Archive | Tháng Tám 2013

Đỗ Anh Thơ : Chuyên mục cùng học cổ văn online _ Bài 4

Cùng bạn đọc : Chuyên mục này đã được các ban hưởng ứng khoảng 10 lượt/ tuần( bao gồm On-site views
lẫn Syndicated views ). Xin nhắc lại : các bạn hàng ngay khi đọc bài mới cần quay trở lại các bài trước. Cám ơn
Bài 4.-Nguyên văn加 (*) 我 數 年 ﹐ 五 十 ( ** ) 以 學 易 可 以 無 大 過 矣

(*) Sách Sử ký của Tư Mã Thiên viết là 假 _ giá nghĩa là giá như

(**) Nhiều nhà nghiên cứu nghi rằng sách Luận ngữ viét sót chữ tuế 歲
Phiên âm : Gia ngã sổ niên ngũ thập dĩ học dịch, khả dĩ vô đại quá hĩ
Chú giải :
Câu này nằm trong chương Thuật nhi của Luận ngữ

Đỗ Anh Thơ : Chuyên mục cùng học cổ văn online hang tuần – Bài 3.

Nguyên văn:子 夏 曰 ﹕ 賢 賢 易 色 ﹕ 事 父 母 能 竭 其 力 ﹔ 事 君 能 致 其 身 ﹔ 與 朋 友 交 言 而 有 信 ﹐ 雖 曰 未 學 ﹐ 吾 必 謂 之 學 矣﹗Phiên âm :Tử Hạ viết : Hiền hiền dịch sắc : sự phụ mẫu năng kiệt kỳ lực; sự quân năng trí kỳ thân; dữ bằng hữu giao , ngôn nhi hữu tín , tuy viết vị học ,ngô tất vị chi học hĩ .

Chú giải:
子 夏 ( zi xia ) : thày Hạ , họ Bốc ten Thương , hoc tro Khổng tử
﹕ 賢 賢 易 色 ( xian xian yi se) :
Chữ hiền trước là động từ , có nghĩa là tôn trọng, suy tôn
Chữ hiền sau là danh từ , có nghĩa là người tài.
Dịch hoặc dị ): nguyên nghĩa là dễ , , xa rời ., chuyển đổi
Sắc : sác đẹp
Bốn cchữ này xưa nay nhiều người hiểu khác nhau . Chu Hy ( 朱熹, 1130 – 1200, học giả đời Tống ) giải thích :
Hiền nhân chi hiền , nhi dịch kỳ hiếu sắc , chi tâm hiếu thiện hữu thành dã z; nghĩa là : người có lòng hiền lương của người hiền , biết xa rời sắc dục, vương tới đỉnh cao của cái thiện)
Có người hiểu: là mgueoeif biết xem trọng đueoecs hạnh vợ mình hơn là sắc đẹp.
事 ( shi) : phụng sự, thờ
事 君 : phụng sự vua , thờ vua
與 ( yu) : cùng .
Dữ ngã đồn tiêu vạn cổ sầu ( Lý Bạch) : Cùng ta xua tan cái sầu vạn cổ.




言 而 有 信

Dịch :

Thầy Hạ nói : Người biết trọng hiền tài, xem nhẹ sắc đẹp, người có thể gắng hết sức mình phụng dưỡng bố mẹ, hiến cả thân mình cho vua chúa , giao tiếp với bạn bè biết giữ chữ tín, thì người như vậy nếu như anh ta nói chưa được học hành gì thì ta nhất định cũng phải nói là anh đã học rồi vây.

Bình :

Câu nói này của Tử Hạ có thể đã tổng kết đủ các mối quan hệ    Nho giáo của gia đình xã hội , quan niệm về cái đẹp thời thời xưa ,

Ngày nay, ta phê phán triết lý luân thường đạo lý của nho gia , nhưng lại không xây dựng được khung khái niệm mới, nhất là mối quan hệ gia đình ( sự đồng thuận, trách nhiệm cha mẹ, vợ con)  mà thường chỉ nhấn mạnh một chiều  nên rường mối xã hội  mới trở nên hỗn loạn rất khó khắc phục, nhất là khi tỷ lệ dân số già già tăng cao, phúc lợi xã hội chưa đáp ứng được  cho người già ,con trẻ

Sơ đồ tư duy nhớ ngoài  theo tự dạng  ( đề nghị  độc giả tự tra cứu ngữ nghĩa )

1.-    夏  (xia)

嗄 (  sha )

廈 ( sha )

2 .-  賢

顯 ( xian ) ; hiên – rõ rệt

Hoc qua tiếng Anh

CHAP. VII. Tsze-hsia said, ‘If a man withdraws his mind from the love of beauty, and applies it as sincerely to the love of the virtuous; if, in serving his parents, he can exert his utmost strength; if, in serving his prince, he can devote his life; if, in his intercourse with his friends, his words are sincere:– although men say that he has not learned, I will certainly say that he has.’ 【第七章】子夏曰、贤贤易色、事父母、能竭其力、事君、能致其身、 与朋友交、言而有信、虽曰未学、吾必谓之学矣。 【第七章】子夏曰、賢賢易色、事父母、能竭其力、事君、能致其身、 與朋友交、言而有信、雖曰未學、吾必謂之學矣。 zǐ xià yuē xián xián yì sè shì fùmǔ néng jié qí lì shì jūn néng zhì qí shēn yǔ péngyou jiāo yán ér yǒu xìn suī yuē wèi xué wú bì wèi zhī xué yǐ

 

Trần Trọng Chiêm : Cây đa Hoàng Diệu

Đii bộ đến ngã tư Điện Biên Phủ ta không rẽ phố Hoàng Diệu mà bước sang đường đến ngôi nhà 32A Điện Biên Phủ ở ngay ngã tư, bác sẽ thấy cây đa ở sát cổng phía bên trái; đấy chính là cây đa cụ Hoàng Diêu đã thắt cổ tự tử. Ngôi nhà từ khi CM về (1954) là nơi ở của ông Lê Liêm bí thư đảng đoàn Bộ Văn hóa, có khi Cu Liêm Đảng viên thuộc lớp người vô thần nên chắc không thắp hương thường xuyên vái Cụ Hoàng Diệu mỗi khi qua cổng vào nhà nên bị khai trừ khỏi đảng lúc cuối đời, tôi vẫn thường xuyên lui tới đó bởi có ông anh em cọc trèo Doãn Sơn là thư ký ông Liêm cùng ở trong ngôi nhà này. Trước đây tường Hoàng thành TLong phía tây ra đến đường Hùng Vương
– Bia đá chỉ khắc tên 2 con tầu đã để lại vết đạn trên tường thành là Fanfare và Surprise nhưng thực ra là 4 con tầu cơ.(fanfare, surprise, Massue và Carbine) dàn hàng ngang trên bãi Phúc xá sông Hồng bắn vào thành. Còn bác nói sự nhu nhược của vua Tự Đức và sự sơ hở về bố phòng để tầu chiến Pháp từ biển tự do đi lại trên sông là chưa chuẩn, bởi Hiệp Dịnh Philastre (1874) giữa triều đình nhà Nguyễn với Pháp là cho tầu buôn Pháp tự do di lại trên sông buôn bán với Vân Nam TQ. Thương nhân Jean Dupuis có đội thương thuyền hàng vài trăm người gồm cả tây, ta, cờ vàng tấp nập buôn bán dọc sông đến tận Lầu cay.Thêm nữa bác Kinh nên lưu ý là lúc Henri Rivière đánh thành HN thì Pháp đã có 1 khu tô giới Pháp ở Đồn Thủy lên tới mấy trăm người cả ông tây bà đầm rôi ! ( theo Hiệp định 1874). Nói chung sự nhu nhược của Vua Tự Đức mà nhiều công thần, sĩ phu bất tuân, có Hoàng Kễ Viêm phò mã vua Minh Mang đã kết hợp với Cờ đen chống Pháp, Nguyên Ngọc Bích từ triều đình cử ra Bắc đã kết hợp với sĩ phu Bắc hà còn chống Pháp dài dài…mà ta vẫn ca ngọi tinh thần yêu nước của ông. Theo tôi khía cạnh này nên nhìn nhận với tư duy mới. Ông Tự Đức là vua trí thức nên so sánh lực lương giưa ta và đich, ông thiên về nhu là hợp lý, chỉ đáng trách cầu cứu nhà Thanh và phong chức Lưu Vĩnh Phúc thủ lĩnh Cờ đen là bọn giắc gây muôn vàn tội ác với dân chúng Bắc bộ.Ta vẫn mắc bệnh con cháu Vua Hùng đén giờ vẫn tự hào đánh tháng 3 đế quốc to nhưng Thái Lan lại tránh được chiến tranh để bớt đau thương cho dân mà đất nước vẫn phát triển hơn ta nhiều lăm.
.Văn thầy hay nhưng tư duy thầy vẫn đậm chất vua Hùng. Mỗ theo tư duy Phan chu Trinh.”Khai dân trí, Chấn dân khí, Hậu dân sinh”
TTCh

Trương Quang Đệ: : ĐI TÌM NHỮNG NÉT ĐẶC THÙ CỦA VĂN HOÁ QUÊ HƯƠNG

 

Tôi sống hơn hai mươi năm ở Hà Nội, gần hai mươi năm ở Huế và cũng gần hai mươi năm ở Sài Gòn nhưng cảm giác mình là người Quảng Trị không hề rời khỏi tôi dầu trong giây lát. Tôi không phải là kẻ giáo điều cuồng tín, tin răm rắp vào những giáo huấn ngày xưa như “Không nơi nào đẹp bằng quê hương mình” (Quốc văn giáo khoa thư) hay “Ta về ta tắm ao ta….” (Ca dao). Vậy thì do đâu mà tôi khó quên gốc gác của minh? Suy đi nghĩ lại, cuối cùng tôi tìm ra được vài nhân tố hun đúc cho người Quảng Trị có nét văn hoá khá đặc thù.
Trước hết đó là ngôn ngữ hay nói một cách cụ thể là cách phát âm cũng như từ vựng địa phương. Thời tôi học đại học ở Hà Nội, bạn bè tôi người Bắc thường nhận xét : “Tiếng của mày như tiếng trẻ con, chưa hoàn chỉnh”. Tôi mơ hồ thấy mình tư ti vì cách phát âm nặng, nhầm lẫn thanh hỏi ngã vv. Cũng may là thế hệ tôi đã thạo dung từ phổ thong, biết nói cái “đầu” chứ không phải là cái “trôốc”, biết nói cái “sân” chứ không phải là cái “cươi” như các bậc cha chú ngày trước. Về sau khi có dịp làm quen với những nghiên cứu ngôn ngữ học,, tôi phát hiện ra rằng tiếng Quảng Trị chứa rất nhiều từ Việt cổ. Những từ này theo thời gian “trôi” từ Bắc vào Nam, hoặc giả tồn tại từ thời Quảng Trị thuộc Bộ Việt Thường và lưu giữ qua nhiều biến cố lãnh thổ, khi thuộc Việt, khi thuộc Champa. Chẳng hạn từ “trôốc” mà người Quảng Trị còn dung thuờng ngày thì ở ngoài Bắc chỉ có mặt trong cụm từ cố định “ăn trên ngồi trốc”. Tôi nhớ thời nhỏ đi qua vùng An Mỹ thuộc huyện Gio Linh nghe các cụ già gọi con trâu là con “tlâu”, cây tre là cây “tle”. Đối chiếu với tiếng địa phương Nam Định hay Ninh bình thời các giáo sỹ dòng Tên ghi chữ quốc ngữ để giảng đạo thấy Chúa Trời được gọi là Chúa Blời”…Tiếng Việt cổ xuất phát từ đâu, ngữ hệ Môn-Khmer hay Hán Tạng, tôi không có chuyên môn đủ để đoán nhận nhưng theo thiền sư Lê Mạnh Thát, một người gốc Quảng Trị am tường ngôn ngữ và lịch sử thì rất nhiều từ Việt cổ có trong tiếng Tây Tạng hiện đại, chẳng hạn từ “trôốc” được người Tây Tạng gọi là “gtok”. Từ nỗi tư ti mơ hồ ban đầu, tôi chuyển sang trạng thái mơ hồ tự hào về gốc gác ngôn ngữ. Người Quảng Trị hoá ra thuộc nhóm người Việt cổ trên mảnh đất ngàn năm của mình chứ không hẳn là nhóm người theo chân Chúa Nguyễn đi vào đất Hoành sơn! Một điều nữa khá đặc biệt gây nên “tính Quảng Trị” cố hữu của tôi là tôi xa quê hương từ hồi muời hai tuổi nhưng giọng nói thì không hề thay đổi. Năm 1975 tôi trở về quê nhà sau gần ba mươi năm xa cách, bà con chú bác ở quê thích thú thấy tôi vẫn giữ tiếng nói quê nhà, không hề pha tạp chút nào.
Trong những ngày sống trên miền Bắc hay sống ở nước ngoài, tôi thường sinh hoạt trong những tập thể mà mình là người Quảng Trị duy nhất. Điều đó khiến tôi ngẫu nhiên trở thành một “phòng thí nghiệm nhân chủng” đối với bạn bè thuộc những địa phương khác nhau trong nước..Về mặt ẩm thực, bạn bè tôi thuộc loại “ăn quả chin” còn tôi thuộc loại “ăn quả xanh”. Qua tôi họ phát hiện ra rằng ăn quả xanhlà điều khá thú vị. Tôi có cơ hội làm cho bạn bè những món như đu đủ xanh thái nhỏ vắt khô chấm nước mắm, mít xanh nấu canh tôm, Thoạt đầu bạn bè nghĩ rằng tôi là dân một xứ nghèo khổ,, tận dụng “nguyên liệu” đến cùng, ăn dưa hấu là ăn cả ruột, vỏ thậm chí cả da. Tôi lại còn thèm ăn cả thân cây chuối thái nhỏ làm dưa. Nhưng rồi bạn bè thấy được thị hiếu “quả xanh” không hẳn là lí do kinh tế mà là đặc điểm của một nền văn hoá. Ngay đến cả xơ mít tôi cũng làm thành món ăn hấp dẫn. Tôi cho bạn bè biết rằng nối cá của người Quảng Trị không đơn thuần là nồi cá mà còn là sự phối hợp giữa cá và những gia vị, rau thơm đặc biệt. Nối cá thú vị nhất có lẽ là nối cá kho với từng chùm tiêu xanh hay những lớp ớt xanh. Bạn bè ngạc nhiên khi thấy tôi không biết ăn thịt cầy. thịt rắn, thịt chuột, thịt ếch. Họ nghi rằng tôi thuộc loịa phật tử nghiêm túc nhưng tôi biện minh với họ là cả quê tôi như vậy. đâu có riêng mình tôi. Thuở nhỏ gia đình có dắt tôi lên chùa mấy làn, rồi ngày nào cũng đeo các thứ bùa màu vàng nghệ vào cổ, thế thôi. Cho đến nay, tôi vẫn chưa lý giải được một cách khoa học tại sao người Quảng Trị và cả người Huế nữa không biết ăn thịt chó, rắn, ếch vv trong khi thích ăn mít xanh và thân chuối. Tôi nhớ lại năm 1947 khi có lệnh “vườn không nhà trống” và “triệt để giết chó” vì lí do chiến tranh du kích, người quê tôi hết sức lúng túng không biềt xử trí ra sao với chó. Cuối cùng họ tìm được cách dẫn chó ra quẳng xuống sông hay đưa chúng đi bỏ rơi ở những cách đồng xa.
Hiện tượng người gốc Quảng Trị “ghiền” ruốc (mắm tôm) và bánh bột lọc (bánh bột sắn nhân tôm thịt) là điều được thực tế khẳng định. Vào những năm cuối thế kỷ trước, tôi có dịp làm quen với ông Phạm Như Khôi, một trí thức Quảng Trị sống lâu năm ở nước ngoài, từng là viên chức cao cấp của LHQ và UNESCO, nghỉ hưu ở một vùng quê gần Paris, Pháp. Có lần trong câu chuyện tôi khoe với ông rằng tôi biết làm bánh bột lọc. Lập tức mắt ông sáng lên, không nói không rằng dẫn tôi đến siêu thị mua liền mấy gói tapioca và những vật liệu cần thiết để làm bánh. Tôi cố sức làm những chiếc bánh theo truyền thống Quảng Trị và ông Khôi ăn một cách sảng khoái đầy hạnh phúc trước những ánh mắt tò mò ngơ ngác của bà vợ gốc Sài gòn hoa lệ và mấy người con sinh ra và lớn lên trên đất Pháp.
Ngoài giọng nói và xu hướng ẩm thực, bạn bè còn nghiên cứu con ngưuời Quảng Trị của tôi về tính cách, lối sống, cảm xúc. Họ nhất trí với nhau rằng người Quảng Trị that thà, gắn bó với tập thể , yêu thương chúng bạn chu đáo trong công việc và tạo được sự tin cậy của mọi người. Những tính cách đò suy cho cùng đều do lối làm ăn, phương pháp canh tác tạo dựng. Đó là lối làm ăn “chắc nịch”, mạnh mẽ của người làm ruộng hay của dân chài lưới. Ở các nơi khác, tôi thấy cách làm ăn không mạnh mẽ như ở quê nhà. Người ta cày bằng những lưỡi cày nhỏ, thường do bò kéo, tát nước bằng gàu, tuốt lúa bằng hòn đá lăn. Trong lúc đó ở Quảng Trị .trâu ghép thành đôi để cày với những lưỡi cày to bự. Từng đàn trâu dâm lúa trên sân rộng, tát nước bằng nhữn guồng máy đạp chân vv.Cách làm ăn mạnh mẽ đó tụ tập nhiều người, gây tính đoàn kết chúng bạtn, tạo được sinh hoạt văn hoá, tinh thần qua các câu hò hay qua các trò chơi tập thể.
Cách làm ăn tập thể như gặt lúa ngoài đồng, đập thóc phơi nrơm tạo nên những mối quan hệ giũa người lao động địa phương với người làm thuê tứ xứ. Trong tập truyện ngắn “Quê mẹ”, Thanh Tịnh, nhà văn quê Quảng Trị, đã mô tả cảnh làng quê vùng Trị-Thiên với những gặp gỡ và chia ly đầy tính lãng mạn. Tâm hồn người Quảng Trị in đậm những cuộc chia ly não long bắt nguồn từ thời Huyền Trân Công chúa đến thời hiện đại qua những nỗi buồn tiễn biệt người thợ gặt tứ xứ đến những cuộc chia tay trên các ga xép như Quán Ngang, Tiên An, các buổi tiễn đưa người đi làm ăn xa tận phía Nam hay sang tận bên Lào, Thái Lan kiếm sống.
Nỗi buồn chia ly với người thợ gặt tứ xứ:
Rồi mùa tóoc rạ rơm khô
Bạn về xứ bạn biết mô mà tìm….
Nỗi buồn của người đi lấy chồng xa quê:
Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Ngó về quê mẹ ruột đau chin chìu…
Vùng đất Quảng Trị cũng khiến người ta nhớ đến một xứ sở đã lui vào quá khứ gây nên nhớ nhung man mác với “Điêu tàn” của Chế Lan Viên. Như vậy người Quảng Trị không chỉ đơn thuần là những tấm long chất phác mà đeo nặng những mối tình lãng mạn với những nỗi nhớ nhung man mác.
Sự gắn bó với quê nhương đến với trẻ em Quảng Trị, hay rộng hơn là cả vùng Bình Trịi Thiên, từ rất sớm với những điệu ru con nhắc tới những vùng đất gợi cảm:
Ru em em théc cho muồi
Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu
Mua vôi chợ Quán chợ Cầu
Mua cau Nam Phổ mua trầu chợ Dinh
…….
Tôi còn nhớ như in thời học tiểu học, ngày nào bọn trẻ chúng tôi cũng tụng thuộc lòng câu :”Huyện Gio Linh có núi Tiên sơn, phủ Vĩnh Linh có núi Tá Linh….”
Những lời ru con còn thấm đậm đạo lý làm người từ thời cha ông để lại và in đậm mãi mãi trong long khi người ta khôn lớn:
Cầu chi cao bằng cầu danh vọng
Nghĩa chi trọng bằng nghĩa chồng con?
…….
Trong thời hiện đại, những nét lãng mạn của tâm hồn được các nhạc sỹ tên tuổi Trần Hoàn và Nguyễn Hữu Ba đưa vào các ca khúc quen thuộc.
Bạn bè của tôi còn nhận thấy người Quảng Trị không chỉ có tâm hồn lãng mạn mà còn ham hiểu biết, thích tìm tòi nghiên cứu. Trong thời phong kiến, nhiều bậc hiền sỹ của tỉnh tham gia xây dựng quốc sử quán và ghi chép những tài liệu giá trị về lịch sử, về các nghề thủ công mỹ nghệ và phong tục tập quán phương Nam. Con sônh đào xuyên qua toàn tỉnh nối liền kinh đô Thuận Hoá với các vùng phía Bắc đã sử dụng nhiều thầy thợ có hiểu biết chu đáo về tính toán, địa chất , thuỷ lực vv. Trong kháng chiế chống Pháp, anh cán bộ Thái văn Trừng tranh thủ những ngày sống ở chiến khu rừng núi để nghiên cứu cây rừng Việt Nam, sau này trở thành một nhà khoa học hang đầu của đất nước. Thời tôi còn nhỏ, tôi có hai người dượng (chồng của hai người cô) nổi tiếng cả một vùng quê về tài tính toán như thần. Đó là các ông Cửu Hướng và ông Thông Hy. Ông Cửu Hướng chỉ cần liếc qua một mảh đất là nói ngay được nó rộng mấy sào mấy thước, chính xác đến từng mét vuông. Ông Thông Hy thì nhìn qua sơ đồ ngôi nhà là nói ngay muốn xây dựng nhà đó phải cần bao nhiêu gỗ, bao nhiêu gạch, bao nhiêu xi măng, chính xác đến từng tấc gỗ, từng viên gạch và từng ký xi măng.
Những nét đặc thù mà tôi đưa ra trên đây suy cho cùng là sản phẩm của cảm tính, chưa được một nghiên cứu khoa học nghiêm túc nào đề cập. Nhưng theo kinh nghiêm cuộc sống, “nhìn mặt mà bắt hình dong” không phải lúc nào cũng kém giá trị. Ta có thể hy vọng rằng dầu mỗi người nhận định một cách, nhưng tổng hợp lại ta sẽ có một chân dung chính xác của quê hương.

Đỗ Anh Thơ: Chuyên mục cùng học cổ văn online hang tuần- Bài 2.-

Bạn đọc thân mến : Chương trình cùng học cổ văn này đòi hỏi sự kien trì của tác giả lẫn bạn đọc. Mỗi ngày tùy theo sức khỏe và độ bận rộn mà tác giả sẽ post lên mạng một số dòng,có thể chưa hoàn chỉnh và mở rộng dần. Độc giả cũng vậy, cần vào mạng bài đó hàng ngày để luyện nhớ , lương từ vưng tăng dân theo phương pháp mà tác giả hướng dẫn. Hy vọng mưa lâu thấm dần, sau 6 tháng , bạn đọc sẽ có thể tự đọc dịch được một số câu mới mà tác giả post lên.
Đỗ Anh Thơ
dnanhthodo62@gmail.com
ĐT : 0906265335Bài 2.
Nguyên văn:子 貢 問 曰 ﹕ 孔 文 子 何 以 謂 之 文 也 ﹖
子 曰 ﹕ 敏 而 好 學 ﹐ 不 恥 下 問 。 是 以 謂 之 文 也Phiên âm:
Tử Cống vấn viết : Khổng văn tử hà dĩ vị chi văn dã ?
Tử viết : Mẫn nhi hiếu học , bất sỉ hạ vấn, thị dĩ vị chi văn dã.
Chú giải :
Đây là câu thứ 15 trong chương Công dã tràng (公 冶 長) . Các chương trong luận ngự được đặt tên theo chứ đầu câu của câu đó.
Tử Cống (子 貢 zi gong) Thày Cống, tên hiệu của Đoan mộc Tứ , học trò Khổng tử

Vấn( 問 wen ) hỏi
曰 yue : nói là
孔 文 子 : Quan đại
phu nướ Vệ tên là Ngã. Văn tử là thụy hiệu người sau đạt cho
Văn ( 文 wen ): văn, vẻ đẹp bên ngoài
Hà dĩ ( 何 以 he wei) : tại sao
Vị; 謂 wei : gọi , gọi là
Mẫn:敏 (min) : mẫn , mẫn tiệp , thông minh
Bất sỉ hạ vấn (不 恥 下 問 bu chi xja wen) : Không xấu hổ khi hỏi người dưới.

Dịch :
Tử Cống hỏi: Thưa thày, tại sao Khổng Ngã lại được người đời sau đặt thụy hiệu cho là Văn Tử?
Khổng tử trả lời ; Ong ta thông minh, hiếu học, không xấu hổ dấu dốt, biệt hỏi người dưới mình. Vì thế người đời sau mới tôn vinh ông ta vậy.
Bình:
Bất sỉ hạ vấn la một đức tính cao đẹp của người thày , nói rộng ra là của kẻ sĩ. Bởi vì người đời khi đã bước lên tới đỉnh cao học thức hầu hết đều tự cho mình đã biết hết mọi thứ, kinh miệt hết người khác. Thói tự kiêu đó của những quân sư trở thành cái gai trong mắt đối với bọn vua chúa, kẻ có quyền , và kết cục thường chuốc lấy cái chết. Cao Bá Quát từng nói : Thiên hạ có ba bồ hữ, ta giữ hai, anh ta giữ một nửa, nửa còn lại phân phát cho thiên hạ. Kiêu ngạo đến thế là cùng.
Khổng tử tôn vinh đức tính ” bất sỉ hạ vấn ” của Khổng Ngã thực đáng để ta suy ngẫm.

Bạn đọc thân mến : Chương trình cùng học cổ văn này đòi hỏi sự kien trì của tác giả lẫn bạn đọc. Mỗi ngày tùy theo sức khỏe và độ bận rộn mà tác giả sẽ post lên mạng một số dòng,có thể chưa hoàn chỉnh và mở rộng dần. Độc giả cũng vậy, cần vào mạng bài đó hàng ngày để luyện nhớ , lương từ vưng tăng dân theo phương pháp mà tác giả hướng dẫn. Hy vọng mưa lâu thấm dần, sau 6 tháng , bạn đọc sẽ có thể tự đọc dịch được một số câu mới mà tác giả post lên.
Đỗ Anh Thơ
dnanhthodo62@gmail.com
ĐT : 0906265335

Bài 2.
Nguyên văn:

子 貢 問 曰 ﹕ 孔 文 子 何 以 謂 之 文 也 ﹖
子 曰 ﹕ 敏 而 好 學 ﹐ 不 恥 下 問 。 是 以 謂 之 文 也

Phiên âm:
Tử Cống vấn viết : Khổng văn tử hà dĩ vị chi văn dã ?
Tử viết : Mẫn nhi hiếu học , bất sỉ hạ vấn, thị dĩ vị chi văn dã.
Chú giải :
Đây là câu thứ 15 trong chương Công dã tràng (公 冶 長) . Các chương trong luận ngự được đặt tên theo chứ đầu câu của câu đó.
Tử Cống (子 貢 zi gong) Thày Cống, tên hiệu của Đoan mộc Tứ , học trò Khổng tử

Vấn( 問 wen ) hỏi
曰 yue : nói là
孔 文 子 : Quan đại
phu nướ Vệ tên là Ngã. Văn tử là thụy hiệu người đời sau đạt cho
Văn ( 文 wen ): văn, vẻ đẹp bên ngoài
Hà dĩ ( 何 以 he wei) : tại sao
Vị; 謂 wei : gọi , gọi là
Mẫn:敏 (min) : mẫn , mẫn tiệp , thông minh
Bất sỉ hạ vấn (不 恥 下 問 bu chi xja wen) : Không xấu hổ khi hỏi người dưới.

Dịch :
Tử Cống hỏi: Thưa thày, tại sao Khổng Ngã lại được người đời sau đặt thụy hiệu cho là Văn Tử?
Khổng tử trả lời ; Ong ta thông minh, hiếu học, không xấu hổ dấu dốt, biệt hỏi người dưới mình. Vì thế người đời sau mới tôn vinh ông ta vậy.
Bình:
Bất sỉ hạ vấn la một đức tính cao đẹp của người thày , nói rộng ra là của kẻ sĩ. Bởi vì người đời khi đã bước lên tới đỉnh cao học thức hầu hết đều tự cho mình đã biết hết mọi thứ, kinh miệt hết người khác. Thói tự kiêu đó của những quân sư trở thành cái gai trong mắt đối với bọn vua chúa, kẻ có quyền , và kết cục thường chuốc lấy cái chết. Cao Bá Quát từng nói : Thiên hạ có ba bồ chữ, ta giữ hai, anh ta giữ một nửa, nửa còn lại phân phát cho thiên hạ. Kiêu ngạo đến thế là cùng.
Khổng tử tôn vinh đức tính ” bất sỉ hạ vấn ” của Khổng Ngã thực đáng để ta suy ngẫm.

Sơ đồ tư duy nhớ ngoài

Từ một chữ có âm Hán Việt là vị =là dạ dày

Ghép với bộ ngôn ta có 謂 ( wei) – gọi là
Ghép với bộ thủy ta có 渭 (wei) : sông Vị
Ghép bộ khẩu ta có 喟 ( kui) : bùi ngùi
Ghép bộ trùng hay bộ cẩu
蝟 – con nhím
Học qua tiếng Anh:
CHAP. XIV. Tsze-kung asked, saying, ‘On what ground did Kung-wan get that title of Wan?’ The Master said, ‘He was of an active nature and yet fond of learning, and he was not ashamed to ask and learn of his inferiors!– On these grounds he has been styled Wan.’ 【十四章】子贡问曰、孔文子、何以谓之文也。子曰、敏而好学、不耻下问、 是以谓之文也。 【十四章】子貢問曰、孔文子、何以謂之文也。子曰、敏而好學、不恥下問、 是以謂之文也。 zǐ gòng wèn yuē kǒng wén zǐ hé yǐ wèi zhī wén yě zǐ yuē mǐn ér hàoxué bù chǐ xià wèn shì yǐ wèi zhī wén yě

Đàm Cao(ct) :Van hoa Cha Islam

 

Chuyện lạ ở miền Tây: Đàn ông mặc váy, đàn bà làm chủ
Các chàng trai chưa vợ người Chà thường mặc váy nhiều màu sặc sỡ, với nhiều hình nổi bật nhằm… thu hút phụ nữ.
Ở phía Tây của tỉnh An Giang, giáp đất Campuchia, nhắc đến người Chà, cư dân nơi đây lại đồn thổi rất nhiều chuyện huyền bí. Người ta đồn rằng, người Chà có nhiều bùa ngải, phép thuật, luyện thiên linh cái để giết người… Thôi thì có đến cả chục câu chuyện kinh hãi.
Thế nên, mặc dù người Kinh sống ngay cạnh người Chà, nhưng ít giao lưu. Khi tôi bày tỏ ý định vào “vương quốc người Chà” bên bờ sông Tiền, ông Hai Tưng, thầy thuốc kiêm thầy bùa dưới chân Núi Sam, thuộc đất Châu Đốc cứ khuyên tôi không nên vào, vì một là họ không tiếp, hai là họ thả bùa mất mạng!
Bỏ qua những lời đe dọa mang đầy sự huyễn hoặc, tôi qua phà Châu Giang đến xã Đa Phước thuộc huyện An Phú, nằm ngay bên sông Tiền và sông Bình Di, vùng đất với những ngôi nhà sàn đơn sơ tránh lũ và những nhà thờ uy nghi chả khác nào vùng Tây Á của người đạo Hồi.
*
Đàn ông Chà ở Châu Giang mặc váy để học kinh.
Chạy xe trên con lộ nhỏ dọc sông Bình Di dẫn ra cửa khẩu Long Bình, tôi thực sự lạc vào một vương quốc khác lạ. Trên con đường lộng gió, những người đàn ông đội mũ vải, mặc váy hoa phấp phới với đủ màu sắc đi lại thong dong, đạp xe thong thả trên đường.
Những cô gái vấn khăn quanh đầu, che kín cổ. Các cô gái ở xứ đạo Hồi che kín mặt, chỉ hở đôi mắt, nhưng có vẻ đạo Hồi ở xứ này không khắc nghiệt lắm với phụ nữ.
Tôi tạt vào một nhà thờ, gặp mấy người đàn ông mặc váy ngồi quây quần dưới nền nhà học kinh. Thấy khách lạ, cả nhóm người nhìn tôi ngơ ngác. Tôi giới thiệu là nhà báo, nhóm người này cùng đứng dậy bắt tay, niềm nở, khác hẳn với lời “dọa” của ông thầy bùa, cũng như người dân vùng Châu Đốc.
Tuy nhiên, khi thu thập thông tin, họ không trả lời, mà chỉ tôi đến gặp ông Cả Musa. Với người Chà, ông Cả Musa giống như trưởng bản, già bản của các dân tộc phía Bắc.
*
Ông Cả của người Chà kể chuyện về phong tục người Chà.
Ông Cả Musa là kho tri thức của người Chà, ông nắm rõ lịch sử, văn hóa, tập tục của dân tộc mình. Ông là người cai quản phần tâm linh, được người dân coi trọng, và lời nói của ông được mọi người lắng nghe.
Hỏi chuyện bùa ngải, ông gạt phắt đi. Ông Cả Musa khẳng định rằng, người Chà ở đây không hiểu bùa ngải là thứ gì. Đó là thứ người dân trong vùng gán oan cho người Chà.
Theo ông Cả Musa, người Chà ở vùng đất này thường được gọi là người Chà Châu Giang, vì gắn với vùng đất Châu Giang. Ngoài ra, còn được gọi là Tây Chăm, để phân biệt với người Chăm ở nơi khác.
Người Chà có hơn 20.000 cư dân (trong tổng số 400 ngàn người Chăm), có mặt ở vùng Châu Giang từ đầu thế kỷ 19. Vị tướng Thoại Ngọc Hầu khi thực hiện công trình kênh Vĩnh Tế, đã huy động một nhóm người Chăm vào vùng đất này.
Đào xong kênh Vĩnh Tế, tướng Thoại Ngọc Hầu đã chia đất vùng Châu Giang cho người Chăm làm sinh kế.
*
Sau này, một nhóm người Chăm gốc Malaysia, gọi là Chăm Chà Và đến sinh sống. Đó cũng là lý do người dân quanh vùng gọi người Chăm nơi đây là người Chà Và, rồi sau gọi tắt là người Chà.
Người Chà ở vùng đất nhỏ này theo Hồi giáo chính thống, nên còn được gọi là Chăm Islam, hay Chà Islam, với phong tục, tập quán tương đối khác biệt với người Chăm ở những vùng khác trong cả nước.
Theo ông Cả Musa, đàn ông người Chà vùng Châu Giang mặc váy từ bé cho đến khi chết. Chiếc váy của người Chà có nhiều màu sắc, hoa văn khác nhau, từ màu sáng, sặc sỡ, cho đến tối màu. Nhìn vào chiếc váy đó, người Chà dễ dàng phân biệt được địa vị của họ trong cộng đồng, tuổi tác, có gia đình hay chưa.
Các chàng trai chưa vợ người Chà thường mặc váy nhiều màu sặc sỡ, với nhiều hình nổi bật nhằm… thu hút phụ nữ.
Những chiếc váy được cắt khá đơn giản. Đó là một tấm vải lớn, được quấn quanh hông 1,5 vòng, xếp chéo. Váy mỏng hay dày cũng không quan trọng, bởi bên trong họ mặc thêm một chiếc quần soóc, để đảm bảo kín đáo tuyệt đối.
Với người Kinh, việc mặc váy thể hiện nữ tính, còn đàn ông Chà mặc váy thì thể hiện nam tính. Điều đặc biệt nữa là chiếc váy họ mặc dài chấm gót chân, chứ không… hở hang và cũn cỡn như những cô gái người Kinh vẫn phóng xe máy vun vút, tốc cả váy trên con lộ dẫn qua vùng Châu Giang.
*
Tôi hỏi ông Cả Musa rằng, việc mặc váy như thế có khó dễ gì cho việc lao động, đi lại không, thì ông lắc đầu bảo không ảnh hưởng gì cả. Người Chà trong cộng đồng vẫn mặc váy đi làm, lái xe, giao lưu với cộng đồng khác quanh vùng.
Điều khá thú vị ở người Chà vùng này, ấy là người phụ nữ đóng vai trò chủ nhân trong gia đình. Chế độ mẫu hệ và tín ngưỡng nữ thần vẫn tồn tại đến ngày nay.
Văn hóa người Chà cho rằng, đàn bà lo việc trong gia đình, giữ gìn gia phả, và đó là những việc quan trọng trong gia đình. Đàn bà lo việc dệt vải. Những chiếc váy hoa mà đàn ông Chà mặc là tác phẩm của người phụ nữ Chà chăm chỉ, khéo tay.
Điều khá lạ nữa, đó là đàn ông lo việc cơm nước, nấu ăn. Đàn ông học nấu ăn từ một ông thầy cả trong cộng đồng. Món ăn của họ là thịt bò. Điều lạ nữa là họ tự nuôi bò, tự giết bò để ăn. Họ không ăn thịt bất cứ con vật nào khác và không mua thịt bò từ cộng đồng khác.
*
Mang chế độ mẫu hệ, nên những đứa trẻ sinh ra mang họ mẹ. Việc cưới xin, lấy chồng là do nhà gái đứng ra lo lắng. Đàn ông ở rể nhà vợ cho đến chết. Khi đàn ông chết đi, nhà gái có trách nhiệm thờ cúng. Khi hết tang theo phong tục, thì nhà gái sẽ trả cốt cho dòng họ nhà trai tiếp tục thờ.
Phụ nữ Chà được thừa kế tài sản từ gia đình, dòng họ và người con gái út được có quyền lực cao nhất gia đình khi được phân nhiệm vụ săn sóc nhà thờ để thờ cúng tổ tiên và nuôi dưỡng cha mẹ già.
Phong tục cưới xin của người Chà ở vùng đất này cũng có nhiều chuyện lạ. Khi chú rể được rước về nhà vợ, thì hai người phải thực hiện một thủ tục khá buồn cười, đó là thi mò tiền.
Ông Cả, người đứng đầu trong vùng sẽ là trọng tài của cuộc thi. Chiếc xô đựng đầy nước được đặt ngay cửa phòng hoa chúc. Ông Cả sẽ bỏ tiền xu vào xô nước. Khi ông Cả ra hiệu, cả hai cùng lao đến dùng 2 tay vớt tiền trong xô.
*
Trong văn hóa người Chà, phụ nữ làm chủ gia đình
Nếu chú rể vớt được nhiều tiền hơn, thì sẽ được chia sẻ một số quyền lực trong gia đình, còn vớt được ít tiền hơn, thì hoàn toàn chịu sự chỉ đạo của vợ. Xong thủ tục này, họ vào phòng hoa chúc và chính thức thành vợ chồng.
Sống giữa vùng sông nước Cửu Long, nơi ăn nhậu là thói quen thường ngày của đàn ông, nhưng người Chà không bị ảnh hưởng. Đàn ông Chà ở đây không bao giờ uống rượu bia, hút thuốc, cờ bạc. Những thú vui, tệ nạn đó được quy định rất ngặt nghèo trong giáo luật và không bao giờ có chuyện họ vi phạm.
Với những phong tục, lối sống hoàn toàn riêng biệt, người Chà vùng Châu Giang, đã tạo ra những nét văn hóa vô vùng độc đáo, có phần bí ẩn.
(Theo VTC News)

Trần Văn Kinh : Trong ấy…Hoàng Thành (Tùy bút)

1.

Đã lâu lắm rồi, nhân có bạn tôi ở trong Nam ra, chúng tôi mới có dịp đi dạo quanh một vài đường phố Hà Nội.
Dạo phố là một thú vui từ hồi còn trẻ của nhiều người.
Tôi còn nhờ vào những năm đầu thạp kỷ 80 của thế kỷ trước, chiều nào cũng có hai ông già tóc bạc dạo quanh Hồ Gươm, đi chậm rãi và nói chuyện dường như cũng chậm rãi, hòa vào dòng người đông đúc, từ phía Hàng Khay, rồi Đinh Tiên Hoàng, qua phía đền Ngọc Sơn, qua Thủy Tạ, về Kem Bốn Mùa, rồi lại về Hàng Khay… Hai ông già đó là cố GS Tôn Thất Tùng và cố GS Trần Đại Nghĩa.
Tôi hồi ấy có nhà và cơ quan làm việc đều gần Bờ Hồ, dĩ nhiên là cũng tranh thủ đi bộ hàng ngày, và vì thế mà chiều chiều lại được chiêm ngưỡng hai nhà bác học nhiều công lao ấy.
Vậy mà bây giờ, với những người già như chúng tôi, nhất là những người đã sống ở Hà Nội từ những năm 50,60 của thế kỷ trước, có việc đi ra đường Hà Nội rất ngại, dù là đi bằng tắc-xi. Sự yên ả, khoan thai, ứng xử văn minh, thanh lịch của đất Hà thành đã đi đâu mất, để lại sự nuối tiếc trong lòng nhiều người. Bây giờ thì trái lại: ồn ào, chen lấn, tranh chấp, lỗ mãng… diễn ra khắp nơi trên các phố phường.
Nhưng hôm nay thì có vẻ hơi khác. Một ngày chủ nhật trong chuỗi những ngày nghỉ lễ đã cho phép chúng tôi đi chậm rãi, thỉnh thoảng dừng xe, mở cửa bước ra ngoài và để thả hồn mình trong không gian Hà Nội…
Đó là lúc chúng tôi đi từ đường Hoàng Hoa Thám, băng qua đường Hùng Vương, sang đường Phan Đình Phùng, đường một chiều, chạy phía ngoài Hoàng Thành, từ tây sang đông.
Khi qua cổng thành Cửa Bắc, mắt chúng tôi dừng lại trên những vết lõm sâu của tường thành. Một câu hỏi từ đâu bật ra: “ Này! Thằng Pháp nó đặt đại bác ở đâu để bắn vào cổng thành của minh nhỉ?” – Trên tàu ! – Nhưng tàu đậu ở đâu? – Bờ sông Hồng, khoảng chỗ cầu Long Biên bây giờ ấy — Chết thật ! Thế thì từ ngoài biển vào đến đây, không có ai chặn nó lại à?
Làm sao chúng tôi hiểu hết được những chuyện ngày xưa, nếu tính từ lúc Hà thành thất thủ lần thứ nhất đến nay thì đã tròn 140 năm, nhưng trước câu hỏi bất ngờ ấy, cả hai chúng tôi cùng ngẩn người ra. Mất cảnh giác hay là đã đầu hàng giặc từ trước khi nó bắn vào đây rồi?
Mà ai đã đặt tên cho con đường này là đường Phan Đình Phùng nhỉ? Tài thật ! Nhớ lại vào năm 1883, Hà thành thất thủ lần thứ hai. Năm 1884, triều đình nhà Nguyễn ký Hòa ước Patenôtre nhượng cho Pháp quyền bảo hộ nốt phần đất cuối cùng của nước Việt Nam là Bắc Kỳ. Năm 1885 , cụ Phan Đình Phùng lãnh đạo phong trào Cần Vương chống Pháp, khởi nghĩa ở Vụ Quang (Hương Sơn, Hà Tĩnh). Cụ vốn là quan ngự sử ở triều đình Huế, vì vạch tội những bọn chuyên quyền, ép buộc vua, không được, nên cụ cáo quan về hưu. Khi vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương thì cụ phất cờ khởi nghĩa, tập hợp những người yêu nước, đặc biệt là văn thân các tỉnh phía bắc Trung bộ và đồng bằng Bắc bộ để chống lại thực dân Pháp. Vậy thì Cụ đúng là một ngọn cờ chống Pháp đầu tiên ở Bắc kỳ và Trung Kỳ sau Hòa ước Patennôtre. Cụ và Phong trào Cần Vương sau 10 năm chiến đấu gian khổ và anh dũng đã bị thực dân Pháp và tay sai đàn áp dã man. Xác của cụ và các tùy tướng nổi tiếng khác bị bọn thực dân Pháp đốt thành tro và bắn xuống La (Đức Thọ, Hà Tĩnh). Mãi 50 năm sau đó, đến Cách mạng tháng 8 năm 1945, Hà Nội mới lại trở về tay nhân dân ta, nhưng không phải vì thế mà nói rằng thắng lợi không bắt nguồn từ những công lao to lớn của những bậc tiền bối như nhà chí sĩ yêu nước Phan Đình Phùng…

2.
Chúng tôi lại tiếp tục đi. Và trước mắt đã hiện ra con đường mang tên danh nhân Nguyễn Tri Phương, chạy theo hướng bắc- nam. Đây là ranh giới phía đông của khu Hoàng Thành bây giờ. Ngày xưa thì Hoàng Thành rộng hơn. Chứng cứ là Cửa Đông vẫn nằm trên phố Lý Nam Đế, chạy song song với đường Nguyễn Tri Phương này nhưng cách xa theo chiều ngang khoảng trên100 mét nữa. Cửa Đông, cũng như Cửa Nam, giờ đã lùi ra ngoài chu vi Hoàng thành rồi. Chỉ còn Cửa Bắc là vẫn như xưa thôi.
Đi trên đường Nguyễn Tri Phương, lòng bồi hồi tưởng nhớ và hình dung lại những ngày Hà thành thất thủ lần thứ nhất (1873), cách đây đã 140 năm. Do mơ hồ về âm mưu của giặc, do thiếu cảnh giác và bị một số quan lại bọn chuyên quyền lấn át, triều đình Huế đáp trả các hành động của thực dân Pháp một cách yếu ớt.. Với tư cách là Tổng đốc Hà thành, Nguyễn Tri Phương đã hết lòng tổ chức và đốc thúc quân sĩ chiến đấu bảo vệ Hà Nội, nhưng sức không cân xứng, không có viện binh, không có các biện pháp hỗ trợ khác của triều đình, ông đành phải chịu thua ! Con trai ông, phò mã Nguyễn Lãm hy sinh ngay trên mặt thành, dưới làn đạn giặc. Ông bị giặc bắt và quyết định quyên sinh để giữ lòng trung với nước với dân! 73 nám sau, mùa Đông năm 1946, máu của những chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô, của tự vệ thành Hoàng Diệu, rồi mùa đông năm 1972 máu của đồng bào và chiến sĩ phố Khâm Thiên lại đổ vì sự sống còn muôn đời của Hà Nội và của cả đất nước..
Ôi ! “ Mỗi tấc đất Hà Nội còn thắm máu hồng tươi…”
(Nguyễn Đình Thi- nhạc phẩm Người Hà Nội).
Nguyễn Tri Phương không phải người sinh ra và lớn lên ở Hà Nội. Quê ông ở Thừa Thiên. Nhà ông đã làm quan mấy đời và bản thân ông làm quan đã trải mấy đời vua, nhưng đều thanh liêm, trung trực, trong sáng, nếp nhà thanh bạch. Ông đã bảo vệ Hà Nội đến phút cuối cùng, đã dâng hiến cho đất nước cả dòng máu của cả hai cha con. Những tấm gương như thế sẽ luôn luôn soi rọi cho các thế hệ người Hà Nội sau này.

3.
Đến cuối đường Nguyễn Tri Phương, chúng tôi rẽ phải theo đường Điện Biên Phủ. Phố Cửa Nam nằm ở phía sau lưng chúng tôi..
Đường Điện Biên Phủ ngày xưa là đường Cột Cờ
(Nhà tôi 24 cột cờ/ Ai yêu thì đến, hững hờ thì qua- Xuân Diệu).
Bao bọc xung quanh Hoàng thành có 3 con đường mang tên các vĩ nhân đã cống hiến đời mình cho đất nước ở cuối thế kỷ 19. Chỉ có một con đường mang tên một địa danh, cũng là một mốc son trong cuộc chiến đấu chống ngoại xâm của dân tộc ta- Điện Biên Phủ năm 1954. Nó mang tên một địa danh, nhưng nếu nhắc đến địa danh đó thì không thể nào không nhắc đến một vĩ nhân khác : Võ Nguyên Giáp. Rõ ràng rằng chiến thắng Điện Biên Phủ là của toàn dân, là công lao và xương máu của bao nhiêu chiến sĩ, anh hùng, nhưng ông, đại tướng Võ Nguyên Giáp là vị Tổng tư lệnh của mặt trận ấy ! Và điều sẽ được nhắc đến nhiều hơn nữa là ở các quyết định tài tình của ông về cách đánh thắng kẻ thù, với tư cách là “Tướng quân tại ngoại” (lời Hồ Chủ tịch). Giả sử ngày ấy không có những quyết định sáng suốt của ông (kéo pháo ra, bố trí lại trận địa, thay đổi cách đánh để bảo đảm chắc thắng và ít tổn thất nhất), không hiểu chuyện gì đã xảy ra? Tâm huyết và tài trí của một vị tướng luôn luôn là vì nhân dân, vì thắng lợi cuối cùng của dân tộc. “Dĩ công vi thượng”. Vì thế, không thể làm theo cách của người khác được.

4.
Đến Ngã tư Điện Biên Phủ- Hoàng Diệu, chúng tôi rẽ phải. Đây là con đường phía tây khu Hoàng thành bây giờ. Đã qua 3 cửa Bắc, Đông, Nam, nhưng cửa Tây thì không biết ở đâu. Chắc cũng không phải ở trên đường Hoàng Diệu này. Phía bên kia đường cũng đã khai quật nhiều di tích cơ mà. Nhưng tển tuổi của vị Tổng đốc quê tận Quảng Nam đã hy sinh vì Hoàng thành này đủ làm lắng sâu bao tình cảm và suy tư của người Hà Nội.
Đúng 10 năm sau cuộc thất thủ lần thứ nhất với sự hy sinh của hai cha con quan Tổng đốc Nguyễn Tri Phương, đến lượt quân Pháp hạ thành Hà Nội lần thứ hai (1883), và đặt ách đô hộ lên toàn cõi Việt Nam (1884). Triều đình vẫn mơ hồ, vẫn chia bè chia phái, vẫn muốn cầu viện sự giúp đỡ của Nhà Thanh (!), không có một sự chuẩn bị thiết thực nào, vì thế mà thất bại là khó tránh khỏi.
Cụ Hoàng Diệu dù đã dốc sức bố trí phòng bị bốn mặt thành, nhưng vì có những người dưới quyền hùa theo phái “chủ hòa” của triều đình, nên ông ở vào tình thế “sức yếu thế cô”, không chọi nổi với lực lượng của quân Pháp lúc ấy. Không thể giương mắt nhìn thấy chúng tràn vào chiếm thành, cụ đã tự treo cổ lên cây, kết liễu đời mình ! Người Hà Nội không trách cụ về việc Hà thành thất thủ lần ấy được. Cũng không có một sử gia nào viết về những ngày tháng ấy buông lời bình về cụ. Họ trách người khác, trách triều đình! Trong lời điếu trước linh cữu của cụ, sĩ phu đất bắc nghẹn ngào thương cảm: “Người người như tiên sinh, Hà thành đâu nỗi thế! Người người khác tiên sinh, Hà thành đành thế nhỉ !”

5.
Qua ngã tư Hoàng Diệu- Phan Đình Phùng, chúng tôi đi theo đường Nguyễn Biểu, ra đường Trấn Vũ, rồi ra Hồ Tây, lòng miên man nghĩ về những đổi thay của Hà Nội xưa và nay.
Chúng tôi đã vào xem Di tích Hoàng Thành nhiều lần , đã được nhìn thấy những chứng tích của nền văn minh của ông cha chúng ta nối tiếp nhau qua bao triều đại. Nhất định chúng tôi sẽ còn vào nữa để bày tỏ lòng ngưỡng mộ và biết ơn tiền nhân !
Thật may mắn cho Hà Nội vì từ xưa đã có Tứ Trấn. Tứ Trấn được giải thích là có 4 vị trí tâm linh ở Đông Tây Nam Bắc bảo vệ Hà Nội: Đền Bạch Mã (đông), Đền Voi Phục (tây), Đền ( chùa?) Kim Liên (nam) và Đền (chùa?) Trấn Vũ (bắc). .
Nhưng đó là tâm linh.
Hà Nội từ xưa cũng đã có Tứ Trấn bằng lực lượng vật chất có tổ chức, hiện thực và hùng vĩ: Trấn Sơn Đông (vùng Hải dương, Kiến An cũ…), Trấn Sơn Tây (tỉnh Sơn Tây, Hà Đông cũ và một phần Hòa Bình ), Trấn Sơn Nam ( Hà Nam, Nam Định…), và Trấn Kinh Bắc (Bắc Ninh, Bắc Giang…). Đó là Tứ Trấn bảo vệ Hà Nội, trực tiếp chia sẻ nóng lạnh với Hà Nội, cung cấp nhân tài cho Hà Nội. Phía ngoài Tứ Trấn là các Châu, Lộ ( Châu Ái, Châu Hoan…Nghĩa Lộ, Mai Châu…), và các tỉnh, nối liên hoàn thành bức trường thành của đất nước.
Nghĩ đến đây, tôi lại liên tưởng với một niềm tin sâu xa đến những con đường mang tên danh nhân và địa danh mà chúng tôi vừa đi qua. Trong ấy…Hoàng Thành !
TVK.
Tháng 8 năm 2013.