Archive | Tháng Tám 2013

Đỗ Anh Thơ : Chuyên mục cùng học cổ văn online _ Bài 4

Cùng bạn đọc : Chuyên mục này đã được các ban hưởng ứng khoảng 10 lượt/ tuần( bao gồm On-site views
lẫn Syndicated views ). Xin nhắc lại : các bạn hàng ngay khi đọc bài mới cần quay trở lại các bài trước. Cám ơn
Bài 4.-Nguyên văn加 (*) 我 數 年 ﹐ 五 十 ( ** ) 以 學 易 可 以 無 大 過 矣

(*) Sách Sử ký của Tư Mã Thiên viết là 假 _ giá nghĩa là giá như

(**) Nhiều nhà nghiên cứu nghi rằng sách Luận ngữ viét sót chữ tuế 歲
Phiên âm : Gia ngã sổ niên ngũ thập dĩ học dịch, khả dĩ vô đại quá hĩ
Chú giải :
Câu này nằm trong chương Thuật nhi của Luận ngữ

Advertisements

Đỗ Anh Thơ : Chuyên mục cùng học cổ văn online hang tuần – Bài 3.

Nguyên văn:子 夏 曰 ﹕ 賢 賢 易 色 ﹕ 事 父 母 能 竭 其 力 ﹔ 事 君 能 致 其 身 ﹔ 與 朋 友 交 言 而 有 信 ﹐ 雖 曰 未 學 ﹐ 吾 必 謂 之 學 矣﹗Phiên âm :Tử Hạ viết : Hiền hiền dịch sắc : sự phụ mẫu năng kiệt kỳ lực; sự quân năng trí kỳ thân; dữ bằng hữu giao , ngôn nhi hữu tín , tuy viết vị học ,ngô tất vị chi học hĩ .

Chú giải:
子 夏 ( zi xia ) : thày Hạ , họ Bốc ten Thương , hoc tro Khổng tử
﹕ 賢 賢 易 色 ( xian xian yi se) :
Chữ hiền trước là động từ , có nghĩa là tôn trọng, suy tôn
Chữ hiền sau là danh từ , có nghĩa là người tài.
Dịch hoặc dị ): nguyên nghĩa là dễ , , xa rời ., chuyển đổi
Sắc : sác đẹp
Bốn cchữ này xưa nay nhiều người hiểu khác nhau . Chu Hy ( 朱熹, 1130 – 1200, học giả đời Tống ) giải thích :
Hiền nhân chi hiền , nhi dịch kỳ hiếu sắc , chi tâm hiếu thiện hữu thành dã z; nghĩa là : người có lòng hiền lương của người hiền , biết xa rời sắc dục, vương tới đỉnh cao của cái thiện)
Có người hiểu: là mgueoeif biết xem trọng đueoecs hạnh vợ mình hơn là sắc đẹp.
事 ( shi) : phụng sự, thờ
事 君 : phụng sự vua , thờ vua
與 ( yu) : cùng .
Dữ ngã đồn tiêu vạn cổ sầu ( Lý Bạch) : Cùng ta xua tan cái sầu vạn cổ.




言 而 有 信

Dịch :

Thầy Hạ nói : Người biết trọng hiền tài, xem nhẹ sắc đẹp, người có thể gắng hết sức mình phụng dưỡng bố mẹ, hiến cả thân mình cho vua chúa , giao tiếp với bạn bè biết giữ chữ tín, thì người như vậy nếu như anh ta nói chưa được học hành gì thì ta nhất định cũng phải nói là anh đã học rồi vây.

Bình :

Câu nói này của Tử Hạ có thể đã tổng kết đủ các mối quan hệ    Nho giáo của gia đình xã hội , quan niệm về cái đẹp thời thời xưa ,

Ngày nay, ta phê phán triết lý luân thường đạo lý của nho gia , nhưng lại không xây dựng được khung khái niệm mới, nhất là mối quan hệ gia đình ( sự đồng thuận, trách nhiệm cha mẹ, vợ con)  mà thường chỉ nhấn mạnh một chiều  nên rường mối xã hội  mới trở nên hỗn loạn rất khó khắc phục, nhất là khi tỷ lệ dân số già già tăng cao, phúc lợi xã hội chưa đáp ứng được  cho người già ,con trẻ

Sơ đồ tư duy nhớ ngoài  theo tự dạng  ( đề nghị  độc giả tự tra cứu ngữ nghĩa )

1.-    夏  (xia)

嗄 (  sha )

廈 ( sha )

2 .-  賢

顯 ( xian ) ; hiên – rõ rệt

Hoc qua tiếng Anh

CHAP. VII. Tsze-hsia said, ‘If a man withdraws his mind from the love of beauty, and applies it as sincerely to the love of the virtuous; if, in serving his parents, he can exert his utmost strength; if, in serving his prince, he can devote his life; if, in his intercourse with his friends, his words are sincere:– although men say that he has not learned, I will certainly say that he has.’ 【第七章】子夏曰、贤贤易色、事父母、能竭其力、事君、能致其身、 与朋友交、言而有信、虽曰未学、吾必谓之学矣。 【第七章】子夏曰、賢賢易色、事父母、能竭其力、事君、能致其身、 與朋友交、言而有信、雖曰未學、吾必謂之學矣。 zǐ xià yuē xián xián yì sè shì fùmǔ néng jié qí lì shì jūn néng zhì qí shēn yǔ péngyou jiāo yán ér yǒu xìn suī yuē wèi xué wú bì wèi zhī xué yǐ

 

Trần Trọng Chiêm : Cây đa Hoàng Diệu

Đii bộ đến ngã tư Điện Biên Phủ ta không rẽ phố Hoàng Diệu mà bước sang đường đến ngôi nhà 32A Điện Biên Phủ ở ngay ngã tư, bác sẽ thấy cây đa ở sát cổng phía bên trái; đấy chính là cây đa cụ Hoàng Diêu đã thắt cổ tự tử. Ngôi nhà từ khi CM về (1954) là nơi ở của ông Lê Liêm bí thư đảng đoàn Bộ Văn hóa, có khi Cu Liêm Đảng viên thuộc lớp người vô thần nên chắc không thắp hương thường xuyên vái Cụ Hoàng Diệu mỗi khi qua cổng vào nhà nên bị khai trừ khỏi đảng lúc cuối đời, tôi vẫn thường xuyên lui tới đó bởi có ông anh em cọc trèo Doãn Sơn là thư ký ông Liêm cùng ở trong ngôi nhà này. Trước đây tường Hoàng thành TLong phía tây ra đến đường Hùng Vương
– Bia đá chỉ khắc tên 2 con tầu đã để lại vết đạn trên tường thành là Fanfare và Surprise nhưng thực ra là 4 con tầu cơ.(fanfare, surprise, Massue và Carbine) dàn hàng ngang trên bãi Phúc xá sông Hồng bắn vào thành. Còn bác nói sự nhu nhược của vua Tự Đức và sự sơ hở về bố phòng để tầu chiến Pháp từ biển tự do đi lại trên sông là chưa chuẩn, bởi Hiệp Dịnh Philastre (1874) giữa triều đình nhà Nguyễn với Pháp là cho tầu buôn Pháp tự do di lại trên sông buôn bán với Vân Nam TQ. Thương nhân Jean Dupuis có đội thương thuyền hàng vài trăm người gồm cả tây, ta, cờ vàng tấp nập buôn bán dọc sông đến tận Lầu cay.Thêm nữa bác Kinh nên lưu ý là lúc Henri Rivière đánh thành HN thì Pháp đã có 1 khu tô giới Pháp ở Đồn Thủy lên tới mấy trăm người cả ông tây bà đầm rôi ! ( theo Hiệp định 1874). Nói chung sự nhu nhược của Vua Tự Đức mà nhiều công thần, sĩ phu bất tuân, có Hoàng Kễ Viêm phò mã vua Minh Mang đã kết hợp với Cờ đen chống Pháp, Nguyên Ngọc Bích từ triều đình cử ra Bắc đã kết hợp với sĩ phu Bắc hà còn chống Pháp dài dài…mà ta vẫn ca ngọi tinh thần yêu nước của ông. Theo tôi khía cạnh này nên nhìn nhận với tư duy mới. Ông Tự Đức là vua trí thức nên so sánh lực lương giưa ta và đich, ông thiên về nhu là hợp lý, chỉ đáng trách cầu cứu nhà Thanh và phong chức Lưu Vĩnh Phúc thủ lĩnh Cờ đen là bọn giắc gây muôn vàn tội ác với dân chúng Bắc bộ.Ta vẫn mắc bệnh con cháu Vua Hùng đén giờ vẫn tự hào đánh tháng 3 đế quốc to nhưng Thái Lan lại tránh được chiến tranh để bớt đau thương cho dân mà đất nước vẫn phát triển hơn ta nhiều lăm.
.Văn thầy hay nhưng tư duy thầy vẫn đậm chất vua Hùng. Mỗ theo tư duy Phan chu Trinh.”Khai dân trí, Chấn dân khí, Hậu dân sinh”
TTCh

Đỗ Anh Thơ: Chuyên mục cùng học cổ văn online hang tuần- Bài 2.-

Bạn đọc thân mến : Chương trình cùng học cổ văn này đòi hỏi sự kien trì của tác giả lẫn bạn đọc. Mỗi ngày tùy theo sức khỏe và độ bận rộn mà tác giả sẽ post lên mạng một số dòng,có thể chưa hoàn chỉnh và mở rộng dần. Độc giả cũng vậy, cần vào mạng bài đó hàng ngày để luyện nhớ , lương từ vưng tăng dân theo phương pháp mà tác giả hướng dẫn. Hy vọng mưa lâu thấm dần, sau 6 tháng , bạn đọc sẽ có thể tự đọc dịch được một số câu mới mà tác giả post lên.
Đỗ Anh Thơ
dnanhthodo62@gmail.com
ĐT : 0906265335Bài 2.
Nguyên văn:子 貢 問 曰 ﹕ 孔 文 子 何 以 謂 之 文 也 ﹖
子 曰 ﹕ 敏 而 好 學 ﹐ 不 恥 下 問 。 是 以 謂 之 文 也Phiên âm:
Tử Cống vấn viết : Khổng văn tử hà dĩ vị chi văn dã ?
Tử viết : Mẫn nhi hiếu học , bất sỉ hạ vấn, thị dĩ vị chi văn dã.
Chú giải :
Đây là câu thứ 15 trong chương Công dã tràng (公 冶 長) . Các chương trong luận ngự được đặt tên theo chứ đầu câu của câu đó.
Tử Cống (子 貢 zi gong) Thày Cống, tên hiệu của Đoan mộc Tứ , học trò Khổng tử

Vấn( 問 wen ) hỏi
曰 yue : nói là
孔 文 子 : Quan đại
phu nướ Vệ tên là Ngã. Văn tử là thụy hiệu người sau đạt cho
Văn ( 文 wen ): văn, vẻ đẹp bên ngoài
Hà dĩ ( 何 以 he wei) : tại sao
Vị; 謂 wei : gọi , gọi là
Mẫn:敏 (min) : mẫn , mẫn tiệp , thông minh
Bất sỉ hạ vấn (不 恥 下 問 bu chi xja wen) : Không xấu hổ khi hỏi người dưới.

Dịch :
Tử Cống hỏi: Thưa thày, tại sao Khổng Ngã lại được người đời sau đặt thụy hiệu cho là Văn Tử?
Khổng tử trả lời ; Ong ta thông minh, hiếu học, không xấu hổ dấu dốt, biệt hỏi người dưới mình. Vì thế người đời sau mới tôn vinh ông ta vậy.
Bình:
Bất sỉ hạ vấn la một đức tính cao đẹp của người thày , nói rộng ra là của kẻ sĩ. Bởi vì người đời khi đã bước lên tới đỉnh cao học thức hầu hết đều tự cho mình đã biết hết mọi thứ, kinh miệt hết người khác. Thói tự kiêu đó của những quân sư trở thành cái gai trong mắt đối với bọn vua chúa, kẻ có quyền , và kết cục thường chuốc lấy cái chết. Cao Bá Quát từng nói : Thiên hạ có ba bồ hữ, ta giữ hai, anh ta giữ một nửa, nửa còn lại phân phát cho thiên hạ. Kiêu ngạo đến thế là cùng.
Khổng tử tôn vinh đức tính ” bất sỉ hạ vấn ” của Khổng Ngã thực đáng để ta suy ngẫm.

Bạn đọc thân mến : Chương trình cùng học cổ văn này đòi hỏi sự kien trì của tác giả lẫn bạn đọc. Mỗi ngày tùy theo sức khỏe và độ bận rộn mà tác giả sẽ post lên mạng một số dòng,có thể chưa hoàn chỉnh và mở rộng dần. Độc giả cũng vậy, cần vào mạng bài đó hàng ngày để luyện nhớ , lương từ vưng tăng dân theo phương pháp mà tác giả hướng dẫn. Hy vọng mưa lâu thấm dần, sau 6 tháng , bạn đọc sẽ có thể tự đọc dịch được một số câu mới mà tác giả post lên.
Đỗ Anh Thơ
dnanhthodo62@gmail.com
ĐT : 0906265335

Bài 2.
Nguyên văn:

子 貢 問 曰 ﹕ 孔 文 子 何 以 謂 之 文 也 ﹖
子 曰 ﹕ 敏 而 好 學 ﹐ 不 恥 下 問 。 是 以 謂 之 文 也

Phiên âm:
Tử Cống vấn viết : Khổng văn tử hà dĩ vị chi văn dã ?
Tử viết : Mẫn nhi hiếu học , bất sỉ hạ vấn, thị dĩ vị chi văn dã.
Chú giải :
Đây là câu thứ 15 trong chương Công dã tràng (公 冶 長) . Các chương trong luận ngự được đặt tên theo chứ đầu câu của câu đó.
Tử Cống (子 貢 zi gong) Thày Cống, tên hiệu của Đoan mộc Tứ , học trò Khổng tử

Vấn( 問 wen ) hỏi
曰 yue : nói là
孔 文 子 : Quan đại
phu nướ Vệ tên là Ngã. Văn tử là thụy hiệu người đời sau đạt cho
Văn ( 文 wen ): văn, vẻ đẹp bên ngoài
Hà dĩ ( 何 以 he wei) : tại sao
Vị; 謂 wei : gọi , gọi là
Mẫn:敏 (min) : mẫn , mẫn tiệp , thông minh
Bất sỉ hạ vấn (不 恥 下 問 bu chi xja wen) : Không xấu hổ khi hỏi người dưới.

Dịch :
Tử Cống hỏi: Thưa thày, tại sao Khổng Ngã lại được người đời sau đặt thụy hiệu cho là Văn Tử?
Khổng tử trả lời ; Ong ta thông minh, hiếu học, không xấu hổ dấu dốt, biệt hỏi người dưới mình. Vì thế người đời sau mới tôn vinh ông ta vậy.
Bình:
Bất sỉ hạ vấn la một đức tính cao đẹp của người thày , nói rộng ra là của kẻ sĩ. Bởi vì người đời khi đã bước lên tới đỉnh cao học thức hầu hết đều tự cho mình đã biết hết mọi thứ, kinh miệt hết người khác. Thói tự kiêu đó của những quân sư trở thành cái gai trong mắt đối với bọn vua chúa, kẻ có quyền , và kết cục thường chuốc lấy cái chết. Cao Bá Quát từng nói : Thiên hạ có ba bồ chữ, ta giữ hai, anh ta giữ một nửa, nửa còn lại phân phát cho thiên hạ. Kiêu ngạo đến thế là cùng.
Khổng tử tôn vinh đức tính ” bất sỉ hạ vấn ” của Khổng Ngã thực đáng để ta suy ngẫm.

Sơ đồ tư duy nhớ ngoài

Từ một chữ có âm Hán Việt là vị =là dạ dày

Ghép với bộ ngôn ta có 謂 ( wei) – gọi là
Ghép với bộ thủy ta có 渭 (wei) : sông Vị
Ghép bộ khẩu ta có 喟 ( kui) : bùi ngùi
Ghép bộ trùng hay bộ cẩu
蝟 – con nhím
Học qua tiếng Anh:
CHAP. XIV. Tsze-kung asked, saying, ‘On what ground did Kung-wan get that title of Wan?’ The Master said, ‘He was of an active nature and yet fond of learning, and he was not ashamed to ask and learn of his inferiors!– On these grounds he has been styled Wan.’ 【十四章】子贡问曰、孔文子、何以谓之文也。子曰、敏而好学、不耻下问、 是以谓之文也。 【十四章】子貢問曰、孔文子、何以謂之文也。子曰、敏而好學、不恥下問、 是以謂之文也。 zǐ gòng wèn yuē kǒng wén zǐ hé yǐ wèi zhī wén yě zǐ yuē mǐn ér hàoxué bù chǐ xià wèn shì yǐ wèi zhī wén yě

Đàm Cao(ct) :Van hoa Cha Islam

 

Chuyện lạ ở miền Tây: Đàn ông mặc váy, đàn bà làm chủ
Các chàng trai chưa vợ người Chà thường mặc váy nhiều màu sặc sỡ, với nhiều hình nổi bật nhằm… thu hút phụ nữ.
Ở phía Tây của tỉnh An Giang, giáp đất Campuchia, nhắc đến người Chà, cư dân nơi đây lại đồn thổi rất nhiều chuyện huyền bí. Người ta đồn rằng, người Chà có nhiều bùa ngải, phép thuật, luyện thiên linh cái để giết người… Thôi thì có đến cả chục câu chuyện kinh hãi.
Thế nên, mặc dù người Kinh sống ngay cạnh người Chà, nhưng ít giao lưu. Khi tôi bày tỏ ý định vào “vương quốc người Chà” bên bờ sông Tiền, ông Hai Tưng, thầy thuốc kiêm thầy bùa dưới chân Núi Sam, thuộc đất Châu Đốc cứ khuyên tôi không nên vào, vì một là họ không tiếp, hai là họ thả bùa mất mạng!
Bỏ qua những lời đe dọa mang đầy sự huyễn hoặc, tôi qua phà Châu Giang đến xã Đa Phước thuộc huyện An Phú, nằm ngay bên sông Tiền và sông Bình Di, vùng đất với những ngôi nhà sàn đơn sơ tránh lũ và những nhà thờ uy nghi chả khác nào vùng Tây Á của người đạo Hồi.
*
Đàn ông Chà ở Châu Giang mặc váy để học kinh.
Chạy xe trên con lộ nhỏ dọc sông Bình Di dẫn ra cửa khẩu Long Bình, tôi thực sự lạc vào một vương quốc khác lạ. Trên con đường lộng gió, những người đàn ông đội mũ vải, mặc váy hoa phấp phới với đủ màu sắc đi lại thong dong, đạp xe thong thả trên đường.
Những cô gái vấn khăn quanh đầu, che kín cổ. Các cô gái ở xứ đạo Hồi che kín mặt, chỉ hở đôi mắt, nhưng có vẻ đạo Hồi ở xứ này không khắc nghiệt lắm với phụ nữ.
Tôi tạt vào một nhà thờ, gặp mấy người đàn ông mặc váy ngồi quây quần dưới nền nhà học kinh. Thấy khách lạ, cả nhóm người nhìn tôi ngơ ngác. Tôi giới thiệu là nhà báo, nhóm người này cùng đứng dậy bắt tay, niềm nở, khác hẳn với lời “dọa” của ông thầy bùa, cũng như người dân vùng Châu Đốc.
Tuy nhiên, khi thu thập thông tin, họ không trả lời, mà chỉ tôi đến gặp ông Cả Musa. Với người Chà, ông Cả Musa giống như trưởng bản, già bản của các dân tộc phía Bắc.
*
Ông Cả của người Chà kể chuyện về phong tục người Chà.
Ông Cả Musa là kho tri thức của người Chà, ông nắm rõ lịch sử, văn hóa, tập tục của dân tộc mình. Ông là người cai quản phần tâm linh, được người dân coi trọng, và lời nói của ông được mọi người lắng nghe.
Hỏi chuyện bùa ngải, ông gạt phắt đi. Ông Cả Musa khẳng định rằng, người Chà ở đây không hiểu bùa ngải là thứ gì. Đó là thứ người dân trong vùng gán oan cho người Chà.
Theo ông Cả Musa, người Chà ở vùng đất này thường được gọi là người Chà Châu Giang, vì gắn với vùng đất Châu Giang. Ngoài ra, còn được gọi là Tây Chăm, để phân biệt với người Chăm ở nơi khác.
Người Chà có hơn 20.000 cư dân (trong tổng số 400 ngàn người Chăm), có mặt ở vùng Châu Giang từ đầu thế kỷ 19. Vị tướng Thoại Ngọc Hầu khi thực hiện công trình kênh Vĩnh Tế, đã huy động một nhóm người Chăm vào vùng đất này.
Đào xong kênh Vĩnh Tế, tướng Thoại Ngọc Hầu đã chia đất vùng Châu Giang cho người Chăm làm sinh kế.
*
Sau này, một nhóm người Chăm gốc Malaysia, gọi là Chăm Chà Và đến sinh sống. Đó cũng là lý do người dân quanh vùng gọi người Chăm nơi đây là người Chà Và, rồi sau gọi tắt là người Chà.
Người Chà ở vùng đất nhỏ này theo Hồi giáo chính thống, nên còn được gọi là Chăm Islam, hay Chà Islam, với phong tục, tập quán tương đối khác biệt với người Chăm ở những vùng khác trong cả nước.
Theo ông Cả Musa, đàn ông người Chà vùng Châu Giang mặc váy từ bé cho đến khi chết. Chiếc váy của người Chà có nhiều màu sắc, hoa văn khác nhau, từ màu sáng, sặc sỡ, cho đến tối màu. Nhìn vào chiếc váy đó, người Chà dễ dàng phân biệt được địa vị của họ trong cộng đồng, tuổi tác, có gia đình hay chưa.
Các chàng trai chưa vợ người Chà thường mặc váy nhiều màu sặc sỡ, với nhiều hình nổi bật nhằm… thu hút phụ nữ.
Những chiếc váy được cắt khá đơn giản. Đó là một tấm vải lớn, được quấn quanh hông 1,5 vòng, xếp chéo. Váy mỏng hay dày cũng không quan trọng, bởi bên trong họ mặc thêm một chiếc quần soóc, để đảm bảo kín đáo tuyệt đối.
Với người Kinh, việc mặc váy thể hiện nữ tính, còn đàn ông Chà mặc váy thì thể hiện nam tính. Điều đặc biệt nữa là chiếc váy họ mặc dài chấm gót chân, chứ không… hở hang và cũn cỡn như những cô gái người Kinh vẫn phóng xe máy vun vút, tốc cả váy trên con lộ dẫn qua vùng Châu Giang.
*
Tôi hỏi ông Cả Musa rằng, việc mặc váy như thế có khó dễ gì cho việc lao động, đi lại không, thì ông lắc đầu bảo không ảnh hưởng gì cả. Người Chà trong cộng đồng vẫn mặc váy đi làm, lái xe, giao lưu với cộng đồng khác quanh vùng.
Điều khá thú vị ở người Chà vùng này, ấy là người phụ nữ đóng vai trò chủ nhân trong gia đình. Chế độ mẫu hệ và tín ngưỡng nữ thần vẫn tồn tại đến ngày nay.
Văn hóa người Chà cho rằng, đàn bà lo việc trong gia đình, giữ gìn gia phả, và đó là những việc quan trọng trong gia đình. Đàn bà lo việc dệt vải. Những chiếc váy hoa mà đàn ông Chà mặc là tác phẩm của người phụ nữ Chà chăm chỉ, khéo tay.
Điều khá lạ nữa, đó là đàn ông lo việc cơm nước, nấu ăn. Đàn ông học nấu ăn từ một ông thầy cả trong cộng đồng. Món ăn của họ là thịt bò. Điều lạ nữa là họ tự nuôi bò, tự giết bò để ăn. Họ không ăn thịt bất cứ con vật nào khác và không mua thịt bò từ cộng đồng khác.
*
Mang chế độ mẫu hệ, nên những đứa trẻ sinh ra mang họ mẹ. Việc cưới xin, lấy chồng là do nhà gái đứng ra lo lắng. Đàn ông ở rể nhà vợ cho đến chết. Khi đàn ông chết đi, nhà gái có trách nhiệm thờ cúng. Khi hết tang theo phong tục, thì nhà gái sẽ trả cốt cho dòng họ nhà trai tiếp tục thờ.
Phụ nữ Chà được thừa kế tài sản từ gia đình, dòng họ và người con gái út được có quyền lực cao nhất gia đình khi được phân nhiệm vụ săn sóc nhà thờ để thờ cúng tổ tiên và nuôi dưỡng cha mẹ già.
Phong tục cưới xin của người Chà ở vùng đất này cũng có nhiều chuyện lạ. Khi chú rể được rước về nhà vợ, thì hai người phải thực hiện một thủ tục khá buồn cười, đó là thi mò tiền.
Ông Cả, người đứng đầu trong vùng sẽ là trọng tài của cuộc thi. Chiếc xô đựng đầy nước được đặt ngay cửa phòng hoa chúc. Ông Cả sẽ bỏ tiền xu vào xô nước. Khi ông Cả ra hiệu, cả hai cùng lao đến dùng 2 tay vớt tiền trong xô.
*
Trong văn hóa người Chà, phụ nữ làm chủ gia đình
Nếu chú rể vớt được nhiều tiền hơn, thì sẽ được chia sẻ một số quyền lực trong gia đình, còn vớt được ít tiền hơn, thì hoàn toàn chịu sự chỉ đạo của vợ. Xong thủ tục này, họ vào phòng hoa chúc và chính thức thành vợ chồng.
Sống giữa vùng sông nước Cửu Long, nơi ăn nhậu là thói quen thường ngày của đàn ông, nhưng người Chà không bị ảnh hưởng. Đàn ông Chà ở đây không bao giờ uống rượu bia, hút thuốc, cờ bạc. Những thú vui, tệ nạn đó được quy định rất ngặt nghèo trong giáo luật và không bao giờ có chuyện họ vi phạm.
Với những phong tục, lối sống hoàn toàn riêng biệt, người Chà vùng Châu Giang, đã tạo ra những nét văn hóa vô vùng độc đáo, có phần bí ẩn.
(Theo VTC News)

LÒ NGÂN SỦN: NGƯỜI ĐẸP ( tho voi LỜI BÌNH: CHU NGỌC PHAN

 

NGƯỜI ĐẸP

Người đẹp trông như tuyết
Chạm vào lại thấy nóng
Người đẹp trông như lửa
Sờ vào lại thấy mát
Người không khát-Nhìn thấy người đẹp cũng khát
Người không đói-Nhìn thấy người đẹp cũng đói
Người muốn chết-Gặp người đẹp
lại không muốn chết nữa

Ơ!
Người đẹp là ước mơ
Treo trước mắt mọi người.

L N S
( Trích tạp chí Văn hoá
các DT TSVN số 11/2011)

MINH HUỆ – CÔ GÁI TÀY

Lời bình
của Chu Ngọc Phan

Bài thơ: “Người đẹp” của nhà thơ Lò Ngân Sủn từ lâu đã được người yêu thơ, làm thơ thuộc nằm lòng, như một bảo bối “Giáo khoa”thơ gối đầu giường, để đôi khi mang ra đọc cho khoái, hoặc để tạo nguồn cảm xúc cho sáng tác của mình.
Bài thơ đọc lên nghe chân mộc, giản dị, thật thà như đếm. Cứ tưởng, nếu làm thơ như thế thì dễ ợt. Nhưng thực ra chỉ có mỗi Lò Ngân Sủn là làm được. Bài thơ hay tự nhiên, như một bông hoa tươi không biết héo, cứ toả hương thơm riêng rất lạ từ đài nhuỵ Lò Ngân Sủn. Thế mới biết thơ hay đến mức thành “Thần”, thì dễ đi vào quần chúng cũng tựa như lửa đượm gặp củi khô, giò lụa gặp xôi trắng vậy.
Trước tiên ta gặp sự quan sát của nhà thơ: “Người đẹp trông như tuyết”; “Người đẹp trông như lửa”. Thật là tinh tế! Vẫn là lối so sánh thông thường, qua đó người đẹp hiện lên thật ngọc ngà, rực rỡ. Nhưng chính nghệ thuật tương phản mới diễn tả hết cái siêu phàm của người đẹp: “như tuyết…lại thấy nóng”; “như lửa…lại thất mát”.
Thế là từ quan sát, tác giả đã chuyển sang chiêm nghiệm. Mà đúng như thế thật! Trời đất đã dành cho phái đẹp cái đặc thù quí báu ấy…Bất cứ người đàn ông nào cũng thấy điều ấy là chí lý, chí tình.
Tác giả khai thác đến triệt để nghệ thuật tương phản, để diễn tả cặn kẽ sự chiêm nghiệm của mình. Nhà thơ sử dụng các cặp từ chỉ nhu cầu vật chất thông thường:
“không khát-Nhìn thấy người đẹp cũng khát”;
“Không đói-Nhìn thấy người đẹp cũng đói”.
Từ “đói”, “khát” ở mỗi dòng thơ được xuất hiện hai lần. Lần một là nghĩa đen, lần hai là nghĩa bóng. “Khát” được chuyển nghĩa thành khao khát; “Đói” được chuyển thành sự thèm muốn. Nhưng sự đối lập còn tiến triển. Nghệ thuật tương phản đã được đẩy lên đến tột đỉnh: “Người muốn chết-Gặp người đẹp lại không muốn chết nữa”. “ Muốn chết” là tuyệt vọng đến tột độ, nhưng chính “người đẹp” đã hoá giải tình trạng đó và mọi sự lại trở lại bình thường: “Muốn chết…lại không muốn chết nữa”. “Người đẹp” giống như một cứu tinh thật linh thiêng và thần diệu…
Ba câu thơ cuối bài, tác giả dùng phép quy nạp, nhấn mạnh sự tôn vinh “người đẹp” của “mọi người”. Vâng! Đó cũng là khát vọng thẩm mỹ muôn đời mà con người xưa nay hằng ôm ấp. Với ngòi bút tài hoa, tác giả đã chứng minh cho ta thấy, lối tương phản-tăng tiến trong nghệ thuật nói chung đã đóng vai trò đắc dụng đến nhường nào! Bài thơ “Người đẹp” sẽ sống mãi trong dòng thời gian vô tận…
19/1/2012