn cơm cùng gia đình. Bữa cơm vẫn những thứ đảo có sẵn,
nhưng đặc biệt có canh tổ yến và thịt trai ngọc nhắm cùng rượu thốt nốt. Có đầy 27
đủ những người trong gia đình lớn của Hương gồm bố, mẹ, anh chị cả, cháu Vi,
Hương và cháu Tích. Cụ còn mời thêm bác đề đốc. Vẫn theo lệ của những gia
đình người Việt xưa, cánh người lớn đàn ông gồm hai cụ ông, anh cả và tôi ngồi
cùng mâm. Cụ bà, cô dâu cả, Hương và hai cháu nhỏ ngồi mâm khác. Anh cả
rót rượu vào các chén, ông cụ nâng mời mọi người.
Trong bữa tiệc, tôi tò mò hỏi hai cụ là nghe nói Hồ Quý Ly có cải tiến thi cử
bằng cách đưa thêm môn toán vào, hai cụ có biết không ? Hai cụ bảo đương
nhiên là biết bởi vì hai cụ đã học chuẩn bị môn này để thi.
Cụ tư đồ nói :
– Nội dung học toán pháp có hai phần : số và hình. Số chia ra số nguyên, số
phân, số chẵn, số lẻ, số âm, số dương và số không. Quan hệ giữa các số
nguyên là các phép tính cộng, trừ, nhân, chia, tất cả thực hiện trên bàn tính.
Cũng các phép tính này nhưng thực hiện cho số phân khó hơn nhiều. Ngoài việc
sử dụng bàn tính, có mẹo tính nhẩm cũng khá hiệu nghiệm. Về nhân chia, có
phép nhân tự thân, chia tự thân tức là lấy nó nhân nó, lấy nó chia nó. Bất kỳ
phép chia tự thân nào cũng cho kết quả bằng 1. Nhân tự thân hay dùng trong
việc tính diện tích mẫu ruộng hình vuông. Môn hình thì có khái niệm về điểm, giả
dụ như dấu chấm là điểm, đường có dạng như sợi chỉ, nếu kéo căng thì hình
dung ra đường thẳng, mặt có dạng như mặt nước phẳng lặng không gợn sóng
gọi là mặt phẳng, mặt khum khum gọi là mặt cong. Những hình tạo nên bởi các
đoạn thẳng thì có hình tam giác, hình vuông, hình chữ nhật, hình thang, hình
nhiều cạnh; tạo bởi đường cong có hình tron, hình trái xoan. Ngoài ra có khái
niệm về góc như góc vuông, góc nhọn, góc tù, khái niệm về đường song song là
những đường không bao giờ gặp nhau. Chính Hồ Nguyên Trừng chuẩn bị đề thi
toán và chấm thi môn này.
– Dạ thưa, hai cụ còn nhớ khoa thi đình năm đó, đề thi ra thế nào không ?
– Đề văn của ta là luận về tam cương ngũ thường. Tam cương nói đến ba
mối quan hệ cơ bản vua-tôi, cha-con, chồng-vợ. Ngũ thường nói tới năm đức
tính nhân, nghĩa lễ, trí, tín. Khi nhìn thấy đề thi, ta cảnh giác ngay với quan hệ
vua-tôi, nếu viết không khéo trong thời buổi này, hỏng thi đã hẳn nhưng còn cái
đầu chưa chắc chịu nằm yên trên cổ. Ta phải vận tới quy luật tuần hoàn của trời
đất : năm có bốn mùa thay đổi, thời gian hết ngày lại đến đêm nối tiếp nhau.
Nước ta tuy nhỏ nhưng kể từ thời các vua Hùng đến nay đã có bao nhiêu triều
đại thay nhau kế nghiệp. Vua Hồ lên thay vua Trần để trị vì đất nước, đó là quy
luật xoay vần theo ý của Trời. Mỗi triều đại đều có vua tôi riêng. Sống thời nào,
trung với vua thời ấy, há chẳng phải là sống hợp lẽ Trời sao ? Về ngũ thường ta
có ý nhấn mạnh đức nhân : nhân của muôn dân và nhân của bề trên. Vua quan
là cha mẹ dân, nhưng nếu chỉ biết có răn đe trừng phạt thôi chưa phải là nhân.
Hiểu được nỗi khổ của dân, biết lắng nghe ý nguyện của dân, làm điều hợp lòng
dân, đó là chữ nhân của người cầm quyền vậy.
Không hẹn mà nên, quan bác đề đốc khi làm câu luận bàn về chiến lược
quân sự cũng nói đến chữ nhân như ta. Từ các triều vua, sở dĩ ta chống được
giặc ngoại xâm phương Bắc vì đã áp dụng chiến lược chữ nhân, nghĩa là phải
phát động chiến tranh nhân dân, dựa vào dân, nghe dân và vì dân. Trận thắng
Nguyên Mông đầu tiên là kết quả tất yếu của việc vua nhà Trần từ Hội nghị Diên
Hồng, biết nghe dân và làm theo ý dân. 28
– Về môn toán, hai cụ nhận đề thi thế nào ?
Cụ tư đồ phát biểu trước :
– Đề của ta là : thí sinh phải tìm cách đo đạc trên bờ mà suy ra được bề rộng
của hồ nước.
– Còn của ta – quan đề đốc nói – có một câu hơi khó là : dùng máy bắn đạn,
bằng cách nào để chỉnh độ cao hay độ xa của viên đạn đến nơi quân địch.
– Thế bác trả lời thế nào ? – Tôi tò mò hỏi.
– Ta viết đại khái là viên đạn máy bắn ra bay theo đường cầu vồng, không
thể chỉnh độ cao, độ xa được trừ phi thay đổi kích thước, trọng lượng viên đạn
cùng với lực giật của tay ném.
Tôi nói :
– So với cách hiểu bây giờ, bác nói gần đúng thôi. Viên đạn khi phóng hay
bắn ra không bay theo đường cầu vồng mà theo đường parabon. Tầm cao, tầm
xa của viên đạn chủ yếu phụ thuộc góc bắn. Bác cứ nhìn cách bắn của cung, nỏ
thì rõ. Muốn mũi tên rơi xa nhất, đặt chếch mũi tên nghiêng nửa góc vuông tính
từ mặt đất.
Gần đến phút cuối bữa tiệc, ông cụ đứng lên trịnh trọng :
– Xin phép quan bác, không mấy khi dân đảo có duyên được anh Nam,
người cùng dòng giống Việt với mình tình cờ ghé thăm đảo. Qua anh, tôi biết
được tình hình quê cha đất tổ của mình ngày nay như thế nào. Tôi mừng vì dân
Việt noi gương cha ông đã đánh đuổi được giặc ngoại xâm, đang xây dựng đất
nước thanh bình, người dân ấm no hạnh phúc. Cả nước theo chế độ dân làm
chủ, không còn vua quan cai trị như xưa. Đây là điều mới lạ đối với dân đảo và
tôi biết vậy chứ chưa hình dung được sự thể thế nào. Đảo ở đây, dân làm ăn
sinh sống ra sao, cháu Hương đã dẫn anh đi xem, đã nói cho anh biết tất cả.
Anh ở đây đã ba ngày rồi, đến lúc phải về, nấn ná thêm nữa sẽ xảy nhiều điều
bất tiện cho anh. Ta đã sai người chuẩn bị bè và đầy đủ lương thực nươc uống
mấy ngày trên biển. Anh có sẵn la bàn, cứ giong buồm thẳng tiến hướng Tây,
thế nào cũng về đến đất liền.
Trong khi ăn, quan đề đốc và anh cả còn hỏi thêm mấy điều về cách điều
hành đất nước hiện nay, không vua thì người đứng đầu cả nước là ai, không
quan thì gọi là gì. Cách học hành thi cử bây giờ ra sao. Nghe nói không còn chữ
Nho, chữ Nôm thì học trò học chữ gì ? Toàn những chuyện vĩ mô mà thời gian
có hạn nên tôi không thể nói rành rẽ đầy đủ, phải hẹn dịp khác ra thăm đảo lại
mới nói hết được. Tôi cũng ngỏ ý mời hai cụ, anh cả và mọi người dân đảo có
điều kiện về thăm đất liền một chuyến.
Hôm nay, tôi lại mặc bộ quần áo của tôi. Chiếc áo sơ mi trắng được Hương
vá víu những mảnh vải thô ở phía trong nên nhìn thoáng qua khó nhận rõ áo
rách đã vá. Hương đưa thêm cho tôi một cái bị bằng vải gai thô có quai to bản
đeo quàng qua vai. Hương bảo trong bị có mấy cái túi nhỏ và hai phong thư viết
trên mảnh lụa gập đôi may viền ba mép ông cụ viết bằng chữ Nôm. Bức thứ nhất
có gạch một gạch (chữ nhất) để tôi xem ngay khi mới về nhà. Bức thứ hai có
gạch hai gạch (chữ nhị) để đến bao giờ cảm thấy bế tắc trong cuộc đời, sự
nghiệp thì mở ra đọc. Anh chịu khó học chữ Nôm để đọc, nhất định không được
nhờ ai. Trong bị còn có một túi thuốc bổ dành cho hai bác, mấy túi vàng và kim
cương để cho anh dùng những lúc cần. 29
Hương đưa cho tôi cây đèn gió thắp sẵn. Tôi nói lời cảm ơn và chào từ biệt
tất cả mọi người. Tích ở đâu chạy đến dúi vào tay tôi một túi ngọc trai để về làm
quà cho các bà, các cô.
Tôi lên bè và dùng sào đẩy thẳng ra. Trời mù mịt tối đen. Khoảng chừng 8
giờ đêm, bè tôi lủi vào đám mây mù. Hơi nước đặc quánh làm tôi ướt nhớp
nháp, người lạnh run. Khó nhọc lắm, nhờ dõi theo la bàn, tôi mới thoát ra được
lớp mây mù. Nhìn đồng hồ, đã là 10 giờ đêm. Nhưng kìa, tôi vô cùng bàng
hoàng vì phía ngoài lớp sương mù, trời đang nắng chang chang chứ không phải
cảnh tối âm u của đảo. Tôi như đột nhiên bước sang sống ở một khoảng trời
khác hoàn toàn khoảng trời của đảo. Gió biển đang thổi mạnh. Ngước nhìn lên,
bầu trời trong xanh không gợn chút mây. Mặt trời chói chang đang dịch dần đến
đỉnh đầu. Như vậy là tôi đang ở một nơi mà thời gian đang là buổi sáng gần 11
giờ. Tôi kéo buồm lên và buộc dây, ngồi nắm tay lái. Buồm căng gió kéo bè lướt
sóng băng băng.
Đói ăn khát uống, tôi không dám ngủ, điều khiển bè lênh đênh trên biển hết
buổi chiều, qua đêm đến sáng hôm sau. Gần 10 giờ trưa, tôi nhận thấy dải đất
liền trước mặt. Trong khi tiến vào bờ, tôi chú ý quan sát tìm bãi đá và lái thẳng
bè về đấy. Tôi chủ tâm giấu bè vào cái nơi mà cách đây hai thế kỷ, Giáng Hương
đã giấu nó ở đó để đón Từ Thức.
Tôi cởi giày, lội xuống nước, tránh mấy tảng đá to trơn trượt và đi vào bờ.
Sờ túi áo thấy còn nguyên mấy trăm ngàn, tôi vội lên xe ôm phóng nhanh ra ga.
Vội vàng mua vé ngay chuyến tàu sớm nhất.
Một thân một mình không hành lý ! Khi tàu bắt đầu rời ga, sẵn có người bán
báo mua lấy một tờ Nhân dân để xem tin tức. Báo ra ngày 25 tháng 4 năm 2000.
Chết chửa, mình mất tích có mấy ngày ở đảo mà đất liền đã trải qua 20 năm rồi
sao ? Khi tàu đỗ ga Hàng Cỏ, chưa về nhà vội, tôi thuê tắc xi đến thẳng cơ quan
trên đường Chiến Thắng. Anh bảo vệ trực cổng mà tôi không quen ngồi sau bàn
chồm ra hỏi :
– Anh gặp ai ?
– Tôi là người làm ở đây, phòng Kỹ thuật.
Anh bảo vệ lúc bấy giờ mới quan sát kỹ tôi hơn với ánh mắt ngờ vực :
– Anh có nhầm không ? Tôi làm ở đây đã mười năm nay, chưa hề nhìn thấy
anh.
– Xin lỗi, ông viện trưởng hiện tại là ai.
– Tiến sĩ Bùi Thanh Nhân.
Qua vai anh bảo vệ, tôi lại tìm thấy ngày 25 tháng 4 năm 2000 trên tấm lịch
treo ngay trên tường. Thế là người xưa không gặp lại cảnh cũ rồi. Cố gắng xin
vào cơ quan nếu được cũng chẳng ích gì, tôi chào anh bảo vệ nói mình nhầm và
bước vội ra khỏi cổng. Bây giờ phải về nhà thôi. Xa nhà có mấy ngày nên tôi
hoàn toàn không có cái cảm giác của những người xa xứ lâu năm. Nhưng việc
chệch pha thời gian làm tôi phải suy nghĩ cách đối phó trước tình huống rắc rối
sắp xảy đến ngay tại nhà mình. Lại gọi tắc xi, vượt qua mấy dãy phố tấp nập
đông đúc, tôi đứng ngay trước cửa nhà mình. Với tay bấm chuông, một bộ mặt
con gái lạ hoắc ló ra ở lan can tầng trên chồm người xuống, hỏi :
– Anh gặp ai ?
– Xin gặp cụ Ban. 30
Ban là tên bố tôi. Tôi nghe có tiếng chân bước gấp xuống cầu thang cùng với
giọng con gái lảnh lót :
– Bác ơi, có khách.
Tiếng kéo cửa sắt lẹt rẹt. Cô gái nhìn tôi thản nhiên :
– Mời anh vào.
Lúc đó, bố tôi từ tầng trên cũng bước xuống cầu thang, chậm chạp, thận
trọng, dè dặt theo kiểu người già sợ ngã. Một ông già tóc đã bạc, vẻ ốm yếu, là
bố tôi nhưng không phải thời tôi mới ra đi.
– Con chào bố !
Khi nhìn thấy tôi, ông sững người một giây, sau đó gọi rối rít vào trong :
– Bà ơi, thằng Nam đã về ! Nó còn sống.
Lại nghe tiếng bước chân gấp gáp kéo lê dép lẹt xẹt từ nhà sau đi ra. Mẹ tôi
cũng đã già, trông còn tiều tụy hơn cả bố tôi nhiều.
– Con chào mẹ !
– Ôi, Nam ! Thế mà bố mẹ cứ tưởng anh…
Mẹ nghẹn ngào không nói được hết câu. Tôi ôm lấy mẹ. Bà bật khóc, đôi vai
gầy rung rung, nức nở.
– Tệ quá ! Mấy chục năm, anh làm sao mà không một nhời nhắn về ?
– Anh Nam đây hả bác ? – Bây giờ cô gái mới lên tiếng.
Tôi chưa hề quen biết cô này bao giờ. Bố tôi bảo :
– Thôi bà, không khóc nữa. Con nó về được là mừng rồi. Thanh, cháu đưa
anh con lên phòng, để anh tắm rửa, lấy quần áo cho anh thay rồi xuống giúp bác
gái làm cơm.
Thanh lăng xăng đi trước dẫn tôi về đúng phòng của tôi. Tôi đẩy cửa bước
vào. Phòng được quét dọn thường xuyên nên sạch sẽ ngăn nắp. Đồ đạc vẫn bố
trí y nguyên như thời tôi còn ở nhà. Chỉ thêm chiếc tủ thờ cao, trên có đặt khung
ảnh của tôi sau bát hương và hai cây đèn đồng. Thanh tinh ý bắc ghế đứng lên
nhanh tay chớp lấy bức ảnh trên bàn thờ cất đi rồi nhìn tôi, ngập ngừng định nói
gì, song lại thôi.
– Quần áo anh còn nguyên trong tủ. Anh tắm rửa xong, mời anh xuống nhà
dưới ăn cơm.
TRONG VÒNG TAY NGƯỜI THÂN
Trong bữa cơm, bố tôi giới thiệu Thanh :
– Chắc con không nhớ em Thanh. Nó là con gái chú Bách đó. Trong chuyến
xe về quê họp họ hàng, xe bị nạn hai ông bà tử thương không cứu được. Em
Thanh mới lên hai, lúc đi ông bà gửi hàng xóm trông giùm nên thoát nạn. Bố mẹ
thương tình đem em về nuôi. Thấm thoắt đã hai mươi năm, nó đang học đại học
Khoa học xã hội và nhân văn môn lịch sử. Năm đến là ra trường.
– Em trông anh không già hơn ảnh chụp đặt trên bàn thờ tí nào !
Bố mẹ nhìn thoáng qua tôi rồi im không nói gì. Tôi phải giải thích điều này
như thế nào đây ? Đầu tiên là ở nhà, sau đó đến cơ quan. Làm sao mà họ tin
được. Từ trên bè tối hôm qua, tôi đã nghĩ ra một câu chuyện sao cho hợp lý mà
không đả động gì đến đảo Mây. 31
– Con đang trên tàu thăm dò thềm lục địa lúc bão nổi, không quay lui kịp.
Sóng thần bất ngờ ập tới chụp trọn con tàu xé nó tan thành từng mảnh. Con
chới với vớ được một mảnh ván, bấu chặt lên đó và mê man mặc cho sóng xô
đẩy. Đến sáng hôm sau, con giạt lên một hòn đảo. Dân ở đó da ngăm ngăm đen,
nói xí xô gì đó con không hiểu. Một bộ tộc ít người, đời sống còn hoang dã. Họ
nghèo nhưng rất tốt bụng. Con được hai ông bà cỡ trung niên không có con cái
nhận nuôi con. Con tham gia cuốc xới trồng trọt. Ở đấy họ lấy ngô làm lương
thực chính. Ăn kèm với sắn. Đảo không có lúa. Họ cũng biết chăn nuôi lợn, dê.
Dê vừa cho thịt, vừa cho sữa. Điều đặc biệt họ rất rành về dược liệu thiên nhiên.
Hầu như mấy chục năm, con không thấy ai ở đó bệnh tật ốm đau. Nếu có chết
thì họ chết già chứ không hề chết bệnh. Họ uống thường xuyên một thứ nước
sắc từ lá và rễ cây gì đó rất thơm nhưng rất bổ dưỡng, nên ai cũng trẻ lâu,
không già.
– Thế anh đã học nói được tiếng họ chưa ? – Thanh tò mò hỏi.
– Đương nhiên chỉ mấy tháng là anh nói được tiếng của họ. Họ thuộc người
Polynesien, thân hình nói chung khá cân đối. Phụ nữ hầu hết là xinh, tìm người
xấu ở đó rất khó. Đã nhiều lần con xin họ về, họ bảo do địa thế của đảo rất hiểm
trở, nếu rời đảo mà đi thì chín mươi chín phần chết chỉ có một phần sống.
Những thứ rất quý hiếm đắt tiền ở ta như vàng, ngọc, kim cương thì ở đảo vô
khối nhưng đối với họ không có giá trị gì. Cuộc sống của họ no đủ. Không có
cảnh giàu nghèo, áp bức. Không trộm cắp, nghiện ngập. Không thầy phù thủy.
Không bói toán dị đoan. Trong mười mấy năm, vì họ đã nói vậy nên con không
tỏ thái độ gì để lộ là con nhất quyết trở về. Họ rất hiền từ, tốt bụng, hoàn toàn
không cảnh giác. Con tin bây giờ con đã trốn khỏi đảo, họ cũng sẽ không trách
gì con. Nói theo cách nói của mình là họ rất tôn trọng tự do của mỗi người bởi vì
họ quen sống trong cảnh thương yêu, đùm bọc, nhường nhịn nhau, không ai làm
hại ai.
Tôi đã mô tả cuộc sống không khác mấy cuộc sống dân đảo của Giáng
Hương.
– Đêm hôm kia, con lẻn ra bãi, mang theo lương khô và nước uống trữ sẵn,
leo lên một chiếc bè và cứ thế chèo ra. Trốn họ đi nhưng yên tâm biết rằng họ sẽ
không đuổi theo bắt lại mình. Kể cũng liều bởi vì con nghĩ dân đảo hiền từ tốt
bụng, họ không thèm nói dối để giữ mình ở lại. Trước khi đi, con có viết để lại
bức thư xin lỗi hai ông bà bố mẹ nuôi, tỏ lòng tri ân với hai ông bà và toàn dân
đảo. Chuyện thư từ là nhờ con giúp dân đảo. Họ nói với nhau nhưng không có
chữ. Nếu ở xa nhau, họ liên lạc bằng tiếng trống, tiếng mõ, gióng lên những tín
hiệu mà chỉ có họ với nhau mới biết ý nghĩa là gì. Hôm con giạt lên đảo, nghe
tiếng trống tiếng mõ inh ỏi, ng? sa vào bộ tộc ăn thịt người, con tưởng mình đã
tới số. Nhưng nhìn dáng dấp và cách cư xử với mình thấy họ rất hiền lành, lễ độ,
tỏ ra quan tâm chăm sóc hết lòng. Sau này hỏi ra mới biết họ thông tin cho
những người ở xa rõ có một người giạt vào đảo. Cho nên chỉ ít phút sau là toàn
đảo biết hết chuyện này.
Khi biết rành tiếng rồi, con mày mò dùng chữ cái La tinh để phiên âm, sau
đó dạy lại họ. Còn họ, khi đã biết chữ, viết được thư cho nhau đọc và hiểu người
khác muốn nói gì, họ rất thú vị. Cho nên họ quý con vô cùng. Con cũng có tổ 32
chức nâng trình độ học của họ lên như bày vẽ cách viết văn thế nào cho hay,
cách gieo vần cho thơ, các phép tính thông dụng trong sinh hoạt thường ngày.
Tôi nói là khi về, tôi có mang theo một ít ngọc trai, vàng và kim cương,
những thứ mà ở đó trẻ con của đảo thường lấy ném nhau đùa nghịch, vứt lăn
lóc. Ngoài ra còn có một ít tổ yến và một gói lá rễ cây nấu nước để bố mẹ uống
bổ dưỡng.
Ngày hôm sau, tôi tìm đến nhà ông viện trưởng thời tôi còn làm việc nay đã
về hưu được mấy năm. Khi tôi bấm chuông cổng thì ông đang quần đùi, áo may
ô cầm bình nước tưới mấy chậu hoa hồng và thược dược. Mở cửa bất chợt nhìn
thấy tôi, ông bàng hoàng suýt buông rơi bình tưới.
– Chào bác. Cháu là Nam, bác còn nhớ không ?
– À, anh Nam. Mời…mời.. Vào đây !
Ông viện trưởng cũ của tôi tuy tóc bạc trắng nhưng trông người còn khoẻ
mạnh. Ông là cây vợt nổi tiếng thời còn tại chức, đã từng được giải trong các kỳ
thi đấu. Ông đưa tôi vào phòng khách, vừa đi vừa gọi :
– Bà ơi, ra đây mà xem ai đây này !
Trong lúc ông lóng ngóng bỏ chè và rót nước sôi từ phích vào bình, tôi nghe
tiếng dép lẹp xẹp từ nhà trong đi ra.
– Chào bác ạ !
Khi nhìn thấy tôi, bà ngỡ ngàng :
– Anh là….
– Bà biết ai đấy không ?
-….
– Người mà… bà định gả cái Lan… cho đấy !
– Sao kia ?…
Đúng là trước đây 20 năm, mọi người trong cơ quan cố tình gán ghép tôi với
Lan, con gái thủ trưởng. Lúc đó, tuy có cảm tình với Lan nhưng tôi dè dặt đắn đo
chưa dám quyết bởi sợ miệng lưỡi thế gian, khi yêu thì không nói gì nhưng khi
đã ghét thì sẽ cho là tôi lợi dụng bố vợ để tiến thân. Lúc đó, Lan mới 20, đang
học năm thứ 3 trường đại học Sư phạm. Còn gia đình thủ trưởng, qua thái độ
đối xử chăm sóc ưu ái rất rõ đối với tôi, tôi biết họ sẵn lòng chấp nhận cho tôi
làm con cái trong nhà. Tôi đánh bạo hỏi :
– Dạ, cô Lan…
– Em nó đi dạy. Sau khi tốt nghiệp, nó xin được dạy ở trường gần nhà. Kết
hôn với một anh giáo cùng trường và đã có hai mặt con, một gái một trai.
Vừa lúc đó thì Lan mở cổng dắt xe đạp vào nhà. Thấy có khách lạ, Lan ghé
mắt nhìn. Vì tôi ngồi quay lưng ra cửa, bà mẹ Lan gọi với :
– Lan ! Chị vào xem ai đây này.
Lan hơi ngỡ ngàng :
– Anh là….
– Em anh Nam, nhân tiện công tác ghé thăm thủ trưởng cũ của anh ấy.
– Xin lỗi, tôi cứ ngỡ…
– Là anh Nam ? – Bà mẹ đế ngay.
– Vâng, tội nghiệp cho anh ấy! Xin chia buồn cùng gia đình anh.
Lúc bấy giờ, hai ông bà cùng ồ lên cười : 33
– Anh Nam là con một, làm gì có em trai. Người này là anh Nam đấy.
Lan trở nên ngỡ ngàng, bối rối :
– Xin lỗi, anh ngồi chơi. Tôi đưa xe vào trong.
Mấy phút sau, trong bộ quần áo mặc ở nhà, Lan ngồi vào ghế đối diện với
tôi. Trông Lan già dặn hơn xưa rất nhiều, có lẽ do vừa là phụ nữ đã hai mặt con,
vừa là cô giáo hay quen quát tháo đám học trò cấp ba ngỗ nghịch như quỷ sứ.
– Anh Nam này ! Hai mươi năm qua, anh biến đi đâu rồi hiện lại mà vẫn giữ
hình dong y nguyên không hề thay đổi ? Cứ như làm trò ảo thuật vậy ?
Thắc mắc này, hai ông bà già không tiện hỏi thì cô con đã bộc trực nói thay
ngay tức thì.
– Dạ, chuyện này dài lắm.
Rồi tôi kể lại đầu đuôi câu chuyện mất tích thực nhưng xảy ra trong không
gian ảo mà tôi đã bịa ra như ở nhà. Lắm lúc kể rồi nhưng ngay như những người
thân thích tin cậy nhất là bố mẹ và cô em con ông chú ở nhà, tôi nghĩ chưa chắc
họ đã hoàn toàn tin lời mình. Khi tôi ra đi, Lan kém tôi 5 tuổi, bây giờ trở về Lan
đã là một phụ nữ trung niên, già hơn tôi 15 tuổi. Tôi phải nói đi nói lại là ở hòn
đảo đó, người ta sống rất thanh bình, không bao giờ có chuyện cãi cọ xích xích
chém giết nhau. Thiên nhiên đã cung cấp cho họ những thức ăn bổ dưỡng. Họ
không cần làm việc khó nhọc để mưu sinh. Họ không mấy khi đau ốm, nếu có thì
những thứ thuốc cổ truyền chữa khỏi bệnh rất nhanh. Vì vậy, họ giữ tuổi trẻ
được lâu.
Nhìn thái độ của ba người, tôi nghĩ rằng họ không tin lời tôi nói. Nhưng con
người tôi bằng da bằng thịt hiện hữu, họ nửa tin nửa ngờ. Để có thêm bằng
chứng và củng cố lòng tin của họ, tôi đưa biếu hai ông bà mấy viên sỏi vàng và
mấy hạt kim cương, cô Lan khoảng vài mươi viên ngọc trai. Đến lúc này, mấy
thứ của quý làm tan biến ngay đám mây ngờ vực đang bao quanh ba người.
Những vật chứng này không thể có nếu câu chuyện nói ra của tôi là giả dối.
Sau đó, tôi ngỏ ý nhờ thủ trưởng cũ cùng tôi đến thăm Viện xin giúp cho tôi
trở lại làm việc, nếu không còn biên chế thì làm hợp đồng cũng được. Chủ nhà
vui vẻ nhận lời ngay.
Chiều hôm đó, tôi đưa xe máy đến đón thủ trưởng cũ vào thăm Viện. Khi đến
cổng Viện, anh bảo vệ nhìn thấy thủ trưởng cũ đi cùng tôi, mở toang cổng mời
vào và tự động báo điện thoại cho thư ký viện trưởng có khách quý đến thăm
Thông thường cổng lớn chỉ mở khi có xe bốn bánh. Thủ trưởng cũ trước đây là
người nhà nhưng giờ trở thành khách đặc biệt, vào Viện bất kỳ lúc nào, không
cần biết ông muốn gặp ai. Khi chúng tôi lên tầng hai vào phòng viện trưởng thì
thủ trưởng mới đang lăng xăng dọn dẹp bàn ghế, hối thúc thư ký chuẩn bị nước
đãi khách.
Bắt tay viện trưởng cũ một cách ân cần vui vẻ nhưng đến khi đưa tay cho tôi,
ông viện trưởng mới khựng lại. Tôi mở miệng trước tự giới thiệu để phá tan nỗi
ngờ vực :
– Chào anh. Tôi là…Nam, từng công tác ở đây… sau đó mất tích nên được
các anh xóa tên trong sổ hộ khẩu của Viện.
– Ơ, ơ.. 34
-Thời tôi còn tại chức, tôi có cử Nam theo đoàn thăm dò thềm lục địa – Thủ
trưởng cũ của tôi lên tiếng.
– Vâng, tôi biết.
Thật ra, thủ trưởng cũ không cần nói, viện trưởng mới cũng đã biết hết ngọn
ngành về việc tôi đã từng làm việc ở đây rồi bị mất tích. Hôm qua khi ra về qua
cổng, ông có nghe bảo vệ nói có người tự xưng là người làm việc ở Viện, muốn
xin gặp thủ trưởng nhưng khi nghe tên của thủ trưởng thì anh ấy bối rối bỏ về.
Ông suy nghĩ một lúc, không đoán ra là ai nên cũng thôi, không hỏi cặn kẽ. Té ra
người đó là tôi.
Khi cả ba ngồi đối diện cạnh chiếc bàn rộng kê giữa phòng, tôi bắt đầu lặp
lại câu chuyện tôi mất tích. Đã trôi lênh đênh trên biển, sau đó giạt vào đảo như
thế nào. Sống với thổ dân đảo ra sao. Và nhất là cuộc sống ở đấy có điều đặc
biệt cho phép tôi giữ được tuổi trẻ của mình cách đây 20 năm. Ông thủ trưởng
cũ nói thêm bây giờ tôi còn sống sót về đây khỏe mạnh, tay nghề cũ vẫn còn,
Viện nên cố gắng bố trí lại công việc cho tôi. Tôi đưa yêu cầu dễ dãi hơn là
không nhất thiết cho tôi vào biên chế chính thức nếu Viện thấy khó xử mà nhận
tôi vào làm hợp đồng cũng được, thù lao không thành vấn đề. Ông viện trưởng
hứa chắc chắn là được, theo yêu cầu tối thiểu của tôi.
CHUYẾN RA ĐẢO LẦN THỨ HAI
Trong lúc chờ việc ở nhà, tôi nhớ ra là cần đọc bức thư thứ nhất của ông
cụ. Không được nhờ vả người khác, chỉ còn cách tự mình mày mò tra tự điển
chữ Nôm. May cho tôi, Thanh là sinh viên ngành Sử, có học chữ Hán, chữ Nôm,
nên nhà có tự điển. Tôi vào phòng Thanh, lấy kéo rọc mở bức thư thứ nhất ra và
vất vả đếm nét tra từng chữ một rồi chép ra giấy. Bức thư cụ viết như sau.
Bức thư được dịch ra chữ quốc ngữ là :
“Cháu Nam, 35
“Cho gia đình bác gửi lời thăm hai cụ thân sinh – điều này thì tôi không làm
được bởi vì nó không khớp với câu chuyện bịa –. Bác biết là đất liền rất quý các
thứ dân đảo không dung làm gì nên bảo Hương chuẩn bị cho cháu một túi đựng
ít vàng, một túi đựng ít kim cương và một túi thuốc cho hai cụ bổ dưỡng. Trở lại
nhà và nhiệm sở, chắc chắn cháu sẽ gặp trở ngại về việc giải thích cho mọi
người hiểu về câu chuyện cháu mất tích. Nhưng bác tin cháu sẽ xoay xở được.
Tuy nhiên cháu sẽ không hoàn thành được công việc mặc dù đã cố gắng hết sức
mình. Chừng nào, tự mình không thể giải quyết, cháu hãy xem bức thư thứ hai,
nó là cẩm nang chỉ đường cho cháu đó. Chúc cháu mọi sự tốt lành, an khang.
Bác”
Sau đó hai ngày, tôi nhận điện thoại phòng Tổ chức của Viện gọi đến ký hợp
đồng công tác. Lần này đến Viện, tôi không còn lạ lẫm gì đối với anh bảo vệ
nữa. Ló mặt ở cổng tôi chưa kịp nói gì, anh đã ân cần mời tôi vào thẳng như mọi
người. Anh trưởng phòng Tổ chức đưa tôi tờ hợp đồng ghi thành ba bản, bảo tôi
điền các thông tin cần thiết và ký vào đó. Đoạn anh dẫn tôi sang giới thiệu với
anh trưởng phòng Kỹ thuật. Bước vào căn phòng quen thuộc cũ nhưng bên
trong, tôi thật lạ lẫm với mọi sắp xếp bài trí hiện tại. Anh trưởng phòng nói đã
được viện trưởng và trưởng phòng Tổ chức cán bộ báo là sẽ nhận tôi vào làm
hợp đồng. Tôi là người cũ ở đây, nhưng bây giờ lại là người mới đối với Viện,
mới đối với nhiều người trong Viện, mới đối với công việc của Viện, cho nên tôi
phải làm quen với phong cách làm việc mới. Bây giờ, trên bàn mỗi nhân viên đều
có một chiếc máy vi tính. Tôi nghĩ bây giờ Viện giàu thật, dám sắm cả máy vi
tính cho mọi nhân viên. Trước mắt, anh trưởng phòng bảo, tôi phải học soạn văn
bản trên máy vi tính, học truy cập mạng internet và sử dụng bản đồ địa chất từ
mạng, học lập trình cho những bài toán cần thiết của Viện. Soạn văn bản và truy
cập sử dụng bản đồ không mấy khó khăn, có thể nhờ các bạn trẻ trong phòng
hướng dẫn giúp và thời gian tốn rất ít, tôi đã tiếp thu được ngay. Còn việc lập
trình, tôi phải đăng ký học ban đêm ở lớp của trung tâm tin học. Hồi còn làm
nghiên cứu sinh ở Cộng hòa Dân chủ Đức, tôi không phải bận tâm về công việc
lập trình. Tôi chỉ cần đưa ra mô hình toán để giải quyết đề tài, còn việc lập trình
theo mô hình toán của tôi để máy tính giải là việc của người khác. Điều này có
lợi là rút ngắn thời gian nghiên cứu của tôi. Nhưng bây giờ tôi mới thấy thấm cái
tác hại không lường trước của nó. Lẽ ra khi về nước công tác thời gian những
năm1979, 1980 tôi phải tham dự các lớp lập trình và sử dụng ngôn ngữ máy
tính, nhưng công việc cứ đến dồn dập cuốn hút làm tôi không còn thì giờ liên tục
để theo học. Vả lại, thời đó những máy vi tính chưa đủ mạnh để giải nhanh
chóng những bài toán lớn và phức tạp của ngành. Tuy mang danh tiến sĩ nhưng
nhiều khi công việc mới của Viện bây giờ làm tôi chới với, thực hiện một cách
chậm chạp, khó khăn. Cứ mỗi ngày qua đi, tôi lại cảm thấy như mình đang tụt
hậu so với anh em, với kỹ thuật mới của ngành.
Ngoài việc học ở trung tâm tin học những ngày chẵn, tôi còn ghi tên học ở
trung tâm ngoại ngữ môn Hán-Nôm trong những ngày lẻ của tuần. Đương nhiên
là chỉ được học vào ban đêm. Sự thực thì tôi học không đến nỗi vất vả lắm, một
môn thì rất kim, còn môn kia thì rất cổ. Tôi chỉ cảm thấy mệt về thể xác do ngày
làm trọn tám tiếng, đêm phải đi học ba giờ nữa rồi còn phải học thuộc lòng cái
thứ chữ không nhớ không được, còn làm các bài tập lập trình cho máy tính hoàn 36
toàn không dễ dàng gì. Coi như tôi không còn thì giờ rảnh rỗi để nghỉ ngơi. Tiền
lương hợp đồng của tôi không đáng kể, còn chi thêm cho học phí hai lớp đêm,
nên tôi phải bán dần vàng và kim cương, đem tiền về cho bố mẹ chi tiêu thêm.
Học lập trình chỉ cần ba tháng là xong, bởi vì tôi có thể học thêm ở sách và
làm thực hành thêm ở cơ quan. Tổn hao tâm lực nhiều là ở cái chữ Hán, chữ
Nôm. Để có thể đọc thông viết thạo và hiểu sâu sắc ý tứ những áng văn thơ của
người xưa, tôi phải học cật lực trong bốn năm. Thanh cứ bảo đùa nếu thất
nghiệp ở ngành địa chất, tôi có thể xin việc làm ở công ty du lịch, cuộc đời nhàn
nhã thăm thú đây đó quanh năm mà trong túi lúc nào cũng cộm vé. Thanh còn
bảo thêm, những ngày chẵn, tôi nên học thêm tiếng Anh là thứ tiếng phổ thông
của những nhân viên ngành du lịch.
Từ ngày lưu lạc trở về nhà, thấm thoắt đã được năm năm. Thanh ra trường
được ba năm nhưng chưa xin được việc làm. Thực ra thì có việc đó, một trường
phổ thông trung học tỉnh xa thiếu giáo viên dạy môn lịch sử nhưng Thanh không
muốn thân gái một mình rời xa nhà, nói là cần gần gũi chăm sóc bố mẹ già của
tôi. Phần tôi, càng ngày, tôi càng cảm thấy mình lạc lõng xa lạ ở cơ quan, bởi
mọi người nhìn tôi theo kiểu coi tôi có danh mà không có thực. Giữa năm, bố mẹ
tôi đột ngột tiếp nối qua đời cách nhau chỉ có một tháng. Còn lại một mình cùng
với em Thanh trong căn nhà rộng cô quạnh, hai anh em chúng tôi cảm thấy trống
rỗng, chới với. Suốt ba tháng liền, tôi phải xin phép cơ quan nghỉ để lo việc ma
chay. Tang tóc mất người thân là một cái gì vô hình nhưng đè rất nặng lên thể
xác và lên cả tâm hồn chúng tôi.
Trong thời kỳ khủng hoảng tinh thần này, tôi chợt nhớ tới bức thư thứ hai
của ông cụ. Mấy đêm liền, tôi cứ trằn trọc phân vân không rõ có phải đã đến lúc
mở bức thư này ra xem không. Trong bữa cơm tối, tôi trao đổi chuyện này với
Thanh. Đáng lẽ cùng bàn bạc kỹ, phân tích đầy đủ nguồn cơn với tôi, vì tò mò
Thanh giục tôi hãy mở thư ra xem ngay. Tôi đi lại tủ lấy ra mảnh lụa và cái kéo.
Sau khi cắt ba mép khâu tay, tôi trải rộng bức thư viết trên mảnh lụa lên bàn.
Thanh tranh đọc to bức thư lên như sau.
“Cháu Nam thân yêu, 37
“Bác biết trước là hai cụ thân sinh ra cháu không thể thể lâu hơn nữa. Cầu
mong cho linh hồn hai cụ siêu thoát. Cháu nay hãy chấm dứt duyên nợ với đất
liền mà trở lại với đảo. Mọi người ở đây rất mong cháu. Giáng Hương có cảm
tình với cháu. Nếu cháu không chê con gái bác, bác sẵn lòng gả nó cho cháu.
Cháu đã hiểu rõ dân đảo như thế nào rồi đó. Bác biết cháu còn nhiều vàng và
kim cương. Cháu suy nghĩ cái gì sẽ cần cho dân đảo thì hãy mua mang theo.
“Về em gái cháu, bác biết nó cũng có duyên nợ với đảo như cháu. Nếu em
cháu đồng ý từ bỏ đất liền, cháu có thể đưa nó đi cùng. Nhưng phải tự em cháu
quyết định. Tuy là số mệnh, nhưng cũng có ngả rẽ. Tự mình chọn ngả rẽ cho
cuộc đời mình, điều này trời cho phép.”
“Những điều cần nói, bác đã nói hết. Mong cháu trở lại bình an. Bác”.
Thanh nhìn tôi với ánh mắt ngạc nhiên. Tôi đứng lên, đi lại bàn thờ đốt mấy
nén hương lâm râm khấn tạ lỗi hai linh hồn bố mẹ vì đã nói dối lúc bố mẹ còn
sống. Sau đó, tôi kể lại câu chuyện thực cho Thanh nghe để sau đó Thanh sẽ tự
mình quyết định ngả rẽ quan trọng định đoạt cuộc đời mình trong tương lai. Tôi
còn nói kỹ về sự lệch pha thời gian giữa đất liền với đảo hiện đang tồn tại và nó
là nguyên nhân đích thực để giải thích vì sao tôi còn giữ được tuổi thanh xuân
như hồi ra đi mất tích nơi biển cả. Thanh tò mò hỏi :
– Anh có thấy nghi ngờ gì về chuyện ông cụ sống 25 năm trên đảo tương
đương với gần 600 năm ở đất liền, thế mà hiện nay anh chỉ mới ở 3 ngày trên
đảo mà đất liền xem anh mất tích 20 năm rồi không ?
– Lúc mới từ đảo về, anh cũng có tự hỏi về sự lệch pha khác lạ này. Nhưng
anh chỉ có thể giải thích là không hề có mối quan hệ phụ thuộc nào về thời gian
của đảo và của đất liền để mà so sánh.
– Anh Nam biết không, ở nhà cứ mỗi lần làm đám giỗ anh, bác gái lại cứ trăn
trở chép miệng mà rằng “Không biết con bé Giáng Hương nó ở đâu để báo cho
nó biết là anh không còn nữa để đừng chờ đợi mà lỡ cả tuổi thanh xuân của
người ta”.
Tôi ngớ ra vì ngạc nhiên :
– Giáng Hương nào ?
– Là em chỉ nghe hai bác nói vậy thôi chứ em có gặp chị ấy bao giờ đâu !
– Theo lời hai bác nói thì Hè năm 1974, hồi anh đang còn học đại học ở Đông
Đức, anh có về thăm nhà. Đi cùng anh có một chị nói là cùng học với anh ở bên
ấy tiện đường đi ghé thăm hai bác.
– Thế hai bác nói sao ?
– Bác gái bảo chị ấy đi trước, còn anh ở nhà chơi mấy ngày lại ra đi. Bác có
khen chị ấy xinh xắn nhu mì, ra dáng con người phúc hậu, giá như làm dâu cho
nhà ta thì hay biết mấy !
Càng nghe Thanh nói tôi càng không hiểu ra làm sao cả. Căn vặn mấy cũng
không tìm ra điều gì hơn, đành cho qua.
Cũng phải mất mấy ngày sau, giam mình trong phòng, sống như người mất
hồn, Thanh mới nói lời quyết định đồng ý ra đi cùng tôi. Căn nhà thế là không
còn ai ở. Tôi bàn với Thanh giao lại chủ quyền nhà cho Lan, con bác viện trưởng
cũ của tôi. Thời gian tôi làm thủ tục giao nhà thì Thanh cũng tranh thủ đi về quê
thăm bà con họ hàng nội ngoại. Tôi có nói lý do vì sao tôi muốn trở lại định cư ở
đảo người Polynesien nơi có hai cụ thân sinh nhận tôi làm con nuôi. Sẽ không 38
biết bao giờ còn trở lại quê hương và không thể để nhà vắng chủ nên tặng nó
cho Lan là cách giải quyết tốt nhất trong tình huống hiện nay đối với tôi. Ngoài
ra, tôi còn đến Viện nêu hoàn cảnh khó khăn, chấm dứt hợp đồng làm việc.
Trong thời gian chờ đợi 100 ngày qua đời của mẹ tôi, tôi bỏ tiền mua chuyển
dần về Thanh Hóa gửi nhờ nhà người quen tivi, radio, bộ linh kiện bán dẫn thu
điện từ ánh sáng mặt trời mỗi thứ mười bộ, mỗi bộ có công suất 1000 Wp, hai
bộ linh kiện dùng cho trạm phát điện công suất 40 kW chạy bằng sức nước ở
một cái thác cao 14 m, một máy xay xát lúa, một máy xay bột, ba mươi bình
acquy, một máy khoan, một máy bơm nước, dây dẫn, bộ đồ nghề điện và cơ khí,
cầu dao, ổ phích cắm, tuốc vít, ốc vít các loại. Ngoài ra tôi còn mua lưới đánh cá,
phao bơi, vải vóc, kim chỉ, máy may đạp chân, giấy bút, phấn viết, bảng đen,
mực tàu, ống nhòm, la bàn, đồng hồ, quạt điện, tủ lạnh, phích nước. Tôi biết rõ
đảo có mấy gia đình, mỗi gia đình mấy người. Dụng cụ gia đình thì mỗi gia đình
sẽ có một chiếc tỷ dụ như tủ lạnh, quạt điện, tivi, radio bán dẫn. Cá nhân mỗi
người sẽ có đầy đủ đồng hồ đeo tay, khăn, mùng, mền. Dao rựa cuốc xẻng tôi
mua khá nhiều. Riêng máy cày, tôi đang phân vân và rồi không mua bởi ở đảo
việc mua và trữ xăng dầu rất khó khăn. Vả lại, không khí ở đây đang trong lành
một cách lý tưởng, xăng dầu chắc chắn sẽ gây ô nhiễm môi trường làm biến mất
nhanh chóng ân huệ mà trời dành cho đảo.
Trước hôm đi, hai anh em chúng tôi mua thuyền, thuê người mang mấy thứ
đã sắm chất lên. Tôi nói với những người làm thuê là mua giúp dân đảo những
đồ dùng cần thiết theo yêu cầu của chính quyền với hóa đơn đã ghi rõ ràng để
thanh toán. Để tránh sự tò mò không cần thiết của mọi người, ngay khuya hôm
đó, anh em toi đã lên thuyền, nổ máy ra khơi. Những thức ăn khô như bánh mì,
mì ăn liền, những lương thực thực phẩm chế biến công nghiệp, các loại nước
uống giải khát đóng chai, chúng tôi mang theo khá nhiều không hẳn dành cho
chuyến đi mà còn để làm quà tặng cho mọi người ở đảo nếm thử.
Vì lần đi này bằng thuyền máy nên chúng tôi chỉ mất khoảng một buổi là gặp
vùng mây mù. Tôi cho thuyền giảm bớt tốc độ, bắt đầu rẽ sương mù mà đi.
Thanh cứ nhìn đăm đăm mọi cảnh vật xung quanh với cặp mắt ngỡ ngàng.
Tôi nói với Thanh :
– Chúng mình vốn có duyên với đảo nên mới nhìn thấy ngay lớp mây mù
này. Còn những người khác thì không chắc lắm, có thể tại đây trước mắt họ vẫn
chỉ là một vùng biển nước mênh mông. Nói theo ngôn ngữ vật lý, chúng ta đang
bước sang một hệ quy chiếu mà không gian và thời gian hoàn toàn khác biệt với
đất liền.
Chừng một giờ sau, thuyền ra khỏi vùng mây mù. Nhìn xuống phía dưới, tôi
nhận thấy đá lởm chởm cùng rặng san hô nên cho thuyền dừng lại. Tôi kéo còi
réo liên tục một hồi dài, đưa ống nhòm lên nhìn vào bờ. Một số người trên bãi
biển tụ lại nhóng mắt nhìn ra có vẻ lạ lùng. Một lúc, tôi nhận ra dáng đi của ông
cụ. Chắc cụ biết trên thuyền là ai rồi. Cụ giang tay vẽ thành một vòng ngụ ý bảo
chờ đợi, sau đó cụ chỉ tay xuống mặt biển rồi từ từ đưa lên, tôi hiểu là phải chờ
thủy triều lên mới đón vào được. Tôi kéo một hồi còi ngắn tỏ ý là đã hiểu. Qua
ống nhòm, Thanh thấy mấy thanh niên khoẻ mạnh đang chuẩn bị bè ra rước.
Ước có khoảng hơn chục chiếc bè và mỗi người phụ trách một chiếc đang cầm
sào dài chờ đợi. Hiện tại ở đảo là buổi sáng sớm. Tôi nhìn thấy con nước bắt 39
đầu dâng từ từ, nhấn chìm các đỉnh đá lởm chởm và đầu rặng san hô tạo nên
những đợt sóng lăn tăn xô vào bờ. Cũng phải đợi khoảng một giờ sau, anh em
chúng tôi mới thấy các tay chèo hăm hở chống bè lao ra. Mọi người vừa la hét í
ới vừa vẫy tay ra vẻ hoan hỉ. Tôi thả thang dây, kêu hai thanh niên lực lưỡng lên
thuyền bê chuyển dần mọi thứ xuống bè. Những vật nặng cồng kềnh xuống
trước. Sau đó mới đến những thùng hàng nhẹ. Tôi cho Thanh đi vào bờ trước
cùng chuyến bè đầu tiên, bảo tìm hỏi Giáng Hương và tự giới thiệu mình là em
gái anh Nam. Thanh lóng ngóng leo thang dây bước xuống bè, lòng rạo rực lẫn
lộn buồn vui, pha chút hoang mang không rõ sự thể sẽ dẫn cuộc đời mình đến
đâu. Vì bè nhỏ, mỗi bè phải chở hai chuyến mới hết hàng. Trên chuyến bè cuối
cùng, tôi nhờ người phụ giúp neo chắc thuyền vào đá, cầm dây giật thử xem có
lay chuyển được không rồi mới yên tâm đi vào.
Những ngày tiếp theo không khác ngày hội ở đảo. Còn hơn cả ngày hội vì có
những thứ lạ mắt mà suốt cuộc đời của mỗi người ở đây, chưa ai được nhìn
thấy bao giờ và không hiểu nó sẽ dùng vào việc gì. Nhà ông cụ hôm đó lại mở
tiệc đón, vẫn những khuôn mặt quen thuộc nhưng khác bữa tiệc tiễn đưa cách
đây hơn một ngày – bằng cả thời gian năm năm ở đất liền – còn có nhân vật mới
là em Thanh. Thanh tuy là khách đặc biệt vừa lạ vừa mới, nhưng vì là nữ nên cứ
phải ngồi mâm “nữ nhi” dành cho đàn bà con gái và trẻ con. Khác với lần trước
ngồi ăn âm thầm với nhau, lần này câu chuyện ở mâm nữ nhi rôm rả hẳn lên,
nhiều khi ồn ào lấn át cả mâm của các đấng mày râu. Người hỏi là tất cả mọi
người trong mâm, người trả lời là Thanh, cho nên sau bữa cơm khi trên đường
trở về nhà Giáng Hương để nghỉ, Thanh phải thú thật là hôm nay, em mệt nhoài,
mâm cơm tú hụ thức ăn nhưng bụng em mới còn lưng lửng chưa tới một nửa,
làm Giáng Hương phát phì cười. Tôi bảo em khoi lo, chốc nữa ta làm tiếp bữa
tiệc nho nhỏ mì ăn liền để chiêu đãi riêng chị Giáng Hương và cháu Tích thưởng
thức mùi vị của thực phẩm thời công nghiệp. Rồi tôi nhờ cháu Tích chạy ù té về
nhà trước, bắc ngay siêu nước lên bếp nấu cho nước réo sôi lên.
Về đến nhà, tôi nhờ Giáng Hương mang lên ba cái bát lớn kèm theo ba cái
đĩa cũng lớn. Tôi rạch mở thùng mì lấy ra ba gói xé bao bỏ mì vào bát, còn
Thanh xé các bao tương dầu, rau khô và muối rắc lên trên. Giáng Hương quan
sát chúng tôi làm. Tôi mở thêm hộp cá mòi gắp đặt vào mỗi bát một con. Cùng
vừa lúc cháu Tích mang lên siêu nước sôi khói bốc nghi ngút. Thanh đón lấy đổ
nước vào mỗi bát vừa săm sắp ngập nắm mì rồi lấy đĩa đậy lại. Lúc bấy giờ, mùi
thơm của mì mới bốc lên ngào ngạt hấp dẫn rất lôi cuốn người chưa từng ăn
bao giờ. Phải chờ khoảng năm phút, cho nên để mọi người không sốt ruột, tôi
bắt đầu giới thiệu Thanh cho Hương nghe. Nếu ở đây Giáng Hương đậu Tiến sĩ
thì ở đất liền Thanh mới lấy được bằng Cử nhân thôi. Cả hai người cùng đều
thấy lạ và cùng ngạc nhiên như nhau. Họ định nói gì nhưng tôi kịp ngăn lại, bảo
có thắc mắc gì hẳn hỏi sau. Thanh rành môn lịch sử, biết rành chữ Hán, chữ
Nôm nên có thể sau này chị em tha hồ đàm đạo với nhau. Nhưng Giáng Hương
thì mù tịt lịch sử, còn Thanh thì tứ thư ngũ kinh một chữ bẻ đôi không biết, cho
nên hai người tránh hai cái chỗ yếu đó, đừng có đánh đố nhau mà sinh ra ẩu đả.
Lần này cả hai đều phì cười. Tôi bảo thời gian tếu đã hết, bây giờ mở đĩa ra đi,
bê bát đặt lên đĩa, trịnh trọng tay trái cầm thìa, tay phải cầm đũa và bắt đầu ngay
kẻo nguội hoặc mì nở to quá mất ngon. Giáng Hương thấy tôi không có phần, 40
đẩy bát mì về phía tôi. Tôi cảm ơn và nói bụng tôi không còn chỗ chứa, ở đất
liền những lúc lười nấu nướng, ăn mãi cái món này đã phát ngấy lên rồi. Nhìn
hai mẹ con Giáng Hương xì xụp ngon lành cái món lạ lẫm đó, tôi hỏi Tích :
– Mì thế nào, cháu ?
Tích thành thực :
– Ngon tuyệt chú ạ !
– Ngon thế này, chú phải trở về đất liền mua mì ra đảo bán mới được. Chắc
sẽ đắt hàng lắm đây !
Giáng Hương hỏi :
– Thế anh bán bao nhiêu tiền một gói mì ?
– Chỉ cần một hạt kim cương thôi.
Thanh kêu to :
– Sao anh chém người mạnh thế ! Buôn bán gì cũng phải để đức cho con
cháu chứ !
Tích nói ngay :
– Cháu đồng ý ! Ngày mai, cháu lên suối bốc cho chú một túi đầy kim cương,
thế là cháu được ăn mì cả năm.
Thanh kinh ngạc :
– Lại có chuyện đó à ?
Thanh kinh ngạc là phải, bởi vì mặc dù tôi có đem vàng, ngọc trai, kim cương
về đất liền nhưng Thanh chưa hình dung được ở đảo lại có cả suối vàng, suối
bạc, suối kim cương và ngọc trai thì nhiều vô kể. Cho nên Thanh đồng ý cùng tôi
ra định cư ở đảo là hoàn toàn trong sáng, không phải vì mê vàng bạc châu báu
tại đây.
Tôi nói với Thanh :
– Đảo này không những có suối kim cương mà còn có suối bạc, suối vàng
nữa đấy. Khi em xuống suối vàng tắm ấy à, chỉ một lúc thôi là vàng sẽ bám vào
người em một lớp dày, lên bờ chỉ cần lấy que gạt thì cũng được một bát đầy
vàng bột.
Trong khi Thanh đang trố mắt kinh ngạc, Giáng Hương đấm vào vai tôi :
– Anh Nam này chỉ được cái nói trạng. Thanh đừng có tin. Có suối vàng
nhưng không có chuyện khi tắm, vàng bám vào người đâu.
Bỗng Thanh hỏi một câu mà không ai hiểu gì cả :
– Chị Giáng Hương này, chị đã từng đi du học ở Đức cùng với anh Nam phải
không ?
-…..
– Bác gái mẹ anh Nam nói với em là đã gặp chị và cứ ao ước có một cô con
dâu như chị đó !
Tôi nhìn Giáng Hương lắc đầu không hiểu. Tôi đâu có biết rằng chỉ khoảng
một tháng nữa thôi, bí mật này sẽ được giải tỏa. Lần đó, xin phép cụ tư đồ xong
tôi cùng Giáng Hương vào thăm đất liền. Không ngờ lúc này nhằm vào chu kỳ
thời gian quay ngược, tôi và Giáng Hương rơi vào năm 1974 của đất liền. Đó là
năm tôi còn học ở Đông Đức. Lòng bồi hồi khôn tả, tôi đưa Giáng Hương về
thăm nhà và bảo trước mọi điều để Giáng Hương chuẩn bị tinh thần trong nghịch
cảnh xảy ra quá bất ngờ. Thời kỳ này, tuy máy bay Mỹ không còn quần đảo trên
bầu trời nhưng không khí chiến tranh vẫn đang hừng hực như thể sắp chuẩn bị 41
đi vào chặng cuối. Tôi nói với bố mẹ là mình cần về Việt Nam lấy số liệu để làm
luận án, cô bạn đi cùng tên là Giáng Hương cũng học ở Đức ghé nhờ một đêm,
sáng hôm sau ra ga về Thanh Hóa sớm. Tuy thời gian gặp nhau không nhiều
nhưng Giáng Hương đã để lại trong tâm hồn hai cụ ấn tượng đẹp và tình cảm
thân thiết. Dẫu sao, dù bây giờ đã là người thiên cổ bố mẹ tôi coi như đã từng
gặp Giáng Hương, con dâu tương lai mà hai người hằng mong ước.
Ở đảo, việc ngủ nghê rất đơn giản. Nếu nhà có khách, thiếu giường chõng
có thể ra bãi biển ngủ. Thế là chúng tôi rủ nhau ra bãi. Vun cát lên hơi cao một
chút làm gối, tôi nằm cạnh cháu Tích. Cát biển rất sạch và mát rượi. Đặc biệt tôi
chú ý không tìm thấy ở đây một con muỗi nào bay vo ve quấy nhiễu như ở đất
liền làm người ta không muốn cũng đành phạm tội sát sinh. Tôi kể câu chuyện ở
đất liền về sự tích con muỗi cho mọi người cùng nghe.
– Ở đất liền ngày xưa có một cặp vợ chồng làm nghề chài lưới sống rất mực
yêu thương nhau. Một hôm chị vợ bị ốm lăn ra chết. Người chồng quá đau khổ,
đáng lẽ mua quan tài khâm liệm chôn vợ lại cứ giữ xác vợ mình nằm trong
thuyền chèo lang thang đó đây than khóc. Bụt thấy cảm động xin Diêm vương
tạm tha mạng vợ chàng, sau đó hiện lên bày chàng trích một giọt máu nhỏ vào
miệng vợ. Thế là vợ chàng sống lại. Hai vợ chồng trở lại cuộc sống yêu thương
như trước. Nơi xóm chài sinh sống cũng là cảng biển thương lái ra vào tấp nập.
Nhìn thấy người phụ nữ có nhan sắc sống trong cảnh nghèo hèn, một tay lái
buôn giàu gạ người vợ bỏ chồng theo gã sống cuộc đời phong lưu giàu sang.
Người vợ nghe bùi tai lén bỏ chồng ra đi. Người chồng mất vợ không thiết làm
ăn, lại một mình chèo thuyền lang thang than khóc. Bụt thương cảm hiện lên bảo
vợ bạc tình trốn đi theo người giàu, lúc nào gặp vợ, con nên đòi lại giọt máu
chung tình xưa. Quả nhiên mấy hôm sau chàng gặp lại vợ ăn mặc sang trọng
trên một chiếc thuyền buôn lớn. Chàng bảo hai người đã không còn duyên nợ,
nay chỉ xin trả lại giọt máu của chàng ngày xưa đã cứu nàng sống. Ôi, một giọt
máu thì có đáng gì, người vợ phụ tình vội lấy kim trích máu. Khi một giọt máu
hồng rơi xuống thì người vợ cũng ngã theo và chết. Người chồng lần này chèo
thuyền bỏ đi, không thèm mang xác vợ theo nữa. Người vợ cần lại giọt máu của
người chồng cũ để sống lại, mới hóa thành con muỗi, chuyên tìm người hút máu.
Cho đến nay, chưa hút được giọt máu của người chồng nên người vợ phụ tình
vẫn bị giam trong lốt con muỗi.
Hai mẹ con Giáng Hương nghe chuyện say sưa. Thanh nói thêm:
– Trong đất liền muỗi nhiều vô kể. Nó bay và lén chích hút máu người, có loại
còn truyền bệnh sốt rét. Mỗi ngày, ký sinh trùng sốt rét hại chết khoảng ba nghìn
trẻ em ở các nước nghèo.
– Thế muỗi có gây hại cho người lớn không, hả chú ? – Tích tò mò hỏi.
– Muỗi đâu có chừa người lớn ! Muỗi truyền bệnh sốt rét mỗi năm giết vừa
người lớn vừa trẻ con của thế giới trên quả địa cầu này đến hai triệu người đó !
– Ở đây hoàn toàn không có con muỗi nào. Có lẽ vì không có người nghèo
làm nghề chài lưới, không có lái buôn giàu hám sắc và cũng không có người vợ
phụ tình – Giáng Hương nói vui.
Không thể đoán ra được hình hài con muỗi thế nào, Tích lạ lẫm :
– Con muỗi to bằng ngần nào hở chú ? Bằng con dơi chăng ?
Thanh trả lời hộ tôi : 42
– Không đâu. Bằng con dơi thì khiếp quá. Nó bé tẹo bằng đầu que tăm đã
làm người ta khó chịu điêu đứng biết bao nhiêu rồi.
Tích than :
– Thế thì hãi quá ! Cháu không tưởng tượng được ở đất liền sao lắm thú dữ
vậy.
Tôi bảo :
– Chỉ có muỗi cái mới hút máu, muỗi đực thì không.
Giáng Hương cười chế giễu :
– Anh Nam lại nói trạng rồi. Anh nhận biết con muỗi nào là cái à ?
– Anh nói thật đấy ! Khoa học bảo thế. Muỗi đực chỉ hút nhụy hoa. Thôi, bây
giờ chúng ta ngủ đi. Anh thấy thấm mệt rồi.
Giáng Hương nằm cạnh Thanh, hai chị em còn thủ thỉ với nhau những gì,
khẽ quá tôi không nghe được. Chừng nửa giờ sau, mọi người chìm vào giấc ngủ
sâu, yên bình và vô tư.
LẮP ĐẶT MÁY MÓC CHO MỌI NHÀ
Hôm sau, ăn sáng xong, Tích cắp sách đi học. Thanh, Giáng Hương cùng
tôi sang nhà ông cụ. Đồ đạc lỉnh kỉnh chiều hôm qua còn bày đầy trên bãi biển.
Tôi nhờ người tạm thời trùm tấm nhựa rộng lên toàn bộ tài sản mà tôi mang theo
đến đây. Những thứ nhỏ, vụn vặt mang vào sân nhà ông cụ. Tôi cầm bảng liệt kê
các thứ, viết bằng chữ Nôm trên tờ giấy trắng mang từ đất liền vừa đọc vanh
vách vừa giải thích cho ông cụ biết công dụng và sẽ lắp đặt tại đâu hay phân
phối cho ai sắp tới. Giáng Hương nhìn tôi kinh ngạc hỏi tôi học được chữ Nôm
từ bao giờ vậy. Tôi phải nói ngay đó là ba năm đèn sách hao tổn không biết bao
nhiêu là tiền của và tâm lực của tôi đó. Tôi hỏi Thanh :
– Lúc anh từ đây về đất liền, anh 25 tuổi bằng tuổi chị Giáng Hương. Bây giờ
em trông, anh và chị ai già hơn ai ?
Thanh nói ngay :
– Anh già hơn chị ít ra cũng 5 tuổi.
Giang Hương đốp ngay :
– Đừng hòng ! Ngược lại chị còn già hơn anh Nam những hơn nửa thế kỷ đó.
Tôi lè lưỡi :
– Xin lỗi cụ cố. Em chịu thua cụ đấy ạ !
Cụ tư đồ nhìn chúng tôi cười xòa :
– Thôi, đừng kê nhau nữa. Ta không thể so sánh tuổi của nhau theo kiểu này
được.
Rồi ông cụ bỗng trầm ngâm như bất chợt cảm thấy một điều gì không hay
sắp xảy ra.
– Ta còn trở lại chuyện rắc rối này. Sẽ có lúc không ai ngăn được chuyện
thằng Tích, con Vi bỗng chốc chỉ vài ngày thôi đã già bằng tuổi của mẹ chúng !
Giáng Hương là người ngỡ ngàng trước tiên vì chưa bao giờ nghĩ tới chuyện
ấy và điểm mấu chốt là chưa thể hiểu được thâm ý của bố mình nói về điều gì.
Tôi bảo Thanh khui một thùng lấy ra chiếc radio bán dẫn bỏ pin vào và mở
thử xem có bắt được đài nào của thế giới bên kia không. Khi có tiếng bật mở
máy, Thanh vặn nút dò kênh thì nghe được ở bất kỳ chỗ nào của các kênh cũng 43
chỉ những tiếng léo nhéo rít róng. Tôi nhớ lại thời xưa khi còn quay đĩa máy hát,
nếu nhỡ đặt nhầm đĩa nhỏ tốc độ chậm 24 vòng/phút nhưng cho quay nhanh
theo đĩa lớn tốc độ 78 vòng /phút sẽ ngay tức thì giọng hát người già biến thành
giọng trẻ con 6 tuổi và giọng trẻ con thì léo nhéo cao vút đinh tai nhức óc không
nghe nổi. Ôi, tôi hiểu ra rồi. Không thể liên lạc với thế giới của quê hương xứ sở
mình bằng làn sóng radio phổ thông được. Mặc dù ta không cảm nhận nhưng ở
đó, tốc độ thời gian nhanh gấp trăm nghìn lần ở đảo, vì vậy tốc độ lời nói tieng
ca cũng nhanh gấp trăm nghìn lần, tần số của nó không còn nằm trong ngưỡng
âm thanh nghe được của con người. Thế là xếp xó mọi radio mà tôi mang ra
đảo. Đương nhiên số phận của mấy chiếc tivi cũng không hơn gì dẫu cho có lắp
kèm theo chảo parabôn.
Tôi quay sang bắc thang leo lên mái nhà ông cụ lắp đặt một tấm panen bán
dẫn thu nhận ánh sáng biến ra điện năng. Chờ mấy mươi phút, tôi bật thử tiếp
mạch một bóng điện nhỏ, ánh sáng của nó phát ra rực rỡ. Thế là thành công rồi.
Tối nay, nhà ông cụ sẽ chật ních người đến chiêm ngưỡng thế giới ánh sáng văn
minh đây. Nhằm chia bớt gánh nặng người tụ tập quá đông ở một nhà ông cụ,
tôi mang ngay một bộ panen bán dẫn khác sang lắp tại nhà bác đề đốc. Sau khi
hướng dẫn người của bác cách bật đèn sáng, tắt thế nào rồi, tôi trở về nhà ông
cụ lắp thêm chiếc tủ lạnh nhỏ. Mới tích trữ điện vào acquy không nhiều, tôi chưa
dám cho tủ lạnh chạy.
Tối hôm đó, tôi mắc một bóng đèn nhỏ ra sân cho mọi người chiêm ngưỡng,
một bóng ở bếp và một bóng ở nhà ngang để có ánh sáng ăn cơm. Tôi và Thanh
được mời ở lại ăn cơm với gia đình. Giáng Hương và cháu Tích cũng đến ăn
cơm với bố mẹ ông bà. Tôi nói vui với Thanh là tối nay, Thanh giả vờ đau răng,
cứ bình tĩnh ăn và ra dấu không nói được, chờ bụng no rồi hẳn trả lời. Thanh
phát vào lưng tôi bảo lém lỉnh vừa vừa kẻo gia đình nhà gái sợ từ chối rồi anh
em phải cuốn xéo sớm về đất liền không còn chốn nương thân, sắm bị gậy đi ăn
xin ở nhờ thôi.
Tôi ra sân bảo với mọi người rằng sáng mai mỗi nhà hãy cho người chờ
chúng tôi mang bộ panen đến lắp để tối mai, nhà nào cũng có bóng đèn điện
dùng, khỏi phải dùng đèn dầu tù mù không đủ sáng. Mọi người ồ lên vui vẻ và rủ
nhau ra về, trò chuyện râm ran. Tôi đoán đêm nay thế nào cũng có nhà mất ngủ
vì sốt ruột mong cho thời gian qua nhanh để sự kiện mới mẻ ban đêm chóng đến
với nhà mình.
Sáng hôm sau, tôi đến nhà bác đề đốc lắp đặt chiếc tủ lạnh trước rồi
sau mới cùng mấy thanh niên do ông cụ phân công mang panen cùng dây dẫn,
bóng đèn, công tắc đến lắp cho từng nhà. Chờ khoảng mươi, mươi lăm phút,
hướng dẫn cách sử dụng công tắc đèn xong, đoàn chúng tôi mươi người mới
lỉnh kỉnh mang xách đồ nghề chuyển sang nhà khác. Số nhà để lắp panen, đèn
không nhiều nên chỉ trong buổi sáng, nhiệm vụ đầu tiên của tôi đã xong.
May sao hôm ấy, bầu trời trên đảo trong xanh, ánh sáng mặt trời rực
rỡ suốt cả ngày. Đến đêm, bình acquy đầy điện, tôi bật công tắc tủ lạnh nhà ông
cụ. Mươi phút sau, sờ tay kiểm tra ngăn đá thấy mát, tôi bảo cháu Vi con anh cả
đem mấy bát nước đặt vào máy. Sau đó cả nhà kéo nhau sang nhà bác đề đốc
dự bữa cơm thân mật chào đón khách đất liền. Tôi lại kiểm tra bình acquy đầy
điện, bật công tắc cho tủ lạnh chạy và bảo Vi cũng đem mấy bát nước đặt vào 44
đó. Tôi bảo Thanh tìm thùng đựng quạt đem ra giúp. Vi chạy xuống bếp lấy con
dao. Tôi rạch thùng lôi ra các chi tiết và ráp thành một chiếc quạt đứng. Cắm
phích vào ổ điện, nhấn nút số 1, quạt quay vù vù thổi gió ào ào vào cháu Vi đứng
ngay đó. Vi kêu lên khoái chí :
– Mát quá mẹ ơi. Chú Nam làm ra gió !
Lúc đầu tôi có hơi lo liệu bình acquy với lượng điện sạc có đủ mạnh để
chạy vừa tủ lạnh, vừa quạt, vừa tivi, vừa radio và thắp cả mấy bóng đèn. Nhưng
giờ đây, tivi, radio không dùng được, nên acquy dư công suất. À, mà tôi quên
mất. Tôi bảo Thanh :
– Em lấy cho anh chiếc radio.
– Anh bảo radio không bắt được đài kia mà ?
– Không, mình dùng băng cát xét. Em lấy pin lắp vào máy rồi chọn bỏ
vào băng hát chèo cho hai cụ ông cụ bà nghe nhớ lại thời xa xưa đi.
Cả nhà bỗng vang lên giọng hát chèo trong trẻo tôi không nhớ là của
ca sĩ nào. Đang là vở chèo Tấm Cám. Ngoài ra có cả băng chèo Thị Kính Thị
Mầu, chèo Thạch Sanh giết chằn tinh. Khi đi, tôi nhớ mua đủ băng các loại dân
ca ba miền, băng các bài hát kháng chiến chống Mỹ, băng các bài ca của thiếu
nhi.
Bạn thử tưởng tượng ở một hòn đảo xa cách biệt với thế giới bên
ngoài, ban đêm nếu không phải giữa tháng có trăng thì tối đen như mực. Với
ngọn đèn dầu tù mù không biết có thể làm gì, nhà nào cũng tắt đèn đi ngủ sớm.
Bây giờ, nhà nhà rạng rỡ ánh đèn không dùng dầu, dốc ngược mà vẫn sáng, lại
có radio phát ra lời ca tiếng hát vui tai, hầu như không nhà nào đi ngủ sớm.
Đã dùng radio chạy băng, sao không dùng tivi và đầu đọc để chạy đĩa
CD ? Tôi lại lắp đặt ở nhà hai cụ trước rồi lần lượt cho các nhà dân sau.
Chỉ qua mấy ngày thôi mà bộ mặt sinh hoạt của dân đảo thay đổi hẳn.
Ở đây mọi người thực hiện được “chế độ cộng sản văn minh” sớm nhất trên địa
cầu rồi đó. Tôi đem ý này nói vui với hai cụ quan phong kiến, hai cụ cười xòa.
Ông cụ bố Giáng Hương bảo cụ đã biết trước đảo sẽ thay đổi rất nhiều từ khi tôi
đến, nhưng chưa hình dung ra nó thay đổi cụ thể như thế nào. Bây giờ thì thấy
rồi. Song cụ bảo, ta phải tổ chức triệu tập cuộc họp gấp nếu để muộn thì lỡ việc.
Thành phần tham dự là hai cụ ông quan và những sĩ phu của đảo bất kể nam nữ
đã đậu tú tài, cử nhân và tiến sĩ, văn cũng như võ. Đương nhiên với tiêu chuẩn
đó, tôi và Thanh đều tham dự mặc dù tiến sĩ và cử nhân này được đào tạo theo
bài bản khác. Thực tình ngồi họp ở gian nhà lớn của ông cụ, số trí thức của đảo
không quá mươi người. Quan tư đồ – mặc dù ở đảo không còn chế độ phong
kiến – điều khiển buổi họp. Đầu tiên ông cụ thông báo đề nghị mọi người biểu
quyết thu nạp tôi và Thanh bắt đầu từ giờ phút này thuộc về dân số của đảo. Mọi
người ồn ào sôi nổi vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt. Vậy là nghị quyết được thông
qua chóng vánh. Tiếp theo, cụ quan tư đồ chậm rãi phát biểu :
– Sau đây là chuyện gay cấn. Dân đảo muốn mở mang văn hóa tiến
kịp thời đại văn minh của địa cầu, không thể không gửi con em đi du học. Nhưng
điều cản ngại lâu nay ai cũng đã biết, mặc dù con người không cảm nhận được
nhưng thời gian của đảo và của đất liền hoàn toàn khác nhau. Chúng ta sống
qua ba ngày ở đây nhưng ở đất liền vật đổi sao dời là hai mươi năm. Ta có ý 45
định thế này muốn bàn với mọi người. Đầu tiên đảo sẽ cho hai cháu đi du học.
Là cháu nào, bố mẹ phải đồng ý tự nguyện. Học gì, chúng ta bàn ngay đây.
Bác đề đốc lên tiếng trước :
– Quan bác tư đồ biết được hậu vận từng người ra sao, ai đáng được cử
đi, số phận đã an bài theo mệnh trời, bác cứ nói thẳng ra, mọi người đâu dám
trái ý bác, ý bác là ý trời rồi.
– Hoàn toàn không phải thế. Các cháu mà ta dự kiến đang đứng trước hai
ngả rẽ của số mệnh. Nếu bố mẹ và bản thân cháu chọn đi theo ngả này thì
đường tương lai của cháu theo hướng này, còn nếu chọn ngả rẽ khác chắc chắn
tương lai cuộc đời sẽ khác. Ta muốn nói đến cháu Tích và Vi, anh chị cả và
Giáng Hương thấy thế nào ? Ta nói trước, hai cháu sẽ đi không lâu đâu, chỉ
không tới ba ngày sau là các cháu đã học thành đạt trở về. Nhưng trái lại, các
cháu sẽ phải qua hơn hai mươi năm trời ở đất liền, hy sinh tuổi thơ của mình,
không được tình thương âu yếm của bố mẹ, sống học tập dài ngày khi trở về
đảo sẽ già xấp xỉ bằng tuổi bố mẹ.
Tiếng ồ ngạc nhiên và tiếng nói trao đổi lào xào nổi lên khắp phòng.
Anh cả và Giáng Hương mới vỡ lẽ câu nói mà hôm qua ông cụ còn úp úp mở
mở. Cuối cùng rồi hội nghị cũng biểu quyết sau khi anh cả và Giáng Hương
đứng lên phát biểu đồng ý. Về ngành học thì tôi đề nghị cho Tích học ngành
Năng lượng, còn Vi học ngành Thông tin bưu chính viễn thông. Tôi giải thích cặn
kẽ ngành Năng lượng sẽ giúp đảo tận dụng năng lượng sẵn có của thiên nhiên
đảo phục vụ công việc chế biến và sinh hoạt, ngành Bưu chính Viễn thông giúp
đảo truyền tin nhanh chóng từ người này đến người kia dù đang ở bất cứ nơi
đâu trên đảo. Tôi còn đế thêm cho không khí bớt nặng nề là Tích và Vi có thể
chọn ý trung nhân ở đất liền và đem theo về phục vụ đảo nếu vận mệnh an bài.
Mọi người cười ồ tán thưởng.
Điều thứ ba mà cũng là điều cuối cùng của hội nghị. Cụ tư đồ trịnh
trọng tuyên bố sẽ làm lễ thành hôn cho tôi và Giáng Hương ngay chiều hôm nay
sau khi đã hỏi tôi và Giáng Hương lần cuối có đồng ý hay không. Và rồi ngay
đêm nay, hai vợ chồng tôi có trách nhiệm đưa hai cháu Tích và Vi vào đất liền bố
trí ăn ở học tập.
Hội nghị giải tán trong không khí xôn xao sôi động. Không mấy chốc tin
vui về cuộc hôn nhân của tôi và Giáng Hương đã lan ra khắp toàn đảo. Chiều
hôm nay, toàn đảo nghỉ làm việc, trẻ em nghỉ học chỉ để dự tiệc cưới của chúng
tôi. Người dân đảo mỗi khi hội hè tiệc vui, do ít người nên việc tổ chức cũng
chóng vánh. Đàn ông tự nguyện đến dựng chòi, các bà các chị tự nguyện đến
nấu nướng tại nhà ông cụ. Nấu đồ chay thôi và thay vì giết lợn gà, tôi bảo Thanh
mở các hộp thịt công nghiệp làm món mặn. Món mặn còn có cá và thịt sò ngọc
trai. Cũng cần kể thêm cả món tổ yến ở đất liền chỉ có nhà quyền quý mới dùng,
còn ở đảo nó là món ăn dân dã. Bình thường sò ngọc trai chỉ để nhậu lai rai,
nhưng dịp này chúng tôi cần hạt ngọc trai đem theo vào đất liền cùng với vàng
và kim cương lo chi phí cho hai cháu và mua sắm thêm mấy thứ. Mục đích là
nhà nào cũng có đầy đủ các vật dụng công nghiệp không phân biệt quan dân,
sang hèn trong cộng đồng cư dân của đảo. Người dân trên đảo chỉ phân biệt
trình độ văn hóa, khả năng lao động chứ không được phân biệt về hưởng thụ. 46
Thù hằn, ghen ghét, nói xấu nhau trên đảo là điều cấm kỵ. Chỉ có tình thương và
tình thương mà thôi.
Khỏi phải mô tả cảnh vui nhộn trong tiệc cưới của chúng tôi như thế
nào. Chính Thanh đã sắm sẵn từ đất liền mọi thứ đồ cưới cho tôi và Giáng
Hương, đóng trong một chiếc va ly to. Hôm nay, chú rể trịnh trọng trong bộ vét
đen, áo sơ mi trắng, thắt cà vạt đỏ, mang đôi giày da bóng lộn đi bên cạnh cô
dâu đẹp rạng rỡ trong bộ áo quần dài lụa trắng có thêu kim tuyến lấp lánh, đầu
kết vòng hoa vải cánh trắng nhụy vàng lá xanh, chân mang đôi hài kim tuyến.
Sau lễ khấn gia tiên, một màn múa hát theo kiểu nhã nhạc cung đình do Lê
Khán, một vị quan nhà Hồ cải biên đề xướng, được tiến hành. Một đội gồm tám
vũ nữ xiêm áo màu nâu viền lụa vàng, lưng và ngực áo có thêu các ký hiệu
đường nét của Kiền (☰), Khảm (☵), Cấn (☶), Chấn (☳), Tốn (☴), Ly (☲), Khôn
(☷), Đoái (☱) màu trắng, đầu cài nhành hoa lài trắng, mỗi người cầm một chiếc
đèn nhỏ thắp bằng nến sáp ong. Đội tấu nhạc cũng gồm tám người. Bốn nam
mặc áo dài the lụa màu chàm, khăn đóng màu chàm, quần trắng, phụ trách một
trống bản, một đàn nhị, hai sáo. Bốn nữ mặc xiêm y lụa màu vàng, khăn đóng
màu vàng, chơi một đàn tỳ bà, một đàn nguyệt, một tam âm và một phách tiền.
Giáng Hương nguyên là một vũ nữ giỏi giang nhất trong đám vũ nữ của nhã
nhạc, lần này đứng múa ở chính giữa (thể hiện Âm), còn chàng rể Nam (biểu
hiện Dương) cầm một chiếc đèn lồng nhỏ uyển chuyển lượn theo Giáng Hương.
Vì Nam đã từng học ở nước ngoài, rành các điệu nhảy đôi nam nữ của châu Âu
nên khi “múa” cùng Giáng Hương, Nam thực hiện các động tác một cách khéo
léo nhịp nhàng làm mọi người ngạc nhiên thán phục. Trong buổi lễ thành hôn
hôm nay, chàng phù rể là con trai bác đề đốc, ngượng nghịu trong bộ vét màu
xám, áo sơ mi kẻ ô, cà vạt xanh, mang đôi giày nâu. Cô phù dâu là Thanh, cũng
rạng rỡ không kém cô dâu trong bộ quần áo dài trắng nhưng không thêu kim
tuyến. Thanh lấy trong thùng ra chiếc máy ảnh kỹ thuật số và chiếc máy quay
phim, cả hai đều có màn hình tinh thể lỏng, hướng dẫn cho hai thanh niên trông
dáng chừng khôi ngô và nhanh nhẹn phụ trách chụp ảnh và quay phim lễ cưới.
Hai ông quan thời triều Hồ hôm nay cũng rất trang trọng trong bộ triều phục, duy
mũ cánh chuồn thì thay bằng khăn đóng màu nước biển. Còn lại các ông bà, các
cô cậu kể cả trẻ em ai ai cũng xúng xính trong bộ quần áo mới hệt như khi dự lễ
hội và trong dịp Tết. Mọi động tác, mọi bước trong quy trình của lễ cưới đều do
anh cả của Giáng Hương xếp đặt. Còn chương trình nhã nhạc là do bà cụ Giáng
Hương, nguyên là nữ quan phụ trách lễ nghi của triều Hồ, xây dựng. Sau màn
múa nhạc cung đình, Thanh ôm đàn ghi ta xin hát một bài nhan đề “Mối tình
vượt thời gian” để mừng cưới hai anh chị. Lời bài hát như sau.
Duyên tình sao khéo ỡm ờ ?
Nên duyên thì đến lọ chờ đợi nhau !
Năm trăm năm ơi ! Dù có qua lâu
Nguyện chân trời góc biển,
Nghĩa nặng tình sâu ta vẫn chờ.
Chiều nay kết tóc xe tơ,
Nhện ơi, nhện hỡi, lọ nhờ mối ai !
Em mừng anh chị hôm nay, 47
Sánh duyên Tần Tấn, đẹp rày lứa đôi !
Ôi ! Năm trăm năm càng thắm đượm tình sâu.
Duyên tình ôi ! Duyên tình ơi, hỡi ơi duyên tình.
Chả là nếu tính theo lịch của đất liền thì Giáng Hương sinh trước tôi ngót nghét
năm trăm năm mặc dù hiện tại, tôi già hơn Giáng Hương năm tuổi. Bài hát cùng
với nhạc cụ thời đại mới được cư dân đảo hoan nghênh nhiệt liệt bởi nó lạ và
đến hôm nay họ mới được thưởng thức trực tiếp. Còn bản thân Thanh, lúc này 48
cô chưa nghĩ ra rằng rồi đây chính mình cũng sẽ có một mối tình như vậy ở ngay
hòn đảo này. Nhưng điều không may là chẳng ai biết hát và đệm đàn mừng cô.
Có thể nói chiều nay, toàn thể cư dân đảo đều tề tựu đủ mặt tại nhà bác tư
đồ. Sau nghi thức lễ cưới, tiệc dọn ra trên các chiếu tre trải ở sân dành cho nam
riêng, nữ riêng và cả trẻ em cũng riêng một mâm. Hai ông quan cùng hai anh
con trai cả và tôi ngồi ở mâm dọn trên sập gỗ trong nhà.
Sau đám cưới, trước khi quay vào đất liền, tôi có dặn Thanh sao in các
ảnh chụp cùng với băng video đủ cho mỗi nhà có một bộ để xem chơi.
LỜI GIỚI THIỆU CỦA NGƯỜI DẪN CHUYỆN
Sáng hôm 25 tháng 5 năm 2020, có tiếng chuông bấm cửa nhà tôi. Tôi
đang trong phòng tập khí công thì Lan từ nhà bếp vội vàng chạy lên mở cửa.
Lan gọi giật giọng, không ra vẻ hốt hoảng cũng không tỏ thái độ vui mừng :
– Anh Minh, xuống đây mà xem ai đây này !
Đến bây giờ, người dẫn chuyện tự xưng là bạn quen của anh Nam là
ai, bạn đọc chắc đã đoán ra rồi đấy. Là tôi đây, là chồng của Lan, rể của cụ cựu
viện trưởng viện Địa chất, người từng ưu ái anh Nam hết mực, định gả Lan cho
anh ấy. Tôi không rõ tâm trạng của họ như thế nào, đương nhiên là cả nhà Lan
trừ tôi ra, khi nhìn thấy Nam còn trẻ măng vẫn giữ dung mạo của tuổi 25 mất tích
trở về trong khi Lan đã là một phụ nữ 40 có hai mặt con. Tôi và Lan có lẽ suốt
quãng đời còn lại sẽ không bao giờ quên cái ngày mà chúng tôi theo Nam và
Thanh đi làm thủ tục chuyển nhượng chủ quyền nhà. Người chúng tôi cứ lâng
lâng, đê mê, nửa mơ nửa tỉnh khi thấy mình bỗng dưng sở hữu một căn nhà một
trệt hai lầu, có vườn cây trái phía sau và đầy đủ tiện nghi bên trong. Cái đêm
cuối cùng Nam và Thanh đến chào từ biệt bố mẹ và hai vợ chồng tôi, Thanh còn
dúi vào tay Lan chiếc bị nằng nặng những viên sỏi vàng lẫn kim cương và ngọc
trai. Nam bảo Lan đừng khách sáo, anh đã mua đầy đủ các thứ ra đảo rồi, còn
để lại cho vợ chồng Lan dùng, nếu mang ra đảo trở lại có khác chi đem củi về
rừng. Sáng hôm sau, chúng tôi ra ga tiễn đưa hai anh em Nam và Thanh. Về
nhà, chúng tôi đem túi vàng, kim cương và ngọc trai về giao cho hai cụ. Cả một
gia tài chứ có ít đâu. Cụ bà thò tay vào túi bốc một nắm ghé mắt nhìn rồi bỏ vào
lại mà nói :
– Anh Nam có lòng cho, anh chị cứ giữ lấy mà dùng. Bố mẹ già rồi, dù có
mua thuốc tiên uống cũng không cưỡng lại tuổi già sức yếu. Già mà tẩm bổ
nhiều vào chỉ chóng chết thôi con ạ. Từ khi anh chị nhận giấy sở hữu nhà của
hai ông bà bên ấy, ta cứ suy nghĩ mãi. Hình như con Lan nhà mình và gia đình
bên ấy vẫn còn duyên nợ gì chăng mà anh Nam nhường cả gia tài. Ngày nay, vợ
chồng sống với nhau được mấy mặt con rồi đưa nhau ra tòa ly dị còn cãi cọ cưa
đôi gia tài chia nhau, huống chi Lan là gì đối với anh ấy mà hưởng trọn của cải.
Của cải do mồ hôi nước mắt mình làm ra có được mới là của lâu bền. Tuy
trong giấy tờ, nhà cửa bên ấy là của hai anh chị, nhưng hai anh chị phải ghi tạc
vào lòng rằng mình chỉ được ở nhờ giữ hộ nhà cho người ta thôi, không được tự
tung tự tác. Ngày giỗ chạp của hai cụ bên ấy, anh chị phải thay mặt anh Nam chị
Thanh lo cho đầy đủ, thế mới ra con người biết trọng nhân nghĩa ở đời.
Thật là một bài học sâu sắc đích thực mà chỉ có cụ mẹ Lan mới mở sáng mắt 49
cho vợ chồng chúng tôi. Bà còn dặn kỹ và cụ thể hơn đừng vì có tiền rủng rỉnh
mua sắm thêm những thứ xa hoa mà mang vạ vào thân. Hai vợ chồng vẫn cứ
đèo nhau trên một xe máy đến trường là đủ rồi. Đừng có bày đặt mua honda cho
cậu con trai, nó đi học bằng xe đạp, có honda phóng bạt mạng thì rước họa vào
nhà đó. Không hiểu sao bà đi guốc vào bụng dạ chúng tôi như vậy. Tôi ấp úng
vâng vâng dạ dạ để bà cụ yên lòng và từ bỏ mọi ý định dùng túi vàng Nam cho
để sắm sửa cái này cái nọ. Nhưng điều này thì hai nhạc phụ tôi không phản đối
mà còn hoan nghênh thêm là khác. Tôi và Lan bàn nhau cùng chấm dứt hợp
đồng tham gia lớp luyện thi của Trung tâm. Suốt cả ngày ở trường, chiều về còn
ghé dạy lớp luyện thi, mặc cho con cái lo cơm nước, 9 giờ đêm về đến nhà mệt
nhoài chẳng buồn ăn, tuy bụng đói nhưng miếng cơm nuốt vào cứ đắng nghét.
Không còn thì giờ để chăm sóc con cái. Vì đồng tiền miếng ăn mà cố khêu gợi
nhồi nhét vào mấy cái đầu non nớt bao nhiêu kiến thức không kịp tiêu hóa, thật
là phản sư phạm. Vợ chồng chúng tôi bỏ dạy, hai ông bà mừng ra mặt. Bà rỉ tai
ông bảo khỏi cần lo, chúng có của chìm do anh Nam viện trợ. Tôi đã bảo chúng
nó, của này không do mình làm ra, ăn tiêu phải dè sẻn không được phung phí
mà mang tội.
Tuy không dạy ở Trung tâm luyện thi, nhưng chúng tôi có đề nghị hiệu
trưởng cho phép tổ chức hai lớp giúp đỡ ôn luyện miễn phí tại trường dành cho
các em có hoàn cảnh gia đình khó khăn và thu nhận cả những em con nhà khá
giả nhưng sức học yếu, mất căn bản. Chúng tôi dạy nhưng không ép chúng làm
nhiều bài tập, chỉ giảng giải những cái cơ bản và dàn trải xuyên suốt giáo trình
chứ không cho học tủ. Chúng tôi hỏi gợi ý cho chúng trả lời rồi bắt chúng lặp đi
lặp lại để chúng nhớ lâu. Lớp học luôn luôn có không khí sống động, vui vẻ thoải
mái. Chúng học tiến bộ trông thấy. Có phụ huynh áy náy, bảo con đem “phong
bì” đến tặng chúng tôi, chúng tôi cảm ơn và thẳng thừng từ chối. Năm rồi, sau kỳ
thi Tú tài và thi vào đại học, nhiều em học lực yếu do chúng tôi kèm cặp đã tốt
nghiệp và đậu đại học. Chúng rủ nhau mua bánh và trái cây đủ loại đến mở tiệc
ăn mừng ở nhà chúng tôi, không khí vui nhộn như ngày hội, còn hơn cả ngày
Nhà giáo 20 tháng 11. Nhiều em phát biểu tỏ lòng biết ơn thật tình. Chả trách ở
các lớp luyện thi, nhất là những lớp “bảo đảm đậu” phải chi tiền bạo mới được
học, có em đậu thủ khoa không thèm đến thăm hỏi thầy cô của Trung tâm. Tiền
trao cháo múc, thầy ra công dạy, tôi bỏ tiền mua, ai phải mang ơn ai ? Ngay khi
chúng tôi đến thăm những thầy cô giáo già dạy ở đại học sư phạm nay đã về
hưu, các thầy cô đều phát biểu lấy làm lạ cho chuyện học hành thi cử cùng mối
quan hệ thầy trò hiện nay.
Khi tôi xuống nhà đã thấy anh Nam tay xách nách mang, đi cùng với
một phụ nữ duyên dáng và hai em nhỏ một trai, một gái. Cách ăn mặc không
khác gì những người dân trong thị xã. Anh Nam trông còn trẻ măng như hồi mới
ra đi, nghĩa là cách nay 20 năm.
Tôi xăng xái mời bốn người vào nhà và Lan lên lầu chuẩn bị hai phòng cho
khách. Khi đã xếp tạm hành lý vào các phòng rồi, mọi người xuống phòng khách
trò chuyện, uống nước. Lan mở tủ lạnh lấy đá và làm cho mỗi người một cốc
nước chanh lạnh bày ra bàn, mỉm cười nhìn bốn vị khách vừa quen vừa lạ :
– Mời anh, chị và các cháu xơi nước. 50
– Mời hai bác, mời chú, mời mẹ,….- Hai cháu cùng đồng thanh mời người
lớn.
– Mời anh chị – Người phụ nữ cũng tiếp lời.
Nhìn người phụ nữ và hai cháu, tôi thấy họ cầm cốc nước lạnh uống ngon
lành. Nam mỉm cười hỏi thay chủ nhà :
– Uống nữa nhé ? Hai bác đây có cả một tủ đầy cái món nước lạnh này, uống
bao nhiêu tùy thích khỏi phải trả tiền.
Hai cháu thực sự ngơ ngác không hiểu hết câu nói, bởi có đề cập tới chuyện
trả tiền. Ở đảo từ khi cha sinh mẹ đẻ đến giờ, hai cháu không hề nghe ai nói đến
chuyện trả tiền mỗi khi ăn hay uống một thứ gì. Nhưng, chúng rụt rè không dám
hỏi lại.
Lan phì cười :
– Cái anh Nam này lại hay nói trạng ! Thanh không về cùng ư anh ? Em nó
có khoẻ không ?
– Cảm ơn Lan. Thanh mới chân ướt chân ráo đến đảo, để ổn định cuộc sống
rồi tôi sẽ bảo về thăm nhà một chuyến.
Sau đó, chỉ vào những người cùng đi, Nam nói :
– Đây là Giáng Hương, vợ mới cưới của tôi năm nay.. à.. hai nhăm tuổi. Còn
cháu trai này là con riêng của Giáng Hương sáu tuổi, cháu gái là con anh cả của
Giáng Hương năm tuổi.
Lan đăm đăm nhìn Giáng Hương với mối cảm tình ưu ái biểu lộ rất rõ.
Đến lượt tôi, chồng Lan, tự giới thiệu gia đình mình.
– Tôi là Minh, giáo viên dạy trung học phổ thông môn Toán năm nay sáu ba
tuổi. Bà này là Lan, vợ tôi cũng giáo viên trung học phổ thông cùng trường, dạy
môn Vật lý năm nay sáu mươi tuổi. Hai chúng tôi đã nghỉ hưu. Chúng tôi có hai
cháu, một trai một gái. Trai ba tám tuổi gái ba ba, đều tốt nghiệp đại học ra
trường và đã lập gia đình. Vợ chồng cháu lớn có một trai năm nay sáu tuổi, vợ
chồng cháu gái có một gái năm nay năm tuổi và một trai hai tuổi. Vợ chồng hai
cháu nhà tôi đang ở bên nhà cụ, đường Hoàng Hoa Thám như anh Nam đã từng
đến rồi đó.
Tôi chợt thở dài :
– Thời gian qua nhanh quá ! Mới đó mà, như anh Nam thấy đấy, chúng tôi
già hẳn đi. Cũng may là con cái đề huề, học hành thành đạt có công ăn việc làm
cả, không giàu có gì nhưng so với người ta thì mình sống tạm đủ.
Bỗng có tiếng chuông réo ngoài cổng. Tôi bước ra mở cửa thì một cháu bé
đưa cho mảnh giấy gấp tư bảo có hai cô chú nhờ đưa cho vợ chồng chú Nam và
còn trả công cho cháu viên ngọc trai màu đen này. Tôi mở bức thư thấy có mấy
dòng chữ Hán. 51
Thật là lạ, sao hai vợ chồng Nam mới đến đã có người ngoài đảo đến nhắn
tin nhanh như vậy. Khi tôi đưa thư cho Nam, Nam đọc xong chuyển cho Giáng
Hương. Liếc mắt nhìn qua, Giáng Hương không khỏi ngạc nhiên, lẩm bẩm :
– Anh có hiểu thư nói gì không ? Thật là lạ, sao nét chữ giống hệt nét chữ
của em.
Tôi tò mò hỏi :
– Thư nói gì vậy ?
Nam miễn cưỡng trả lời :
– Ông cụ ở nhà nhớ cô gái rượu nhắn về sớm ấy mà !
Giáng Hương nguýt Nam một cái ra vẻ không vừa ý. Nam bóp tay vợ mình :
– Em xuống bếp phụ làm cơm với chị Lan đi.
Lan hưởng ứng ngay :
– Phải đó, chị em mình ra sau, vừa hàn huyên vừa làm. Nếu không nhanh
tay, một chốc lát nữa là mọi người đói meo ra đấy !
Nam bảo hai cháu bé :
– Tích, Vi. Hai cháu đi ra vườn chơi. Nhưng nhớ không được ra đường đấy !
Về bức thư, sau đó tôi được Nam cho biết nó viết bằng chữ Nôm chứ không
phải chữ Hán và nội dung như sau :
“Gửi anh Nam chị Hương,
“Nhân dịp anh chị vào thăm đất liền, chúng tôi là bạn muốn khuyên anh chị nhớ
cho rằng đừng bao giờ tự đi mà không có sự đồng ý của cụ tư đồ. Bằng không,
anh chị nhất định gặp phải hoàn cảnh khốn đốn như chúng tôi hiện tại.
Thân ái.”
Nội dung bức thư thật khó hiểu ! Điều này sẽ xảy ra trong tương lai khi có
một chuyến vào thăm đất liền của vợ chồng Nam mà không có sự đồng ý của cụ
tư đồ. Không phải họ tự tiện mà lúc đó cụ tư đồ đang ở thăm đất liền, chu du đây
đó trong năm 2030 khi mà thời gian đang bắt đầu chu kỳ quay ngược về quá
khứ. Ông có về thăm lại cảnh cũ ở Thanh Hóa, bâng khuâng thấy vật đổi sao
dời, người xưa còn đây mà thành quách Tây Đô oai hùng cũ tuy được khai quật
phục hồi nhưng đã tàn tạ hoang phế nhiều quá.Vẫn còn nhiều di tích đang bị
chôn vùi dưới bao nhiêu tất đất ! Đứng trước khu đàn tế Nam giao đã được khai
lộ thiên, ông bồi hồi nhớ lại vào một ngày tháng 8 năm Nhâm Ngọ (1402) trong
lễ tế Giao, Hồ Hán Thương ngồi kiệu Vân Long từ cửa Nam thành, các cung tần,
mệnh ph?, quan văn, quan võ triều đình trong đó có ông đi sau, thực hiện nghi lễ
bái yết hai bậc. Chưa từng làm lễ tế Giao bao giờ, Hán Thương run tay làm rượu
đổ xuống đất nên phải ngừng lại. Nhiều vị quan hầu cận trông thấy cho là điềm
dữ.
Một cặp vợ chồng Nam của tương lai lang thang trong quá khứ của năm
2020 không sao tìm lại đảo, đã không dám gặp lại chính mình đang có mặt hôm
nay mà chỉ có thể đưa ra một lời cảnh báo.
Còn lại hai người đàn ông chúng tôi, tôi hỏi Nam :
– Uống cà phê chứ ?
– Vâng.
– Lần về này, anh Nam có kế hoạch gì ?
– Chúng tôi sẽ nhờ vả anh chị giúp nhiều đấy. 52
– Bọn mình rất sẵn sàng. Từ ngày về hưu cả hai vợ chồng, chúng mình cảm
thấy hụt hẫng. Không phải vì kinh tế mà vì rơi vào cảnh quá nhàn rỗi.
Một lúc sau, Lan bê mâm cơm từ dưới nhà lên. Giáng Hương đi theo sau
xách nồi cơm điện. Tôi gọi hai cháu Tích và Vi đang chơi lò cò ngoài sân vào ăn
cơm. Khi mọi người đã ngồi vào bàn, tôi nói với hai cháu là bây giờ cái món chơi
lò cò chỉ còn ở thôn quê thôi, trẻ em thành phố chơi trò chơi trên máy vi tính là
chính. Chơi mê mải nhiều khi bỏ bê chuyện học hành. Rồi chát chiếc hàng giờ
tán chuyện bậy bạ trên mạng. Lan nói :
– Bây giờ gần mười hai giờ trưa rồi, chắc mọi người đã đói. Xin mời tất cả
vào bàn.
– Mời hai bác ạ, mời bố mẹ – Tích lên tiếng.
– Mời hai bác, mời cô chú – Vi cũng nói theo.
Lan khen :
– Hai cháu ngoan lắm !
Không phải sơn hào hải vị, nhưng vì lạ miệng Giáng Hương và hai cháu nhỏ
ăn rất ngon lành. Nam giới thiệu vui về Giáng Hương và hai cháu.
– Vợ mình và cả hai cháu khá thạo chữ Hán và chữ Nôm. Hai cháu nhỏ còn
đi học, nhưng Giáng Hương thì đã vượt qua các kỳ thi hương, thi hội, thi đình,
đoạt bằng tiến sĩ rồi đấy.
Tôi ngạc nhiên :
– Sao ? Ở đảo, vẫn còn dạy chữ Hán, chữ Nôm và còn tổ chức các kỳ thi thời
phong kiến ư ?
Nam điềm nhiên trả lời :
– Vâng, vì ở đảo hiện còn hai ông quan thời phong kiến. Bố Giáng Hương là
quan tư đồ hiện được xem như là linh hồn, là người lãnh đạo chính của dân đảo.
Dân đảo lành lặn no đủ và cần học hành. Quan thời nhà Hồ chỉ có thể dạy chữ
Hán, chữ Nôm thôi.
Lan ngạc nhiên tột độ và hỏi lại :
– Anh Nam bảo sao ? Quan nhà Hồ còn sống đến hôm nay ư ?
Đến lượt Giáng Hương trả lời :
– Vâng. Hình như anh Nam chưa nói cho hai anh chị biết ? Đối với đảo Mây,
thời gian từ khi nhà Hồ mất đến nay mới có 25 năm. Năm đó bố em 32 tuổi và
năm nay mới bước sang tuổi 57.
Nam lần này ngỏ lời xin lỗi chúng tôi vì đã không nói hết sự thực. Sau đó,
Nam kể lại tỉ mỉ câu chuyện Nam bị giạt vào đảo Mây, sống ở đó ba ngày như
thế nào và rồi khi trở về, đất liền đã trải qua 20 năm, để lý giải vì sao con người
Nam không hề già đi chứ không có một loại thần dược nào ở đảo giữ cho con
người được trẻ mãi.
Sắp tới, Nam và Thanh có trách nhiệm mở lớp dạy chữ quốc ngữ cho cư dân
đảo. Các sĩ phu ở đảo thuộc làu tứ thư ngũ kinh, nhưng những kiến thức thực
tiễn khác thì mù tịt. Nam liếc nhìn về phía tờ lịch treo tường và nói tiếp :
– Lần về này, tôi tính đưa Giáng Hương cùng các cháu đi chơi một chuyến.
Mời luôn cả hai anh chị cùng đi có được không ? Hai anh chị mang theo cả hai
cháu nội ngoại luôn thể cho vui. Sau đó hai vợ chồng tôi lãnh trách nhiệm đảo
giao, xin gửi hai cháu Tích và Vi anh chị nuôi giùm, cho hai cháu ăn học chí ít
cũng hết cấp đại học. Lần về này, chúng tôi có mang khá nhiều vàng, ngọc, kim 53
cương. Chúng tôi sẽ bán lấy tiền mua một số dụng cụ máy móc cần thiết cho
đảo, còn bao nhiêu để lại hết cho anh chị tiêu dùng. À, còn có một túi yến sào
biếu anh chị.
– Tích, con lên phòng mang bị yến sào xuống đây cho mẹ – Giáng Hương lên
tiếng.
Nam nói với Giáng Hương :
– Chiều nay, yến sào nấu dâng vua Hồ thế nào, em hướng dẫn chị Lan nấu
cho cả nhà cùng thưởng thức. Luôn thể, anh chị gọi gia đình hai cháu về chung
vui kỷ niệm cuộc hội ngộ.
Sau bữa cơm, món tráng miệng là măng cụt. Cháu Tích vừa mời người lớn
xong đã vội nhanh nhẩu nhón lấy một quả há miệng cắn mạnh rồi nhăn mặt vì
chát, vội bỏ quả măng cụt ra bàn. Tôi biết ngay là ngoài đảo không có loại quả
này. Tôi trách Lan :
– Đãi khách món măng cụt tráng miệng mà không bổ sẵn cho khách ăn ! Em
trông cháu Tích kìa.
Nam và Lan bật cười nhìn khuôn mặt nhăn nhó của Tích. Giáng Hương và
cháu Vi hơi ngơ ngác không hiểu gì. Tôi rút mẩu giấy lau miệng trong hộp để sẵn
trên bàn đưa cho Tích. Nam nhón lấy một quả đưa cho Giáng Hương cùng với
con dao rồi tự mình cũng lấy một quả, cắt đôi theo chiều ngang, đưa cho cháu
Vi bảo lấy chiếc thìa nhỏ múc phần ruột trắng nõn bên trong ăn thử. Vi làm theo,
buột miệng khen :
– Ồi, ngon quá !
Giáng Hương cầm quả măng cụt bổ sẵn đưa cho Tích :
– Con ăn đi.
– Cảm ơn mẹ.- Tích sượng sùng, giọng ngượng nghịu.
Hai đứa bé không hề khách khí, chén tù tì một lúc bốn năm quả măng cụt.
Nam bảo :
– Hai con xuống bếp vặn vòi nước rửa miệng, uống nước rồi lên phòng nghỉ.
Lan sợ hai cháu lóng ngóng trong cảnh lạ nên dẫn chúng đi.
Nam bàn với tôi :
– Muốn đi lại dễ dàng phải có giấy tờ. Tôi còn chứng minh nhân dân hẳn hoi
nhưng nếu họ đọc năm sinh, nhìn thấy bộ dạng tôi hiện nay, cái giấy chứng minh
trung thực này sẽ hại tôi. Còn Giáng Hương và hai cháu hoàn toàn không có
giấy tờ gì. Anh có cách nào giúp chúng tôi không ?
Ngẫm nghĩ một lúc, tôi bảo :
– Ta ra công an phường khai mất giấy tờ, xin một cái giấy chứng nhận để về
quê có cớ yêu cầu cấp chứng minh nhân dân mới, tôi sẽ làm người bảo lãnh
chứng thực cho. Từ lâu, tôi và Lan có ý định thăm thú đây đó một chuyến cho
biết đất nước mình giàu đẹp thế nào nhưng chưa có dịp. Lần này có cả hai anh
chị và các cháu nữa, chúng ta đi cùng, vui lắm đấy.
Thế là khi Lan đưa hai đứa bé ra, bảo chúng lên phòng trên nghỉ, chúng
tôi bàn luôn hành trình chuyến đi. Ở Hà Nội ba hôm thăm thú các nơi như lăng
Bác, hồ Gươm, chùa Một cột, đền Trấn Võ, hồ Tây, vườn thú, đi tàu điện ngầm.
Tại Hà Nội ta đăng ký theo tua du lịch đi thăm vịnh Hạ Long, than Quảng Ninh.
Về lại Hà Nội, mua vé máy bay bay vào thành phố Hồ Chí Minh. Lại đăng ký theo
tua du lịch đi Đà Lạt, đất Mũi tận cùng phía Nam, đi tàu cánh ngầm xuống Vũng 54
Tàu tắm biển mấy hôm xong trở lại Sài Gòn, về Vinh bằng xe lửa. Tại Vinh, có
một nơi nổi tiếng nên đi thăm là làng Sen, quê hương chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau
đó về Thanh Hóa đúng vào dịp Hội chùa Thầy từ mùng 5 đến mùng 7 tháng 3
Âm lịch. Ta cùng trẩy hội chùa Thầy một chuyến vào mùng 7 là ngày chính hội.
Nam nhìn sang Giáng Hương và họ mỉm cười với nhau, tôi không hiểu là chuyện
gì.
Chiều hôm đó, nhằm ngày thứ bảy của đất liền, Lan gọi điện thoại cho
hai con bảo đưa cả nhà về dự bữa cơm thân mật với ông bà.
CUỘC ĐÀM THOẠI GIỮA THANH VÀ GIA ĐÌNH ÔNG CỤ
Trong khi anh chị Nam, Giáng Hương cùng hai cháu Tích, Vi đi vào đất liền,
Thanh đến sống ở nhà ông cụ. Bà cụ, chị dâu cả tranh nhau hỏi đủ thứ chuyện
về đời sống trong đất liền. Các bà các cô bây giờ ăn mặc ra sao, chợ búa buôn
bán nấu nướng sinh hoạt thế nào. Thanh bảo :
– Chúng con có đem ra đảo mấy đầu CD và các đĩa, trong đó có mô tả một ít
cảnh sinh hoạt của đồng bào nước ta hiện nay. Anh Nam nói tưởng đảo bắt
được đài truyền hình qua chảo vệ tinh, không ngờ điều này không làm được do
lệch pha thời gian giữa hai thế giới. Nên lần này, anh và chị Giáng Hương sẽ
chú ý quay video cảnh sinh hoạt ở đất liền mang về chiếu cho mọi người trên
đảo xem cho biết.
Với Thanh, ông cụ hỏi tỉ mi chuyện học hành trong nước, cách tổ chức cai trị
đất nước thế nào. Thanh nói về các cấp học từ mẫu giáo đến lớp 12, sau đó đến
cấp đại học. Học bằng tiếng Việt, chữ viết dạng La tinh. Anh Nam bảo lần này sẽ
mua sách giáo khoa các cấp học về dạy dân đảo để kiến thức phổ thông của
mình theo kịp với đất liền.
– Cháu thấy ở đây cụ quan tâm chuyện học hành, ai ai trên đảo đều biết chữ,
lại học cả đạo lý nữa, thế là mình hơn đất liền đó. Đất liền đang cố gắng xóa nạn
mù chữ, làm ì ạch giờ vẫn chưa xong. Đấy là nói học chữ quốc ngữ là thứ chữ
dễ học, chứ học chữ Nho, chữ Nôm như ở đây thì còn lâu.
Cụ và anh cả ra chiều thích thú. Thanh phục cụ là người hiểu biết luôn cầu
tiến, không tự mãn.
– Ở đây, ta không thể làm khác. Muốn mở mang dân trí, ta biết gì dạy nấy,
trước đây ta học sao giờ dạy vậy, dẫu biết mình dạy kiến thức hoàn toàn của
người Tàu. Đôi khi ta ngẫm thấy có nhiều điều răn dạy của người Tàu không
hợp với cách sống và quan hệ giữa người với người trong xã hội Việt ta. Tứ
thư, ngũ kinh học nhiều nhưng nó giúp ích gì cho đời sống ?
Thanh nói :
– Ngay hiện giờ ở Trung Quốc, người ta cũng không dạy tứ thư ngũ kinh.
Chỉ một số ít muốn nghiên cứu sâu thì mới đọc đến. Nội dung chương trình dạy
ngay từ lớp trẻ là môn Tiếng Việt, môn Toán sơ cấp, môn Vẽ, hát múa. Càng lên
lớp trên môn Tiếng Việt, môn toán càng khó hơn và thêm rất nhiều môn như
văn, lịch sử, địa lý, đạo đức, giáo dục công dân, vật lý, hóa học, sinh học,…Cháu
học hết lớp 12, thi tốt nghiệp lấy bằng Tú tài, sau đó thi vào đại học, cháu chọn
ngành Lịch sử để học. Chương trình ở đại học kéo dài khoảng 4 hoặc 5 năm, có
ngành kéo dài đến 6 năm như ngành Y. Trong 4 hay 5 năm đó, chương trình 55
chia làm hai phần, phần cơ bản và phần chuyên môn. Trong phần cơ bản, cháu
phải học tiếng Anh là thứ tiếng phổ biến hiện nay trên thế giới, tiếng Trung quốc
cùng với chữ Hán và chữ Nôm của người Việt cổ để đọc được thư tịch, văn bia
người xưa nói gì. Sau này, người nào muốn nghiên cứu thêm lịch sử văn hóa
nơi nào thì học thêm ngôn ngữ và chữ viết nơi đó. Học xong đại học, người tốt
nghiệp các ngành khoa học xã hội và khoa học cơ bản thì được gọi là cử nhân,
các ngành kỹ thuật gọi là kỹ sư, ngành y gọi là bác sĩ.
Khi biết Thanh chuyên sâu lịch sử, ông cụ bắt đầu hỏi các triều đại và tình
hình đất nước ta từ thời vua Lê Dụ Tông trở về sau.
– Cách nay sáu năm, Từ Thức có ra thăm đảo và cho ta biết tình hình đất
nước từ khi nhà Minh xâm chiếm nước ta. Dân ta phải chịu đựng thống trị hà
khắc của Tàu trong 20 năm, sau đó Lê Lợi lấy lại được bờ cõi. Đất nước thanh
bình cho đến thời vua Lê Dụ Tông.
Thanh nói :
– Từ Thức ư ? À, anh cháu có kể chuyện này. Ông Từ Thức có biết vua quan
nhà Hồ bị quân Minh bắt sang Tàu như thế nào không ?
– Có lẽ là không. Từ Thức không nói cho ta biết.
– Thưa bác, năm 2004 ở đất liền có một nhà khảo cổ tên là Đỗ Đình Truật đã
cất công sang Tàu (bây giờ gọi là nước Trung Hoa) lặn lội tìm mộ Hồ Quý Ly.
Ông ấy mới chỉ biết địa phận giam giữ Hồ Quý Ly cùng con cháu mấy đời sau
này là Lão Hổ Sơn ở tỉnh Giang Tô. Hồ Quý Ly đã chết ở đó nhưng mộ thì chưa
tìm thấy. Ông cảm khái làm một bài thơ cháu nhớ được mấy câu :
Anh hùng thất thế trơ thành quách,
Dẫu có buồn thương cũng đế vương.
Sông Mã bao phen gầm sóng đo.
Cơ đồ còn đó nghĩ mà thương …(1)
Ông đã sưu tầm và biết được trong thời gian bị lưu đày, Hồ Hán Thương
được triều nhà Minh vời dạy Kinh Dịch cho hoàng gia, Nguyễn An thiết kế xây
dựng thành Bắc Kinh, còn Hồ Nguyên Trừng giúp nhà Minh chế tạo súng thần
công. Lê Quý Đôn, một học giả uyên bác thời các triều cuối nhà Lê có viết trong
Vân Đài loại ngữ “Quân Minh mỗi khi tế súng đều phải tế Trừng”.
– Thế ư ? Xem ra nhà Minh khá biết lợi dụng người tài của kẻ bại trận. Hơn
thế, kẻ xâm lược mà cũng còn biết “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ
trồng cây”, kể cũng lạ !
– Còn một chi tiết mà trong lần diện kiến trực tiếp, cháu được nghe ông ấy
kể. Biết Hồ Quý Ly là người tài, một anh hùng thất thế, vua nhà Minh sai người
đến gặp, thuyết phục hứa hẹn thu dụng sau khi thôn tính xong nước ta sẽ đưa
Hồ Quý Ly lên ngôi trở lại. Hồ Quý Ly đã cười nhạt đáp “Ta thà làm ma ở đây
chứ không thèm làm vua kiểu ấy”. Sứ giả nhà Minh bảo đại ý muốn vậy thì bản
quốc cho chết rục xương luôn ở đây. Hồ Quý Ly đáp trả “Ta chết chôn ở đâu thì
nơi đó là đất của ta, của người Việt ta”.
Quan tư đồ cười ha hả thích thú :
– Thật đúng là phong cách của ông Ly. Thông minh, ngang tàng và cả hóm
hỉnh ! Với lại, cháu biết đấy, ông Ly nói đâu có sai. Nơi ông nằm xuống chẳng
phải vốn là đất nước của ông cha ta ngày xưa là gì ?
———-
(1) – Việc trích bốn câu thơ đã được tác giả Đỗ Đình Truật cho phép. 56
– Thưa bác, cháu xin nói tiếp. Triều vua cuối cùng nhà Lê là Lê Mẫn Đế tức
Lê Chiêu Thống. Tính từ vua Lê Trang Tông trở về sau, lịch sử ghi là thời Lê
Trung hưng – Lê Mạt. Thời này, thực quyền triều chính là do dinh chúa Trịnh
nắm. Ở miền Trung, tỉnh Bình Định, có ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ,
Nguyễn Lữ nổi lên cát cứ. Nguyễn Nhạc xưng vương, lập nên nhà Tây Sơn, lấy
danh nghĩa phù Lê sai Nguyễn Huệ năm Bính Ngọ (1786) đem quân ra Bắc diệt
Trịnh. Ở phía Nam, chúa Nguyễn sức yếu sợ không đánh lại, sang Xiêm cầu
cứu. Sau khi thắng quân Trịnh, Nguyễn Huệ thừa thế chuyển vào Nam, trong
trận Rạch Gầm chỉ trong vòng nửa buổi sáng đã diệt năm vạn quân Xiêm buộc
chúa Nguyễn Ánh phải chạy trốn ra đảo Phú Quốc. Thế là ngay trong năm này,
đất nước thống nhất một cõi. Nhưng ở miền Bắc, một số quan lại cùng với vua
Lê Chiêu Thống sang cầu cứu nước Tàu. Vua nhà Thanh cho quân ồ ạt tràn
sang chiếm lấy cả phía Bắc đến tận kinh đô. Năm Kỷ Dậu (1789), một lần nữa,
Nguyễn Huệ đem quân trở ra Bắc non một tuần liên tục ngày đêm đánh tan 29
vạn quân Thanh với trận thắng Đống Đa lẫy lừng và nhân đó xưng đế lấy niên
hiệu là Quang Trung. Nguyễn Huệ làm vua được 4 năm thì băng hà, truyền ngôi
lại cho Nguyễn Quang Toản. Mười năm sau, Nguyễn Ánh được nước Pháp giúp
sức, đánh bại nhà Tây Sơn và lập nên nhà Nguyễn cai quản đất nước lấy hiệu là
Gia Long. Gia Long ở ngôi được 18 năm theo lịch Tây từ năm 1802 đến 1820,
sau là vua Minh Mệnh 21 năm, vua Thiệu Trị 6 năm, vua Tự Đức 36 năm. Từ lúc
này, Pháp bắt đầu gây hấn và bịa cớ xâm chiếm đô hộ nước ta. Bấy giờ, nhà
vua chỉ làm vì, toàn quốc do một viên toàn quyền Pháp cai trị. Tám mươi năm
sau, Nhật đánh đuổi Pháp, xâm chiếm nước ta. Cùng lúc, Đại chiến thế giới thứ
2 bùng nổ, lực lượng yêu nước Việt Minh nhân cơ hội Nhật bắt đầu suy yếu qua
những chiến bại lớn trên thế giới, hất cẳng Nhật cướp lấy chính quyền, tuyên bố
độc lập. Người đứng đầu Việt Minh là Hồ Chí Minh, không xưng vua mà theo
chế độ dân chủ, qua cuộc tổ chức bỏ phiếu toàn quốc, được bầu làm chủ tịch
nước. Giúp chủ tịch điều hành đất nước, còn có phó chủ tịch. Dưới nữa là các
bộ. Nhưng Pháp lại theo chân quân Đồng Minh trở lại chiếm nước ta. Sức ta
yếu, quân ta phải rút lui về các vùng xa thành phố tổ chức trường kỳ kháng
chiến. Phải mất 9 năm mới giành lại độc lập với trận chiến thắng vang dội Điện
Biên Phủ, nhưng chỉ được một nửa nước tính từ vĩ tuyến 17 trở ra. Pháp giữ
vùng đất phía Nam, nhưng bấy giờ sức Pháp đã yếu nên quân Mỹ nhảy vào
thay. Ta đánh nhau với quân Mỹ và chính quyền bù nhìn mất thêm 20 năm nữa
tức là đến giữa năm 1975 mới hoàn toàn thống nhất đất nước. Trên thế giới hiện
nay, đế quốc Mỹ mạnh và tàn bạo không thua kém đế quốc Mông Cổ thời Trần.
Cụ Hồ Chí Minh qua đời năm 1969. Chế độ nước ta hiện nay là Xã hội chủ
nghĩa, Đảng Cộng sản lãnh đạo. Sau Hồ Chí Minh, nhiều vị chủ tịch khác lần
lượt được quốc dân đại hội bầu lên thay, không cha truyền con nối như thời vua
quan phong kiến. Năm nay, ở đất liền tính theo Dương lịch là năm 2000, còn lúc
Hồ Quý Ly lên ngôi là năm 1400.
Thanh nói một lèo như thuộc lòng. Sau này, Thanh còn tiếp tục trình bày tỷ
mỷ những chặng đường lịch sử mà đất nước ta đã trải qua cho ông cụ và cả
những người trên đảo hiểu. Chính vì được tiếp xúc với người thật việc thật thời
nhà Hồ mà Thanh đã viết được một cuốn biên niên sử mô tả khá tỉ mỉ giai đoạn 57
những năm cuối đời Trần và bảy năm trị vì của nhà Hồ, cho xuất bản ở đất liền
vào thời gian cuối thế kỷ 21.
Sau đó, Thanh hỏi lại ông cụ :
– Chừng nào thì anh chị cháu trở về ạ ?
– Chỉ một lúc nữa thôi, chúng nó đi chơi sẽ về. Chúng ta sẽ bàn việc dạy văn
hóa cho mọi người dân đảo theo chương trình mới, trong đó có môn lịch sử mà
cháu đã nói sơ qua cho ta nghe. Rồi bốn đứa chúng nó sẽ về đủ cả, không có
chuyện hai đứa nhỏ học ở đất liền đâu.
Thanh ngạc nhiên :
– Bác nói sao ?
– Ta bảo chúng sẽ về đủ cả, không để lại đất liền cu Tích, cái Vi đâu.
– Bác bảo trước với anh Nam, chị Giáng Hương thế ạ ?
– Ta không bảo, nhưng hai đứa chúng nó tự quyết định. Qua việc này, ta thấy
anh cháu là người có trí có nhân, biết phân tích sự việc và có quyết định đúng
đắn. Chốc nữa về đây, chúng sẽ sợ ta chết khiếp đó. Nhưng cháu im, đừng nói
gì nhé.
Ông cụ cười hê hê rất hóm, đầy vẻ lạc quan yêu đời.
CHUYẾN ĐI DU LỊCH
Buổi chiều hôm đó thật là vui. Cu Bình và cái An, hai cháu nội ngoại nhà tôi
mới gặp hai cháu Tích, Vi lần đầu đã hòa hợp ngay. Có lẽ chúng cùng lứa tuổi
nên phút giây tìm hiểu nhau ban đầu không phải kéo dài. Ở ngoài hiên, râm ran
tiếng nói cười. Lúc đầu, Tích đề nghị chơi trò đố nhau.
Bình hỏi :
– Đố thế nào ? Có giống như người ta đố nhau trên tivi không ?
Tích ngơ ngác không hiểu. Vi giải thích :
– Đố là nói ra câu ám chỉ cái gì đó để người khác đoán rồi trả lời.
– Đúng là như trên tivi rồi. Anh Tích đố trước đi – An đề nghị.
– Được rồi. Giả dụ câu này : “Văn kỳ thinh bất kiến kỳ hình. Đại nhân giảng,
tiểu nhân kinh” là con gì nào ?
An nhướng mắt lên :
– Anh Tích đang nói gì ấy ? Tiếng Việt không ra tiếng Việt, tiếng Anh không
ra tiếng Anh, nghe không hiểu được thì đoán ra làm sao ?
Vi giải thích :
– Anh Tích ra câu đố chữ Nho đó. Nó có nghĩa là “Chỉ nghe thôi chứ không
thấy hình dạng. Người lớn nói, trẻ con khiếp sợ”
– …….
– Chịu ! Không đoán được.
Vi trả lời :
– Là con ma ! Chỉ nghe nói ma chứ ai đã nhìn thấy nó ? Người lớn hù dọa
ma, trẻ con sợ chết khiếp là gì ?
An than :
– Đố bằng chữ Nho, làm sao biết ? Trường chúng mình có bao giờ dạy chữ
Nho đâu ! 58
– Thôi để Vi đố bằng tiếng Việt nhé ! “Người không phải người, ma chẳng
phải ma. Cái đít đàn bà, cái đầu đàn ông”. Là con gì ?
Nghe câu đố tếu, cả bốn đứa trẻ cười ngặt nghẽo.
Bình bộp chộp :
– Lại con ma chứ gì ?
– Đâu phải ! – Tích chê trách – Đã bảo không phải người cũng không phải
ma trước rồi mà ?
An lười suy nghĩ, đầu hàng sớm :
– Chịu ! Bạn Vi nói đi !
Tích lên tiếng trước :
– Là con dê.
– Sao là con dê ? Nó giống con gì ? Giống con chó hay con mèo ? Nó to
ngần nào ? – An nói một lèo – Từ bé đến giờ, em chưa hề nhìn thấy con dê thế
nào.
Tôi nghe chúng nói, phì cười không thể không xen vào.
– Ông nói cho các cháu Bình, An nghe nhé. Con dê đương nhiên không là
người hay là ma rồi. Nó là con thú to cỡ con chó bécgiê, cái đít khong chắc
giống đít đàn bà nhưng cái đầu của nó có râu thì chắc chắn giống đầu ông lão.
An hỏi tôi :
– Thế con dê ở đâu, cháu không thấy nó ở Hà Nội.
– Vườn Bách thú ở Hà Nội chắc chắn có. Để hôm nào nghỉ Hè, ông cháu ta
đưa nhau đi xem.
Thật đến khổ ! Trẻ con thành phố có khác. Chỉ biết cầm thú qua hình ảnh,
còn những con vật đã từng gắn bó với con người từ thời tiền sử đến nay thế nào
thì chúng mù tịt. Hình như hiện nay, nền giáo dục phổ thông của chúng ta còn
xem nhẹ những giờ học thực địa, dã ngoại, giúp các em gần gũi, gắn bó hòa
nhập với môi trường để nhờ đó chúng sẽ có ý thức bảo vệ môi trường và thiên
nhiên hơn.
Thấy trò đố nhau quá khó, Tích đề nghị chơi trò Nu na nu nống. Bình và An
nhà ta nghe tên trò chơi lạ, đồng ý ngay. Theo lời Tích, cả bốn đứa ngồi bệt
xuống nền nhà, duỗi thẳng hai chân. Tích bảo Vi đọc và chỉ vào chân của từng
đứa giáp vòng :
Nu na nu nống / Cái bống nằm trong / Con ong nằm ngoài / Củ khoai chấm
mật / Phật ngồi Phật khóc / Con cóc nhảy qua / Con gà tú hụ / Bà cụ thổi xôi /
Ông tôi nấu chè / Tè he cống rụt.
An nghe lời là lạ, cười như nắc nẻ. Tích bảo :
– Kìa An, em phải rút chân về chứ, tiếng “rụt” đúng vào chân em. Í không
phải, chân trái kìa.
An thụt về chân trái và duỗi chân phải ra lại. Vi đọc lại lời vừa rồi, chỉ giáp
vòng bảy cẳng chân còn lại nhưng bắt đầu từ đứa khác. Luật chơi ai còn lại cái
chân cuối cùng không rụt phải phạt, phạt gì cả bọn tự đề ra và đồng ý với nhau.
Vòng chơi đầu, Bình bị phạt. Nhưng Bình lém lỉnh bảo
– Lần đầu chơi thử cho quen, khỏi phạt, lần sau mới chính thức.
An hỏi :
– Thế anh muốn đề nghị phạt gì nào ?
– Cốc một cái vào đầu, nhưng chỉ nhẹ tay thôi ? Vi đề nghị, 59
– Vuốt mũi một cái ? An đề nghị,
– Không, bôi nhọ vào mặt cơ ? Bình đề nghị.
– Hay đấy, hay đấy !
Không ngờ ý mình được mọi người ngợi khen cổ vũ, Bình ù chạy xuống bếp
mang lên cái nồi úp chổng ngược cái đít đen cháy lên trên.
Trò chơi chính thức bắt đầu. Chỉ nửa giờ sau thôi, cả bốn đứa trẻ, không
đứa nào mặt mày còn nguyên lành sạch sẽ. Bình hóm nhất tặng cho hai cô em
gái toàn râu với ria. Bình chỉ vào hai đứa em :
– Đây đích thị là hai con dê, Tích nhỉ ? Cái đít đàn bà cái đầu đàn ông. Còn
chúng mình thì không.
An phụng phịu giãy nảy.
– Em bắt đền anh Bình đó. Em không chịu đâu.
Nam và Giáng Hương từ nhà trong đi ra nhìn mặt mày nhem nhuốc của
chúng, cười rũ ra. Thấy chúng bẩn quá, tôi quát :
– Thôi chơi thế đủ rồi. Cút tất xuống bếp rửa mặt ngay ! Nhắm mắt bôi xà
phòng mà rửa.
Nam phải giúp bọn trẻ, sợ chúng vừa rửa vừa bôi lem nhem thêm. Khi chúng
trở lên, tôi bảo :
– Cu Bình cái An vào phòng làm việc của ông bật máy vi tính hướng dẫn các
bạn chơi game đi.
Lại râm ran tiếng cười nói, tiếng xuýt xoa tiếc rẻ. Với trò chơi trẻ con thời
hiện đại, chỉ mấy phút sau, Tích và Vi nắm được và thao tác khá thành thạo.
Trong bữa ăn, khi nêu lên chuyến đi du lịch sắp tới hai ông bà muốn đưa hai
cháu Bình và An theo, hai bố mẹ chúng đồng ý ngay. Lúc đầu bố mẹ hai cháu
cũng muốn đi cả cùng nhau cho vui nhưng nghĩ lại ai sẽ trông nom nhà cửa cả
hai nơi đành thôi. Sau bữa ăn, Lan mở tủ lạnh mang ra một hộp kem. Mẹ cháu
An ra sau nhà mang lên cho mỗi người một cái chén nhỏ và một cái thìa nhỏ,
múc kem từ hộp ra đặt trước mặt mỗi người.
– A kem, thích quá ! An reo lên.
– Cu Bình cái An mời hai bạn đi ! – Tôi lên tiếng.
Bình đẩy hai chén kem về phía trước mặt Tích và Vi. Lần này, Tích tỏ vẻ
cảnh giác nhìn chén kem có ý chờ. Vi đưa tay múc một thìa, nghĩ là kem còn
nóng, thổi qua rồi cho vào mồm, lập tức nhả ra ngay :
– Ối, lạnh quá !
Bình và An cười như nắc nẻ :
– Vi không biết ăn kem rồi. Kem, phải ăn như thế này này.
An làm động tác mẫu : múc một thìa đưa vào mồm mút mút từng chút một ra
vẻ khoái chí. Nam cười nhìn Giáng Hương :
– Em mà ăn kem trước cũng thế thôi !
Giáng Hương đấm vào vai Nam, cười nhưng không nói gì.
Những ngày tiếp sau. Chuyến đi rất vui, hào hứng nhất là bốn đứa trẻ. Tích
và Vi lúc lúc lại ngây người vì ngạc nhiên trước những điều lạ chưa hề thấy. Nhớ
lại chuyến đi từ Thành Hóa ra Hà Nội bằng tàu lửa, Tích và Vi ngỡ ngàng khi
nhìn thấy lần đầu hơn mươi cái hộp nối nhau giống như một con cuốn chiếu
khổng lồ nhưng có vô số bánh tròn lăn băng băng trên cặp đường sắt chạy dài tít
tắp. Ngồi trong toa nhìn qua cửa sổ mới thấy tàu lao đi nhanh vun vút như gió 60
thổi, nghe tiếng lách ca lách cách vui tai và không mấy chốc đã đến nơi. Hơn
hẳn Thanh Hóa, Hà Nội có nhiều ngôi nhà chọc trời cao tít dễ chừng chạm tới
tầng mây. Phố xá nhộn nhịp suốt ngày. Đèn điện sáng trưng vào ban đêm.
Người đi lại nghìn nghịt trên đủ loại phương tiện xe cộ.
Khi đi vào thành phố Hồ Chí Minh, mọi người đáp chuyến bay Boeing 7E7.
Tích, Vi và cả Giáng Hương chưa bao giờ nhìn thấy một con chim xanh lớn như
thế đang dang thẳng hai cánh như sắp bay, đậu bên cạnh rất nhiều con chim
nhỏ hơn, cánh bạc phản chiếu ánh mặt trời. Tích thắc mắc chim ăn bằng gì, mọi
người ngồi trên lưng chim như thế nào. Bình ra vẻ thành thạo bảo
– Máy bay chứ không phải chim. Nó uống nhiều lắm, uống no xăng trước mỗi
chuyến bay. Mọi người sẽ chui vào bụng nó ngồi chứ không leo lên lưng. Như
chiếc máy bay sơn màu xanh kia, nó chở được một lúc hàng mấy trăm con
người chứ không phải ít.
Khi đã ngồi trong máy bay, Nam cười nói với Giáng Hương :
– Bây giờ, chúng ta sắp là tiên biết bay lên trời hết cả đó.
Giáng Hương chép miệng bảo :
– Mọi người sống ở đất liền với đầy đủ tiện nghi, ăn ngon, mặc đẹp, ở nhà
lầu có máy lạnh, đi lại nhanh chóng bằng xe cộ, lại biết bay. Cõi tiên là đây rồi,
còn mơ ước cõi tiên nào nữa ?
Tôi bảo :
– Nhìn bên ngoài là thế, nhưng cái xã hội loài người hiện nay thật quái gở.
Đạo đức nhân loại ngày càng xuống cấp trầm trọng. Để có cuộc sống phồn vinh,
con người phải chà đạp lên nhau, nước mạnh áp bức nước yếu bằng vũ khí hiện
đại nhất nhưng đi cùng với những ngôn từ mỹ miều nhất. Sống sung sướng đó
nhưng chỉ là về mặt thể xác, còn tâm hồn thì luôn luôn dằn vặt ưu tư. Chính con
người chứ không ai khác hiện đang phá hoại môi trường sống, chiếc nôi sinh ra
mình. Nhiều khi tôi có cảm giác như vận mệnh của cả thế giới này đang lệ thuộc
vào những thằng khùng. Chỉ cần một nút bấm của chúng trong lúc hoảng loạn,
nó sẽ làm quả địa cầu này bốc thành hơi hết, không còn chút gì !
Nam nói với Giáng Hương :
– Chính nơi chúng ta sống là cõi tiên đúng nghĩa đó ! Mấy hôm nay, anh cứ
dằn vặt mãi trong lòng về chuyện để cho Tích và Vi ở lại đất liền. Nhìn thấy hai
cháu Bình, An cùng với bố mẹ chúng âu yếm bên nhau, anh không nỡ nhìn cái
cảnh Tích xa em, Vi xa mẹ nó. Nếu chúng ở độ tuổi 18, 20 thì không sao, đằng
này chúng còn bé quá. Ở đảo thì không nói làm gì, chỉ vài ba ngày bố mẹ không
kịp nhớ con thì chúng đã trở về rồi. Nhưng đối với chúng ở đất liền, thời gian dài
dằng dặc phải vất vả theo đuổi một chương trình học nhồi nhét không mấy nhẹ
nhàng trong cảnh cô đơn xa gia đình, hiểm nguy luôn rình rập. Hy sinh cả tuổi
thơ của chúng, liệu có đáng không và giải quyết thế nào cái nghịch cảnh chỉ qua
vài ba ngày trở về tính theo thời gian của đảo, con cái đã lớn và già bằng bố mẹ
?
Giáng Hương bảo :
– Trong những ngày ở đất liền nhìn tận mắt cuộc sống bươn chải của mọi
người, em thực tình thấy mục đích của chúng ta có gì đó không ổn. Mình chưa
vừa lòng điều gì với cuộc sống dân mình hiện nay ở đảo và dân đảo sẽ học
được những gì ở đất liền ? 61
Không hẹn mà cùng một tâm tư ý nghĩ, Nam và Giáng Hương quyết định chỉ
đi chơi thôi, mua mấy thứ cần thiết cho đảo rồi đưa hai cháu về. Sẽ chịu tội với
ông cụ, với dân đảo vậy. Vả lại, hai người có lý lẽ để bảo vệ cho cách hành xử
của mình.
Trong mấy ngày trước khi về lại đảo, hai vợ chồng Nam suy tính những thứ
gì còn thiếu cần mua để trang bị tiện nghi đầy đủ toàn bộ cho mười gia đình của
đảo, những thứ cần cho từng người kể cả dự trữ. Máy vi tính, máy in, máy ảnh
kỹ thuật số, máy in ảnh, máy hút và nén khí, máy cày, máy kéo chạy bằng động
cơ dùng không khí nén, máy biến dòng điện một chiều thành xoay chiều, các đĩa
CD chứa phông chữ Việt, chữ Hán, chữ Nôm, CD các tuồng lịch sử, các phim
và trò chơi lành mạnh, toàn bộ sách giáo khoa từ lớp 1 đến lớp 12, rất nhiều giấy
bút đủ cho đảo dùng trong mấy chục năm.
Toàn bộ số vàng, kim cương, ngọc trai còn lại rất nhiều, ước cả một gia tài tỷ
phú, Nam và Giáng Hương để hết lại cho chúng tôi. Cũng như lần trước, Nam
nói củi đã chặt đi rồi, không ai điên đem nó về trả lại cho rừng. Hẹn sẽ có ngày,
cũng phải vài mươi năm sau, vợ chồng Thanh sẽ về thăm chúng tôi. Chúng tôi
cần giữ gìn sức khoẻ sống lâu để còn gặp lại chúng nó. Tích,Vi cũng nói sẽ xin
phép ông bà bố mẹ trở lại thăm hai bác và các bạn Bình, An khi hai cháu lớn
thêm mấy tuổi nữa.
CHUYẾN VỀ THĂM ĐẤT LIỀN CỦA VỢ CHỒNG THANH
Đến lượt vợ chồng Thanh về thăm đất liền. Khi bước vào nhà, người không
nhận ra tôi chính là Thanh. Ngược lại, vợ chồng tôi nhận ra em ngay.
– Bác là….
– Chính là Minh đây, còn đây là chị Lan, em không nhớ sao ?
– Xin lỗi !
Mắt Thanh chớp chớp tỏ vẻ muốn khóc, không ngờ tôi và Lan già cả ốm yếu
đến vậy. Lan cảm nhận khá nhạy tình huống và muốn xóa ngay cái không khí ủy
mị, kéo vội Thanh vào nhà. Sau khi bình tĩnh lại, Thanh giới thiệu người thanh
niên đi cùng là Phúc, chồng mới cưới của Thanh. Phúc người dong dỏng cao,
nét mặt thanh tú, cặp mắt sáng vẻ thông minh. Thanh bảo anh ấy là con quan đề
đốc thủy quân thời nhà Hồ, đã đậu tiến sĩ. Lần này, Thanh vào đất liền chủ ý
đưa Phúc về thăm quê vợ và lo thêm một số việc mà anh Nam dặn. Cách đây
mấy hôm, khi anh Nam, chị Giáng Hương chân ướt chân ráo về đến đảo đã vội
bảo em phải chuẩn bị về thăm đất liền ngay kẻo nếu để lâu thêm vài ngày sẽ
không kịp gặp lại anh chị. Nhân tiện, anh Nam nhờ anh mua giúp thêm mấy thứ.
Lần rồi, vì phải mua nhiều thứ quá nên anh ấy quên khuấy đi mấy món quan
trọng. Tôi hỏi :
– Thế vợ chồng anh Nam có bị cụ quở trách về chuyện không để hai cháu
Tích, Vi ở lại học không ? Nếu để lại, bây giờ hai cháu cũng đã học xong rồi và
về lại đảo cùng với hai em đó.
– Khi anh Nam và chị Giáng Hương chưa về, ông cụ đã biết trước chuyện
này, khen anh Nam là người có trí có nhân nên cụ đồng tình, không hề trách
mắng.
– Ông cụ thật là một con người toàn bích. 62
– Cụ còn hỏi anh Nam nhiều điều về cuộc sống của dân ta hiện nay như ở
đất liền không học tứ tư ngũ kinh thì người ta dạy đạo lý như thế nào.
– Anh Nam trả lời thế nào ?
– Anh Nam khá giỏi về đối đáp nhiều khi em cũng bất ngờ. Anh bảo cứ gì
phải học lý luận của người Tàu, dân ta mới biết đạo lý. Như các cụ ở quê một
chữ cắn đôi không biết nhưng răn dạy con cháu về đạo làm người thì không chê
vào đâu được. Ở đất liền hiện nay, trong nhà trường có môn học đạo đức dạy
vâng lời bố mẹ, yêu kính người lớn, chơi tốt với bạn bè, giúp đỡ người tàn
tật,..thực hiện năm điều bác Hồ dạy cho các cháu nhỏ. Khi lớn lên thì có những
đoàn thể như đoàn Thanh niên cộng sản, Công đoàn, Đảng Cộng sản ở các cơ
quan xí nghiệp tiếp tục rèn luyện đạo đức xã hội chủ nghĩa. Cụ hỏi kỹ về Bác Hồ,
con người như thế nào mà lãnh đạo dân ta đánh bại được lần lượt hai đế quốc
mạnh không kém Nguyên Mông ngày xưa. Anh Nam thưa Cụ Hồ tên thật là
Nguyễn Sinh Cung, con một ông quan triều Nguyễn, nguyên là một nhà nho yêu
nước. Cụ Hồ rất giỏi chữ Nho, làm thơ chữ Nho rất hay. Ngoài ra Cụ còn am
hiểu sâu sắc tứ thư ngũ kinh, nhất là kinh Dịch. Khi còn phiêu bạt ở nước ngoài,
cụ lấy tên là Nguyễn Ái Quốc thể hiện lòng yêu nước sâu sắc muốn tìm một con
đường nhanh chóng cứu đất nước khỏi ách ngoại xâm. Khi về nước lãnh đạo
cuộc khởi nghĩa sắp đoạt chính quyền, Cụ lấy tên Hồ Chí Minh chắc là với ý
nghĩa tự răn mình cần phải cực kỳ sáng suốt để lèo lái con thuyền quốc gia còn
đang mỏng manh vượt qua các thác ghềnh. Ngay tháng Giêng năm 1946, khi
nước ta mới giành độc lập, Cụ đã khẳng định trước giới báo chí nước ngoài rằng
: “…Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước tôi được
hoàn toàn độc lập, dân tôi được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo
mặc, ai cũng được học hành”. Trước khi từ giã cõi đời, Cụ viết di chúc dặn lại
nhiều điều, trong đó Cụ ân hận là không thực hiện được ý định sau cuộc kháng
chiến chống Mỹ thắng lợi hoàn toàn, Cụ “sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc để chúc
mừng đồng bào, cán bộ và chiến sĩ anh hùng, thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu
thanh niên và nhi đồng yêu quý..”(1). Cụ tư đồ bảo với anh Nam điều nguyện ước
của Cụ Hồ, ở đảo này ta đã làm được. Giá như Cụ Hồ còn sống, thế nào ta cũng
mời Cụ ra đảo thăm chơi với ta một chuyến. Cụ tư đồ còn nói vui, số ta không có
duyên gặp Cụ, nếu như những năm Cụ Hồ bắt đầu già yếu nhiều bệnh tật ta
biết và mời Cụ ra đảo, ta sẽ chữa khỏi bệnh cho Cụ, dăm ba hôm sau về, nước
nhà đã thống nhất, nhân dân miền Nam được thỏa lòng chiêm ngưỡng Cụ và có
phải Cụ đã được toại nguyện rồi không !
Vợ chồng tôi lại cũng giúp cho vợ chồng Thanh giấy tờ để đi lại. Lần này, bố
mẹ của hai cháu Bình và An được mời đi cùng. Bình và An năm nay một đứa 26
và một đứa 25 tuổi, sau khi tốt nghiệp đại học, tiếp tục học đoạt luôn bằng tiến sĩ
và nhận công tác ngay tại Hà Nội. Kế hoạch của hai người là từ Hà Nội vào
thành phố Hồ Chí Minh, từ thành phố này trở ra Thanh Hóa, tất cả khoảng hai
tuần rồi về lại đảo. Phương tiện đi là ô tô, xe lửa, máy bay để cho Phúc biết ở
đất liền người ta sống và đi lại thế nào.
Trong thời gian hai vợ chồng Thanh đi du lịch, tôi đã mua mấy thứ theo lời
dặn của Nam như máy sản xuất khí hydro từ nước, máy nén khí, máy nổ phát
điện chạy bằng không khí nén. Riêng tám bộ camera hồng ngoại cùng với máy
——-
(1) – Trích Di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh. 63
phát sóng hạ âm, không biết anh Nam dùng làm gì, vì không có sẵn phải nhờ
xưởng thực nghiệm của viện Vật lý nơi cháu Bình công tác làm theo đơn đặt
hàng. Sau này, tôi còn biết là khi ở Hà Nội vợ chồng Thanh có viếng thăm viện
Sinh học nơi cháu An công tác và viện Vật lý, đặt vấn đề tài trợ cho các đề tài
nghiên cứu của hai viện, trong đó lưu ý cấu trúc của não và các vùng chịu ảnh
hưởng của một số sóng bức xạ, chắc lại cũng là hàng đặt của anh Nam.
RẮC RỐI BẤT NGỜ
Như một hồ nước bình yên phẳng lặng bỗng nhiên dồn dập nổi sóng
do một trận cuồng phong bất ngờ ập đến, chỉ trong vòng một tuần mà đảo Mây
đã phải trải qua bao biến cố. Sau khi vợ chồng Thanh đi về đất liền một lúc, quan
tư đồ vội vã cho gọi Nam đến gặp gấp. Nam vừa ló mặt ở cửa, quan tư đồ đã nói
ngay.
– Anh đã gây nên chuyện ở đất liền rồi.
– Thưa có gì ạ ?
– Việc anh chu cấp vàng và kim cương cho Viện của cháu Bình không
ổn ! Bình đã bị bắt do chính quyền nghi vấn cán bộ của Viện làm ăn bất chính
nên có số của cải lớn và Bình đã đứng ra chịu trách nhiệm.
– Vậy bây giờ phải làm gì ạ ? – Nam bối rối hỏi.
– Còn làm gì nữa, anh mà cũng hỏi tôi thế ư ? Anh phải về đất liền ngay,
chỉ một mình anh thôi. Đã đến lúc trình bày sự thật cho họ và ta phải chuẩn bị
gấp để đón phái đoàn ra kiểm tra đảo.
Nói đoạn, ông quay vào trong gọi to :
– Chị Hương đâu rồi ? Mang ra đây bản soạn thảo gửi đất liền ta xem sao.
Giáng Hương mang bản soạn thảo ra đọc to cho mọi người cùng nghe.
Sau khi ông cụ và Nam chỉnh sửa đôi chỗ, nội dung chính thức của bức thư như
sau :
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Kính gửi : BỘ CÔNG AN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Tôi tên là Trần Nguyên Hạc, đảo trưởng đảo Mây xin thừa nhận đã tài trợ cho
Viện Vật lý một số vàng và kim cương để chi dùng cho công tác nghiên cứu của
Viện. Tiến sĩ Bình là người trung gian nhận tài trợ của chúng tôi và chuyển giao
lại số của cải ấy cho Viện. Giấy biên nhận của TS Bình, chúng tôi hiện đang lưu
giữ. Việc sở hữu một tài sản như thế của Viện hoàn toàn minh bạch và đối với
đảo chúng tôi nó thực sự không đáng là bao.
Nhân tiện, đảo chúng tôi kính mời Bộ cử một tổ Thanh tra ra thăm đảo để
kiểm chứng biên lai gốc nhận tài trợ của chúng tôi, đồng thời tham quan các cơ
sở khai thác vàng, bạc và đá quý của đảo.
Kính chào trân trọng.
Đảo Mây, ngày 24 tháng 9 năm 2040
Đảo trưởng
(Ký tên, đóng triện vuông) 64
Lần này thư viết không cần đến chữ Nôm nữa. Mà dù nó có được viết
bằng chữ Nôm thì cũng chẳng ích gì, bởi vì phải dịch nó ra rồi đưa đi công
chứng để người của hai cơ quan chính quyền này có thể đọc được, thời gian sẽ
kéo dài vô ích. Mọi người lại chuẩn bị cho chuyến hải hành của Nam. Ông cụ
còn dặn dò Nam nhiều điều khác nữa để đối phó với đất liền và việc cần làm khi
đi trên chuyến tàu cùng với tổ thanh tra ra đảo.
Vừa khi bước chân lên đất liền, Nam vội vã đón chuyến bay sớm nhất
ra Hà Nội. Chiếc taxi phóng như điên từ ga Nội Bài về thành phố, đồng hồ tốc độ
chỉ 200 km/giờ mà Nam cảm thấy vẫn còn chậm. Đỗ xe xịch trước nhà Bình,
Nam bấm chuông. Cửa mở, nhìn thấy Nam, vợ Bình òa lên khóc. Cô định kể lể
thì Nam ngăn lại.
– Chú biết rồi – Mặc dù trông Nam có vẻ trẻ hơn vợ Bình nhưng thời gian
không xóa được cấp bậc vốn có giữa hai gia đình – Hãy lên taxi đi ngay với chú
đến văn phòng bộ Công an và Tòa án Nhân dân Tối cao.
Sau khi đã yên vị trong xe taxi, Nam mới hỏi :
– Hãy cho chú biết sự việc xảy ra như thế nào !
Vợ Bình sụt sùi kể lể :
– Sáng hôm qua, sau bữa điểm tâm để chuẩn bị đi làm thì có xe công an
đến đọc lệnh bắt anh ấy. Lý do : để điều tra số vàng và đá quý sở hữu một cách
“mờ ám” mà anh ấy đã trao cho Viện. Họ nghi Viện có tham gia buôn lậu lớn mà
anh ấy là người đứng ra tổ chức. Có người giấu mặt nào đó tố cáo.
– Ông viện trưởng không nói gì sao ?
– Chính cả cơ quan là bị cáo thì ông ấy còn nói gì được ?
– Được rồi. Chuyến vào đất liền của chú lần này không phải ngẫu nhiên
mà đảo đã biết trước và phái chú về để giải quyết công việc. Cháu cứ yên tâm đi
! Một hai hôm thôi, thế nào Bình cũng được thả ra, chú bảo đảm với cháu.
Đúng như Nam nói, sau khi nhận được thư của đảo, ngày hôm sau ông
bộ trưởng bộ Công an ra lệnh thả Bình ra, đồng thời tổ chức ngay một tổ thanh
tra gồm bảy người, đứng đầu là một thiếu tá công an. Trong cùng ngày, từ biệt
gia đình Bình, Nam cùng với tổ thanh tra bay vào Thanh Hóa. Không phải nhờ
vả Sở Công an địa phương cho mượn tàu, tổ thanh tra được Nam tìm mua tặng
cho một chiếc du thuyền khá đẹp và đắt tiền. Có đủ phương tiện kể cả việc
chuẩn bị dầu máy, nước ngọt và lương thực dư dùng trong một tháng, cả đoàn
nhổ neo ra khơi ngay. Trời yên biển lặng, tàu của Nam lái phăng phăng hướng
về phía mặt trời mọc đi trước dẫn đường.
Không mấy chốc đã nhìn thấy một vùng mây mù dày đặc án ngữ trước
mặt, Nam kéo còi báo hiệu hai tàu thả neo cùng dừng lại. Nam mang theo các
thứ chuẩn bị sẵn cùng với chiếc thuyền con bơi sang tàu của tổ thanh tra.
Sau khi bước được lên boong du thuyền, Nam từ tốn nói :
– Thưa thiếu tá, thưa các anh, qua khỏi lớp mây mù dày đặc trước mặt là
chúng ta đến được đảo. Ông cụ đảo trưởng có dặn tôi mang theo món quà nhỏ
để tặng các anh xem như làm lễ ra mắt và nhập đảo.
Vừa nói, Nam vừa đưa tặng mỗi người trên du thuyền một cái túi nặng
khoảng một kg. Sau khi mở túi nhìn thấy những hạt kim cương lóng lánh, mọi
người cùng ồ lên ngạc nhiên thích thú. Ông thiếu tá bắt chặt tay Nam và từ tốn : 65
– Anh Nam khéo bày đặt ! Dù sao thì bọn này cũng xin cảm ơn cụ đảo
trưởng, cảm ơn anh.
Nam ôn tồn :
– Không nhiều nhặn gì so với tài sản đảo đang sở hữu mà hoàn toàn không
có giá trị ở đảo. Tôi đoan chắc ông cụ đảo trưởng sẽ còn tặng các thành viên tổ
thanh tra món quà giá trị gấp mười thậm chí gấp trăm lần cái túi kim cương nhỏ
này. Rồi các anh sẽ tận mắt chứng kiến những suối vàng, suối bạc, suối kim
cương của đảo. Còn ngọc trai và yến sào thì nhiều vô kể.
Trước khi trở lại tàu của mình, Nam nói thêm :
– Có một đề nghị tôi muốn đề đạt đến thiếu tá …
– Anh cứ nói.
– Do cấu tạo địa chất của đảo Mây, không hiểu sao mọi thiết bị vô tuyến viễn
thông đều bị nhiễu, không thể gọi đi đâu được. Để cho đất liền không còn chút
nghi vấn gì và sớm khép lại vụ điều tra tài sản tự có của Viện Vật lý, xin thiếu tá
xét thấy có thể được, điện về bộ Công an việc tổ thanh tra đang chứng kiến tận
mắt kho tài sản khổng lồ mà đảo Mây sở hữu. Liệu làm như thế có mang tiếng là
“tiền trảm hậu tấu” không ?
Ông thiếu tá sau khi nghe hết câu, cười ha hả thoải mái rồi quay sang hỏi
sáu thành viên trong tổ thanh tra :
– Anh Nam đề nghị thế, anh em thấy thế nào ? Tôi báo cáo về đất liền được
chăng ?
– Thủ trưởng cứ làm tới đi, anh em xin chịu trách nhiệm cùng thủ trưởng –
mọi người đồng thanh hưởng ứng.
– A lô ! – thiếu tá bật điện thoại di động, bấm số và gào to – A lô, tôi, thiếu tá
Phan Lâm đây, xin nối máy cho tôi gặp bộ trưởng. Ơ, có việc gấp. Theo đường
dây ưu tiên. Bộ trưởng đã dặn rồi – Chờ một lát – A lô, à kính thưa anh, tôi Phan
Lâm đây. Báo cáo anh, tổ chúng tôi đang tiếp cận đảo Mây. Đã gặp mọi người.
Đã tham quan đảo. Quả là một kho báu khổng lồ về trữ lượng vàng, bạc, kim
cương lộ thiên. Ngọc trai vô kể. Còn là đảo yến lớn. Vâng, chúng tôi sẽ làm báo
cáo tỉ mi sau khi về đất liền. Vâng. Cảm ơn anh – Tắt máy.
Quay sang Nam :
– Xong rồi ! Anh vừa ý chưa ?
– Vâng, rất cảm ơn thiếu tá. Chúng ta tiếp tục hành trình.
Nam bước xuống thuyền bơi về tàu mình, kéo còi và nhổ neo. Hai tàu cùng
tiến lên, xuyên qua lớp mây mù đẫm hơi nước. Chẳng mấy chốc, mọi người đã
nhìn thấy đảo và buông neo. Đã có hai chiếc bè chờ sẵn để đón Nam cùng tổ
thanh tra súng ống sẵn sàng, lên bờ. Duy có một chiếc không đón khách do anh
cả con cụ tư đồ lái. Sau khi hỏi nhỏ Nam câu gì đó, anh cả ngồi xuống lấy giấy ra
ghi ghi chép chép rồi bỏ vào hai chiếc chai rỗng, quay lưng về phía mọi người,
đậy nút và bật lửa hơ sáp ong hàn kín miệng chai. Anh cả chèo thẳng bè ra khơi,
qua khỏi lớp mây mù, vứt hai chai xuống nước rồi lẳng lặng chèo vào. Trong hai
chai, chai đầu chứa mảnh giấy ghi nắn nót bức thư nội dung sau :
Ngày 26 tháng 9 năm 2040
Kính gửi Bộ Công an, 66
Chúng tôi tổ thanh tra gồm bảy người do thiếu tá Phan Lâm chỉ huy đã đến
đảo Mây chứng kiến đảo sở hữu những kho báu khổng lồ, cái chứa vàng, cái
chứa bạc và cái chứa kim cương, tất cả đều lộ thiên. Vì vậy việc đảo Mây tài trợ
kim cương cho viện Vật lý dùng cho các công trình nghiên cứu hoàn toàn thực,
không hề có chuyện mờ ám.
Ký tên chứng thực dưới đây,
Thiếu tá Phan Lâm
Mảnh giấy trong chai thứ hai cố tình viết chữ nguệch ngoạc có nội dung sau
đây :
Cấp cứu !
Chúng tôi 7 người của tổ thanh tra đảo Mây do Bộ Công an biệt phái đi trên
chiếc du thuyền đang gặp bão dữ dội, không biết có được may mắn sống sót trở
về đất liền hay không. Nếu số trời đã định, xin đau lòng vĩnh biệt.
Ngày 27 tháng 9 năm 2040
Một tuần sau, hai chiếc chai trôi giạt vào bờ biển Thanh Hóa. Đọc thấy nội
dung, người dân gửi cấp tốc cùng lúc hai bức thư ra Hà Nội đến Văn phòng bộ
Công an. Đối chiếu với dự báo thời tiết của Nha Khí tượng, đúng ngày 27 tháng
9 hôm ấy có bão lớn ở ngoài khơi Thanh Hóa. Cả tuần không liên lạc được với
tổ thanh tra, mọi người đều không còn chút hy vọng mà tin rằng tất cả đã bị nạn
không bao giờ trở về. Sự thực thì lúc đó, tổ thanh tra còn ở trên đảo, đang mê
mải thích thú với món quà tặng của đảo cùng với một âm mưu ác độc không có
thời cơ thực hiện. Và rồi chiếc du thuyền này cũng sẽ bị đắm, chôn vùi đến
người cuối cùng của tổ thanh tra nhưng phải đợi đến cùng mùa này của sáu
năm sau.
Đảo hiện giờ ở vào thời điểm chập choạng tối. Tuy nhiên, mọi người còn
nhìn thấy rõ cụ tư đồ cùng với nhiều thanh niên nam nữ và một số trẻ em đang
chờ đón. Được Nam giới thiệu, thiếu tá gật đầu bắt tay chào đảo trưởng. Cụ tư
đồ bảo Nam đưa tổ thanh tra về một căn nhà chuẩn bị sẵn để nghỉ ngơi, tắm rửa
và dự buổi chiêu đãi vào ngay tối hôm đó.
Khi bước vào căn nhà mình, Nam được Giáng Hương cho biết ông cụ sai
người dựng gấp căn nhà sàn đặc biệt cho khách, trong đó giấu kín một camera
và các micro thu âm. Thức ăn đồ nhắm đang được hối hả chuẩn bị. Trong bữa
tiệc chiêu đãi khách, ngoài các món cá rán, cá hấp quen thuộc còn có thịt gà
rừng, heo rừng, ăn với cơm gạo tám thơm và nhắm rượu thốt nốt. Về phía chủ
nhà có bác tư đồ, anh cả, bác đề đốc và vợ chồng Nam sẽ đến dự.
Đúng bảy giờ tối, dưới ánh đèn điện sáng trưng và trong tiếng nhạc
nhẹ mở khẽ, dịu êm của máy cát sét, mọi người chủ và khách đã quây quần
đông vui quanh bàn tiệc giữa nhà. Sau mấy lời hoan nghênh chào đón khách,
giới thiệu các nhân vật của đảo trong bữa tiệc và mô tả qua sinh hoạt của dân
đảo, bác tư đồ nói lời cảm ơn chính quyền đất liền đã chấp nhận yêu cầu của
đảo. Đáp lại, thiếu tá thay mặt tổ thanh tra và chính quyền đất liền cảm ơn lời
mời ra thăm đảo và hứa sẽ cố gắng hết sức mình để làm sáng tỏ sự tài trợ vô
tư trong sáng của đảo đối với viện Vật lý ở đất liền và xem đó còn là sự đóng
góp của cải vật chất của những người con xa xứ cho Tổ quốc. Nam tiếp theo 67
đứng lên đề nghị mọi người nâng cốc chúc sức khoẻ của chủ và khách, chúc
cho sự thịnh vượng của đất nước. Anh cả mời thiếu tá, các thành viên trong tổ
thanh tra cùng mọi người đại diện đảo cầm đũa. Bác tư đồ và bác đề đốc ngồi
tiếp chuyện với thiếu tá. Sáu thành viên còn lại của tổ thanh tra bàn tán sôi nổi
cùng với anh cả và Nam. Ngồi bên cạnh Giáng Hương là một chàng lính trẻ tên
Tân, khá hóng chuyện và tò mò về mọi thứ.
– Đảo Mây sao không có tên trên bản đồ hở chị ?
– Chắc vì nó bé quá !
– Mọi thứ đều do đảo tự làm hay mua bán trao đổi với đất liền và các đảo
láng giềng ?
– Hoàn toàn tự túc. Nhưng những tiện nghi hiện đại là do chúng tôi vào đất
liền mua sắm cách đây mấy hôm. Cá và thú rừng đảo có sẵn không phải nuôi.
– Thế trên đảo có chợ để mua bán không ?
– Không. Đảo phân việc làm cho mỗi người và phân phối thu hoạch đều
cho mỗi gia đình. Đảo khá trù phú nên người dân ở đây không phải vất vả cho
việc mưu sinh.
Với thức ăn đồ uống lạ miệng, khách ăn rất ngon. Giáng Hương nói
thêm :
– Dân đảo từ lâu chỉ quen ăn cá. Cá biển ở đây nhiều vô kể. Những
món như trai ngọc, yến sào được đất liền quý trọng thì ở đây dân đảo ăn thường
xuyên phát ngấy. Hôm nay vì có các anh nên cụ đảo trưởng cho phép bắt gà
rừng, lợn lòi giết thịt để chiêu đãi khách chứ cụ và dân đảo thương chúng lắm.
Trước khi cắt tiết, cụ buộc mọi người phải đánh thuốc mê cho chúng ngủ. Không
muốn làm chúng đau trước khi chết.
– À, chị biết không, ở đất liền vợ em kinh doanh bán phở gà nhưng lại
rất sợ cắt tiết gà nên phải thuê người khác làm. Giá như chị cho em xin một ít
loại thuốc ấy.
– Được thôi. Nó là bột nghiền từ hạt của một loại cây bụi mọc rất nhiều
ở đảo. Để lát nữa, tôi gói một ít anh đem về cho chị ấy dùng thử.
– Được thế, em cảm ơn chị quá !
Ăn no, uống say kết hợp với nỗi nhọc nhằn của chuyến hải hành, bảy
vị khách đất liền trông có vẻ thấm mệt, hai mắt cứ díp lại và chỉ muốn nghỉ ngơi
ngay. Cụ tư đồ biết ý sai người dọn bàn sạch sẽ và cùng với cư dân đại diện đảo
đứng lên chào từ biệt.
Sáng hôm sau, một nồi to sắn luộc cùng với dừa miếng và đường thốt
nốt đã có ai đó đặt sẵn trên bàn trong lúc mọi người khách còn đang say giấc.
Chính mùi thơm của thức ăn đã đánh thức họ dậy. Sau khi làm vệ sinh cá nhân,
mọi người ngồi vào bàn. Vừa đúng lúc ấy, Giáng Hương bước vào.
– Xin mời thiếu tá và các anh cứ tự nhiên. Cây nhà lá vườn, chắc chắn
các anh sẽ thấy lạ miệng.
Sau đó, Giáng Hương vạch kế hoạch tham quan. Sáng hôm nay, đi
thăm khu nông nghiệp và công nghiệp, suối bạc và suối vàng, về ăn cơm, nghỉ
trưa. Chiều đi thăm hang yến, hồ nước ngọt và suối kim cương. Tối liên hoan
đưa tiễn khách. Tổ thanh tra nghỉ đêm ở đảo, sáng hôm sau lên du thuyền về đất
liền. Giáng Hương được đảo trưởng giao trách nhiệm hướng dẫn tổ tham quan. 68
– Cụ đảo trưởng có sai người may tặng các anh túi để đựng vàng, bạc
và kim cương, quà tặng kỷ niệm của dân đảo.
Nói rồi, Giáng Hương phát cho mỗi người ba chiếc túi lụa, chiều dài
khoảng ba gang tay và bề rộng khoảng một gang tay.
– Đảo trưởng còn yêu cầu khi đi thăm thú các nơi, không ai mang theo
vũ khí. Đây thực sự là hòn đảo thanh bình, dân đảo sống thương yêu đùm bọc
nhau và hòa mình cùng với thiên nhiên. Tuy có rừng rậm nhưng đảo không hề
có thú dữ, rắn rết, chuột bọ, muỗi mòng. Chim chóc và thú rừng rất dạn dĩ và
thân thiện với người. Chỉ cần một tiếng súng nổ vô tình hay hữu ý của các anh,
cuộc sống ở đảo sẽ bị xáo động nghiêm trọng. Cụ đảo trưởng hứa bảo đảm an
toàn cho tổ thanh tra cho đến khi các anh rời đảo. Vả lại, ta dành sức để mang
các túi quà có hơn không ?
Trong khi Giáng Hương nói, lúc đầu mọi người còn phân vân, nhưng
càng về sau, lời nói của cô càng thuyết phục thính giả. Hơn nữa, mọi người đều
cùng có cảm nhận chung là Giáng Hương hoàn toàn trung thực và sự cảnh giác
vốn có của ngành công an có lẽ không cần thiết trong lúc này. Cả tổ chờ đợi
phản ứng của thiếu tá.
– Đồng ý với đề nghị của đảo. Nào anh em, chúng ta để vũ khí lại và chỉ
mang theo túi ba gang thôi.
– Hoan hô ! Giá như đảo biếu anh em ta túi chín gang thì hay hơn. Trong
chuyến về, chúng ta có phải bay trên lưng đại bàng đâu – Có ai đó vừa nói vừa
khúc khích cười.
Giáng Hương đi trước cùng thiếu tá dẫn đường. Những người còn lại
lẽo đẽo theo sau, đảo mắt ngó nghiêng ra chiều thích thú. Họ chất vấn Giáng
Hương không lúc nào ngớt.
Trưa, mọi người lếch thếch kéo nhau về nhà khách, vai mang lặt lè
những túi đầy sỏi bạc và sỏi vàng. Giáng Hương chào tạm biệt để về nhà. Bữa
cơm trưa thịnh soạn được dọn lên. Vừa mệt vừa đói, mọi người ăn ngấu nghiến,
gọn sạch các món mà không thèm giữ gìn ý tứ. Đáng lẽ nghỉ ngơi lấy sức cho
cuộc du khảo buổi chiều, thiếu tá giữ mọi người ngồi lại bàn.
– Tân, cậu kiểm tra lại vũ khí đạn dược xem có còn đầy đủ không !
Một lát sau.
– Báo cáo thủ trưởng, không thiếu thứ gì ạ.
– Tốt. Cảm ơn lòng trung thực của đảo trưởng. Nhưng anh em ạ, ta có
một kế hoạch … Tân, cậu ra ngoài cảnh giới, sẽ nghe chỉ thị sau.
– Tuân lệnh.
Thiếu tá tiếp tục.
– Anh em có đoán được ta định nói gì không ?
– Dạ, sơ sơ thôi ạ. Có phải thiếu tá muốn chúng ta định cư lại đây ?
– Quả là thông minh !
Lướt mắt qua từng khuôn mặt của cấp dưới, tin chắc không còn chút nghi ngờ,
thiếu tá ngửa chủ bài :
– Chiều nay, trong bữa tiệc tiễn đưa, tớ cấm các cậu say khướt như
đêm qua. Phải chịu khó tạm bóp mồm bóp miệng, chỉ đến sáng mai thôi khi sự
nghiệp đã thành, tớ sẽ cho các cậu xả láng. Chỉ cần triệt hạ ba nhà : cụ đảo
trưởng, cụ đề đốc và vợ chồng tay Nam. Nhớ không để sót một mống. Sáng mai, 69
chúng ta sẽ là chủ nhân của hòn đảo châu báu này cùng với một bầy nô lệ theo
đúng nghĩa.
Trong lúc này ở nhà mình, Giáng Hương cũng không ngủ trưa mà
cùng ngồi với Nam trước màn hình theo dõi quang cảnh đang diễn ra ở nhà
khách. Cả hai nghe rõ mồn một từng lời nói của mỗi người. Tất cả đều được thu
vào băng để trình lại ông cụ.
Đúng hai giờ chiều, Giáng Hương đến nhà khách. Mỗi người lần này
mang theo một chiếc túi. Tân nhanh nhẩu có ý kiến :
– Chị Giáng Hương ơi, em trút hai túi bạc và vàng gửi lại đảo mà lấy cả
ba túi đều là kim cương có được không ạ !
– Được. Ở đảo không ai dùng kim cương làm gì. Chú cứ tha hồ lấy.
Những người khác nhìn nhau do dự, định làm theo Tân nhưng thấy thiếu tá
trừng mắt đành bỏ ra ngoài.
Chuyến đi của họ chiều nay, nếu ai tinh ý một chút sẽ thấy nó có vẻ
nặng nề miễn cưỡng. Không ai tỏ vẻ háo hức nhiệt thành mong muốn được nhìn
thấy những cái mới lạ và giàu có của đảo như buổi sáng. Cũng có chất vấn
Giáng Hương, nhưng những câu hỏi có gì đó khá gượng gạo và hỏi để lấy có.
Khi đứng ngay trên bờ suối kim cương, phóng tầm mắt nhìn bao quát xung
quanh và rồi bốc bỏ đầy túi những hạt cát lóng lánh, không ai tỏ vẻ gì hào hứng.
Giáng Hương cũng cảm nhận rõ nét những điều đó nhưng giả tảng không biết
gì.
Buổi chiều hôm ấy, sau khi tắm biển thỏa thích, tổ thanh tra được mời
dự buổi tiệc tiễn đưa. Vẫn những thành viên đại diện cho đảo như bữa tiệc trước
được mời tiếp khách. Tuy nhiên trên bàn tiệc chiều nay chỉ có các món cá chứ
không có thịt, bù lại là một rổ lớn trai ngọc còn sống để nướng lò nhắm rượu thốt
nốt và cuối bữa có món canh yến đặc biệt nấu theo kiểu dâng lên vua ngự.
Mọi người ăn uống chúc tụng nói cười rôm rả, hoàn toàn không có
không khí nặng nề giả tạo. Các chàng trai trong tổ thanh tra cố tình xơi rất nhiều
trai nướng để còn lấy ngọc, càng ăn được nhiều trai, càng sở hữu được nhiều
ngọc. Lần này, mọi người cả chủ lẫn khách đều uống rượu khá từ tốn và ai ai
cũng hoàn toàn tỉnh táo sau bữa tiệc. Tuy vậy, sau khi chủ chúc tụng khách ngủ
ngon để sáng hôm sau lên đường bình an vừa bước ra khỏi nhà thì cả bảy vị
khách lần lượt đổ gục, thiếp đi trong giấc ngủ mê muội. Tức thì các người chủ
quay trở vào. Cụ tư đồ sai các thanh niên lực lưỡng cõng từng vị khách ra bè
cùng với đồ đạc vũ khí và quà tặng không thiếu một thứ gì để đưa về du thuyền,
lái ra khỏi đám mây mù và thả neo.
Anh nắng ban trưa chói chang rọi thẳng vào mắt đánh thức lần lượt
từng thành viên của tổ thanh tra. Thiếu tá lúc lắc đầu vươn vai cho đỡ mỏi, lần
lượt nhớ lại mọi việc diễn ra đêm qua. A, phải rồi ! Dự tiệc tiễn đưa xong chưa
kịp hành động theo kế hoạch đã bị tống hết ra đây trên chiếc du thuyền này.
Chạy vội ra phía mũi sau, neo của du thuyền đang nằm dưới nước. Thế có
nghĩa là du thuyền rời đảo chưa xa. Nhưng đám mây mù quanh đảo đâu rồi ?
Thiếu tá hét bảo các thành viên kiểm tra đồ đạc, vũ khí. Mọi người báo cáo còn
đầy đủ không thiếu một thứ gì kể cả quà tặng. Phải nhất quyết quay trở lại để
thực hiện kế hoạch lớn thôi. Bỗng thiếu tá giẫm phải khẩu súng lục của mình và
nhận thấy một bức thư buộc kèm theo. Mở ra đọc, nội dung bức thư viết : 70
Kính chào thiếu tá,
Nhà khách đã được gắn camera và máy ghi âm nên đảo chúng tôi biết rất rõ
kế hoạch lớn và vô cùng hiểm độc của thiếu tá. Chả nhẽ thiếu tá lấy oán trả ân
như thế sao ? Chúng ta chỉ có duyên gặp nhau một lần, duy nhất và không còn
lần sau. Thiếu tá hãy từ bỏ ý định cho du thuyền quay trở lại, điều này không thể.
Vả chăng nếu có may mắn nhìn thấy lại đảo thì hệ thống camera và súng phóng
hỏa bố trí quanh đảo chúng tôi sẽ nhấn chìm ngay tức khắc du thuyền và toàn bộ
tổ thanh tra của thiếu tá.
Xin kính chào vĩnh biệt.
Đảo trưởng ký tên,
(Trần Nguyên Hạc)
Không thể quay lại đảo ! Đương nhiên rồi. Khá nguy hiểm. Sao không bằng
lòng với món quà nhỏ của đảo nhỉ ? Nó vẫn có thể biến ta thành người giàu to
kia mà ! Thiếu tá lẩm bẩm. Kế hoạch lớn không thực hiện được. Hay là…. Trong
óc thiếu tá chợt lóe lên một ý nghĩ mới, một kế hoạch nhỏ… mỗi lúc một rõ nét.
Mặt trời đã đứng bóng. Bầu trời quang đãng, trong xanh và nắng nóng oi bức
ngột ngạt. Mọi người đói meo. Tân, chiến sĩ bé nhất tổ được thiếu tá sai nấu
nước chuẩn bị mì ăn liền cho mọi người. Trong đầu Tân cũng hiện lên một kế
hoạch nhỏ, cũng khá rõ nét như của thiếu tá. Sau bữa ăn đạm bạc, mọi người
trên du thuyền lăn ra ngủ, một giấc ngủ tưởng chừng khá say như để bù lại
những căng thẳng của biến động vừa xảy ra trên đảo. Nhưng Tân không buồn
ngủ. Gói thuốc mê do Giáng Hương tặng có hiệu quả trông thấy. Nhìn đau đáu
vào những con người đang nằm ngồi vạ vật, Tân suy nghĩ rất lung. Sao nỡ đẩy
đồng đội của mình xuống biển ? Rồi sau đó sẽ ra sao ? Mình cả gan phạm tội
tày trời này sao ? Với đống kim cương, vàng bạc nhiều gấp mấy lần phần mình
được hưởng, liệu cuộc đời tương lai của mình có được yên ổn không ? Làm sao
tránh khỏi ác giả ác báo ? Cái phần “Nhân chi sơ tính bổn thiện” trong con người
của chàng lính trẻ bỗng nhiên trỗi dậy. Tân ngồi bất động, đờ đẫn như người
mất hồn.
Thời gian lúc này dường như đang ngừng lại. Biển hoàn toàn tĩnh lặng. Sóng
chỉ gợn lăn tăn. Chiếc du thuyền quý phái nằm im chịu trận dưới cái nắng chói
chang. Trời không chút gió. Không khí rất oi nồng.
Thuốc mê thực ra chỉ tác dụng tốt đối với gà, còn với người nó thoáng qua
một lúc rồi thì dã đi nhanh chóng. Vì vậy không mấy chốc, mọi người lần lượt
tỉnh giấc. Hoàn toàn không một chút nghi ngờ, thiếu tá Lâm dụi mắt cho tỉnh hẳn,
sau đó hô nhổ neo và ra lệnh quay mũi thuyền trực chỉ hướng Tây.
Trên biển lúc này, chiếc du thuyền êm ái lướt nhẹ trên từng đợt sóng lừng
đầu tròn lan tỏa duỗi từng sải dài đều đặn hơn hai trăm mét. Chân trời bắt đầu
xuất hiện mây ti, từng chùm sợi trắng như lông tơ. Nhưng … chưa được dăm
phút sau, dường như là định mệnh, bỗng chốc cả bầu trời bao phủ một lớp mây
dày như bức màn màu sữa. Mây hạ thấp dần, chuyển nhanh sang màu xám, tan
tác dồn thành từng đụn và bay rất nhanh tạo nên những khối khổng lồ. Tiếp theo
mưa bắt đầu rơi và cũng là lúc gió ập đến, vần vũ giật từng hồi ngày một tăng.
Bầu trời thấp hẳn, đen kịt và lạc lõng giữa biển cả mịt mù tựa hồ chiếc chảo
nước khổng lồ đang sôi sùng sục giận dữ, cùng với nhiều tiếng la hét thất thanh 71
tuyệt vọng, chiếc du thuyền mỏng manh đột nhiên bị hút thẳng vào xoáy nước
lớn, mất dạng.
Sau này, có lần tôi hỏi quan tư đồ, ông bố vợ tôi về số phận của đội thanh
tra thế nào. Điềm nhiên ông nói làm tôi bổng rùng mình :
– Họ ác quá ! Đã được cho nhiều mà lòng tham không dừng, muốn chiếm cả
đảo ta. Với số vàng, kim cương trời cho, nếu về được đất liền, họ sẽ trở nên
giàu sụ, gia tài bạc tỷ, các ác vốn sẵn sẽ được nhân lên tỷ tỷ lần. Họ có thể dùng
tiền mua chuộc làm cán bộ thoái hóa từ cao đến thấp. Thậm chí, họ còn có thể
tiến xa hơn, lật độ Đảng, cướp chính quyền, bắt tay ngoại bang, …
– ….?
– Đấy là Trời ! Ta đâu có quyền lực quyết định số phận của họ. Định mệnh
sắp đặt sẵn và ta có khả năng biết trước, con ạ.
PHẦN KẾT CỦA NGƯỜI DẪN CHUYỆN
Năm nay tôi 83 tuổi. Thấm thoắt mà đã 20 năm kể từ khi vợ chồng Nam
và hai cháu Tích,Vi trở lại đảo. Một lần trong ngày giỗ hai ông bà bố mẹ Nam, đủ
mặt mọi người trong đại gia đình, tôi có hỏi thử đứa nào, gia đình nào muốn
theo anh Nam ra sống ở đảo. Tôi nói về cuộc sống thanh bình ở đảo, không phải
lo cái ăn, cái mặc, không hề có người xấu, không ốm đau bệnh tật và cũng
không giấu chúng về sự lệch pha thời gian giữa đảo và đất liền. Một ngày ở đảo
tuy vẫn là hai mươi bốn giờ nhưng tương đương với sáu năm ở đất liền. Giả dụ
bây giờ, hai cháu Tích và Vi trở lại thăm đất liền, chúng vẫn ở tuổi 5, 6 nhưng An
và Bình nhà ta đã là người lớn 25, 26 tuổi rồi.
Đoạn, tôi quay sang ướm hỏi bố của Bình và mẹ của An :
– Các con nghĩ sao ? Nếu muốn đưa gia đình ra đảo sống thì bố mẹ đề
nghị với anh Nam.
Mẹ của An hỏi lại :
– Bố mẹ có định đi không ?
Lan trả lời ngay :
– Không. Bố mẹ già rồi. Vả lại sống lâu để làm gì khi không còn làm được
điều gì có ích và sau đó gửi nắm xương tàn nơi đất khách ?
Tôi tiếp lời :
– Bố mang nợ đất nước này, quê hương này. Lúc đất nước có chiến
tranh thì bố sống yên bình, học đại học rồi sau đó đi dạy ở hậu phương trong khi
bao nhiêu con người đã ngã xuống để bảo vệ nó. Món nợ này dù có sống đến
tram cuộc đời, bố cũng không thể trả được hết.
– Nếu bố mẹ từ chối, bọn con cũng không thiết đi. Dẫu có ra đảo chỉ để ở
chơi dăm bữa nửa tháng rồi về thì đâu còn bố mẹ để gặp, bà con họ hàng cũng
không, lớp trẻ sẽ không biết mình là ai.
Bố của Bình góp thêm :
– Bọn con và các cháu đều có việc làm tốt, đều có cuộc sống đầy đủ như thế
này ở đất liền, gia đình ta ông bà con cháu sum họp đông vui, bây giờ từ bỏ hết
ra đảo để làm gì ? Liệu cuộc đời con người chỉ cần sống thật lâu và không phải
lo cái ăn cái mặc là đủ sao ?
Các cháu, con của Bình và An, tò mò hỏi : 72
– Ở đảo, có máy vi tính nối mạng, có máy bay, tàu thủy, xe hơi và có kem ăn
không hỡ ông ?
– Ở đảo, vàng bạc, kim cương, ngọc trai nhiều vô kể, không ai giữ nó để làm
gì nhưng những thứ cháu hỏi thì không.
Các cháu nhỏ lắc đầu tiu nghỉu :
– Thế thì chán lắm !
Sau khi đưa tiễn vợ chồng Thanh về, tôi nghĩ mình khó lòng đủ sức khoẻ
sống đến trăm tuổi để còn gặp lại các bạn quen của đảo như vợ chồng Nam, vợ
chồng Thanh, hai cháu Tích, Vi. Cho nên, tôi đã ghi lại di chúc dặn con cháu đại
ý theo tinh thần của bà cụ mẹ Lan như thế này : “Vàng ngọc châu báu nhà ta có
nhiều nhưng không phải tự mình làm ra nên tuyệt đối không được tiêu xài phung
phí. Nhà ta là nơi đi về của những ông chủ đích thực của căn nhà và của cải
châu báu này, các con cháu phải giúp đỡ họ tận tình bằng bất cứ giá nào. Anh
chụp và tên tuổi của họ, ta phóng to treo sẵn trên tường phòng khách để con
cháu sau này nhìn vào đối chiếu nhận diện”.
Mấy hôm nay, tôi bỗng thấy trong người khang khác. Có linh cảm như mình
không còn được sống bao lâu nữa. Trải mấy năm trời từ khi quen biết anh Nam,
tôi đã ghi tỉ mỉ câu chuyện đời anh từ ngày anh mất tích lần đầu cho đến bây giờ.
Để cho câu chuyện bớt nhạt nhẽo vô duyên, tôi có thêm mắm thêm muối, nếu vì
thế mà xảy ra sai sót, mong những người am hiểu khoa học và lịch sử nước nhà
vui lòng miễn thứ. Tôi đã thắp mấy nén hương vái cụ Tố Như xin mượn tạm hai
câu cuối trong truyện Kiều nổi tiếng của cụ để kết thúc câu chuyện của mình :
“Lời quê chắp nhặt dông dài,
“Mua vui cũng được một vài trống canh”
Xin trân trọng hầu chuyện bạn đọc và rất cảm tạ lòng ưu ái, kiên nhẫn của bạn
đã cố gắng xem cho đến dòng cuối tập sách này.
HẾT
BÌA SAU
NGUYỄN VĂN LÂN. Sinh năm 1933. Quê xã Tây Phú, huyện
Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Tốt nghiệp Đại học Bách khoa Hà Nội
năm 1960. Nguyên giảng viên Đại học Bách khoa Hà Nội
(1960), Đại học Công nghiệp nhẹ (1968), Đại học Bách khoa
TP Hồ Chí Minh (1977). Nhận bằng Tiến sĩ năm 1992. Nhận
hàm Phó giáo sư năm 1996. Tác giả của 6 đầu sách kỹ thuật
chuyên ngành. Tiểu thuyết đầu tay ĐẢO MÂY, truyện vừa, Nxb
Văn nghệ, 2005
“Đảo Mây”, câu chuyện xảy ra ở nước ta từ năm 1980 kéo dài đến tận hôm nay
vẫn chưa có hồi kết, nói về một hòn đảo mà theo quan niệm thời xưa là đảo thần
tiên, ở đó cuộc sống hoàn toàn thanh bình no đủ hạnh phúc, không hề có tệ nạn
xã hội và chiến tranh, không bệnh tật ốm đau, con người sống lâu nghìn năm. 73
Lãnh đạo tinh thần của đảo là một vị quan đại thần thời nhà Hồ đã cùng gia nhân
rời bỏ đất liền ra đảo định cư trốn tránh giặc Minh.
Không giấu gì các bạn , hòn đảo đó nằm ở khoảng 19,6 độ vĩ Bắc từ bãi
Sầm Sơn đi ra, còn kinh độ bao nhiêu không rõ, chỉ biết nếu đi bè với buồm căng
gió, bạn phải mất một ngày đêm. Tuy nhiên, phải có duyên nợ với đảo, bạn mới
gặp được một vùng mây mù dày đặc, khi đó bạn đừng ngần ngại thẳng tiến.
Không bao lâu, bạn sẽ đặt chân lên đảo. Nếu dân đảo chấp thuận, bạn có thể đi
thăm suối vàng, suối bạc, suối kim cương, tha hồ ăn canh tổ yến, nhắm rượu
thốt nốt với trai ngọc. Bạn còn chứng kiến hai cặp vợ chồng trẻ mà mối tình của
họ vượt thời gian trong đó có Giáng Hương và Từ Thức, sau đó Giáng Hương
lấy một người chồng tiến sĩ địa chất sinh ở giữa thế kỷ thứ 20.
Đảo có thể giữ bạn ở lại hay để bạn về. Nếu ở lại, bạn sẽ không bao giờ
được nghe phát thanh xem truyền hình, không thể chơi game và lên mạng tán
gẫu, sẽ từ bỏ người thân và đời sống đầy đủ tiện nghi ở nhà. Nếu quyết định trở
về, bạn không được phép chần chừ bởi vì nguy cơ lệch thời gian giữa đảo và
đất liền rất lớn. Những người thân của bạn chắc chắn đã già đi rất nhiều, có
người bạn không còn bao giờ gặp lại được nữa.
Mời bạn hãy đọc câu chuyện kể trong sách để rồi quyết định xem có nên
tìm đến hòn đảo thần tiên này không !

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s