Trần Văn Kinh : Trong ấy…Hoàng Thành (Tùy bút)

1.

Đã lâu lắm rồi, nhân có bạn tôi ở trong Nam ra, chúng tôi mới có dịp đi dạo quanh một vài đường phố Hà Nội.
Dạo phố là một thú vui từ hồi còn trẻ của nhiều người.
Tôi còn nhờ vào những năm đầu thạp kỷ 80 của thế kỷ trước, chiều nào cũng có hai ông già tóc bạc dạo quanh Hồ Gươm, đi chậm rãi và nói chuyện dường như cũng chậm rãi, hòa vào dòng người đông đúc, từ phía Hàng Khay, rồi Đinh Tiên Hoàng, qua phía đền Ngọc Sơn, qua Thủy Tạ, về Kem Bốn Mùa, rồi lại về Hàng Khay… Hai ông già đó là cố GS Tôn Thất Tùng và cố GS Trần Đại Nghĩa.
Tôi hồi ấy có nhà và cơ quan làm việc đều gần Bờ Hồ, dĩ nhiên là cũng tranh thủ đi bộ hàng ngày, và vì thế mà chiều chiều lại được chiêm ngưỡng hai nhà bác học nhiều công lao ấy.
Vậy mà bây giờ, với những người già như chúng tôi, nhất là những người đã sống ở Hà Nội từ những năm 50,60 của thế kỷ trước, có việc đi ra đường Hà Nội rất ngại, dù là đi bằng tắc-xi. Sự yên ả, khoan thai, ứng xử văn minh, thanh lịch của đất Hà thành đã đi đâu mất, để lại sự nuối tiếc trong lòng nhiều người. Bây giờ thì trái lại: ồn ào, chen lấn, tranh chấp, lỗ mãng… diễn ra khắp nơi trên các phố phường.
Nhưng hôm nay thì có vẻ hơi khác. Một ngày chủ nhật trong chuỗi những ngày nghỉ lễ đã cho phép chúng tôi đi chậm rãi, thỉnh thoảng dừng xe, mở cửa bước ra ngoài và để thả hồn mình trong không gian Hà Nội…
Đó là lúc chúng tôi đi từ đường Hoàng Hoa Thám, băng qua đường Hùng Vương, sang đường Phan Đình Phùng, đường một chiều, chạy phía ngoài Hoàng Thành, từ tây sang đông.
Khi qua cổng thành Cửa Bắc, mắt chúng tôi dừng lại trên những vết lõm sâu của tường thành. Một câu hỏi từ đâu bật ra: “ Này! Thằng Pháp nó đặt đại bác ở đâu để bắn vào cổng thành của minh nhỉ?” – Trên tàu ! – Nhưng tàu đậu ở đâu? – Bờ sông Hồng, khoảng chỗ cầu Long Biên bây giờ ấy — Chết thật ! Thế thì từ ngoài biển vào đến đây, không có ai chặn nó lại à?
Làm sao chúng tôi hiểu hết được những chuyện ngày xưa, nếu tính từ lúc Hà thành thất thủ lần thứ nhất đến nay thì đã tròn 140 năm, nhưng trước câu hỏi bất ngờ ấy, cả hai chúng tôi cùng ngẩn người ra. Mất cảnh giác hay là đã đầu hàng giặc từ trước khi nó bắn vào đây rồi?
Mà ai đã đặt tên cho con đường này là đường Phan Đình Phùng nhỉ? Tài thật ! Nhớ lại vào năm 1883, Hà thành thất thủ lần thứ hai. Năm 1884, triều đình nhà Nguyễn ký Hòa ước Patenôtre nhượng cho Pháp quyền bảo hộ nốt phần đất cuối cùng của nước Việt Nam là Bắc Kỳ. Năm 1885 , cụ Phan Đình Phùng lãnh đạo phong trào Cần Vương chống Pháp, khởi nghĩa ở Vụ Quang (Hương Sơn, Hà Tĩnh). Cụ vốn là quan ngự sử ở triều đình Huế, vì vạch tội những bọn chuyên quyền, ép buộc vua, không được, nên cụ cáo quan về hưu. Khi vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương thì cụ phất cờ khởi nghĩa, tập hợp những người yêu nước, đặc biệt là văn thân các tỉnh phía bắc Trung bộ và đồng bằng Bắc bộ để chống lại thực dân Pháp. Vậy thì Cụ đúng là một ngọn cờ chống Pháp đầu tiên ở Bắc kỳ và Trung Kỳ sau Hòa ước Patennôtre. Cụ và Phong trào Cần Vương sau 10 năm chiến đấu gian khổ và anh dũng đã bị thực dân Pháp và tay sai đàn áp dã man. Xác của cụ và các tùy tướng nổi tiếng khác bị bọn thực dân Pháp đốt thành tro và bắn xuống La (Đức Thọ, Hà Tĩnh). Mãi 50 năm sau đó, đến Cách mạng tháng 8 năm 1945, Hà Nội mới lại trở về tay nhân dân ta, nhưng không phải vì thế mà nói rằng thắng lợi không bắt nguồn từ những công lao to lớn của những bậc tiền bối như nhà chí sĩ yêu nước Phan Đình Phùng…

2.
Chúng tôi lại tiếp tục đi. Và trước mắt đã hiện ra con đường mang tên danh nhân Nguyễn Tri Phương, chạy theo hướng bắc- nam. Đây là ranh giới phía đông của khu Hoàng Thành bây giờ. Ngày xưa thì Hoàng Thành rộng hơn. Chứng cứ là Cửa Đông vẫn nằm trên phố Lý Nam Đế, chạy song song với đường Nguyễn Tri Phương này nhưng cách xa theo chiều ngang khoảng trên100 mét nữa. Cửa Đông, cũng như Cửa Nam, giờ đã lùi ra ngoài chu vi Hoàng thành rồi. Chỉ còn Cửa Bắc là vẫn như xưa thôi.
Đi trên đường Nguyễn Tri Phương, lòng bồi hồi tưởng nhớ và hình dung lại những ngày Hà thành thất thủ lần thứ nhất (1873), cách đây đã 140 năm. Do mơ hồ về âm mưu của giặc, do thiếu cảnh giác và bị một số quan lại bọn chuyên quyền lấn át, triều đình Huế đáp trả các hành động của thực dân Pháp một cách yếu ớt.. Với tư cách là Tổng đốc Hà thành, Nguyễn Tri Phương đã hết lòng tổ chức và đốc thúc quân sĩ chiến đấu bảo vệ Hà Nội, nhưng sức không cân xứng, không có viện binh, không có các biện pháp hỗ trợ khác của triều đình, ông đành phải chịu thua ! Con trai ông, phò mã Nguyễn Lãm hy sinh ngay trên mặt thành, dưới làn đạn giặc. Ông bị giặc bắt và quyết định quyên sinh để giữ lòng trung với nước với dân! 73 nám sau, mùa Đông năm 1946, máu của những chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô, của tự vệ thành Hoàng Diệu, rồi mùa đông năm 1972 máu của đồng bào và chiến sĩ phố Khâm Thiên lại đổ vì sự sống còn muôn đời của Hà Nội và của cả đất nước..
Ôi ! “ Mỗi tấc đất Hà Nội còn thắm máu hồng tươi…”
(Nguyễn Đình Thi- nhạc phẩm Người Hà Nội).
Nguyễn Tri Phương không phải người sinh ra và lớn lên ở Hà Nội. Quê ông ở Thừa Thiên. Nhà ông đã làm quan mấy đời và bản thân ông làm quan đã trải mấy đời vua, nhưng đều thanh liêm, trung trực, trong sáng, nếp nhà thanh bạch. Ông đã bảo vệ Hà Nội đến phút cuối cùng, đã dâng hiến cho đất nước cả dòng máu của cả hai cha con. Những tấm gương như thế sẽ luôn luôn soi rọi cho các thế hệ người Hà Nội sau này.

3.
Đến cuối đường Nguyễn Tri Phương, chúng tôi rẽ phải theo đường Điện Biên Phủ. Phố Cửa Nam nằm ở phía sau lưng chúng tôi..
Đường Điện Biên Phủ ngày xưa là đường Cột Cờ
(Nhà tôi 24 cột cờ/ Ai yêu thì đến, hững hờ thì qua- Xuân Diệu).
Bao bọc xung quanh Hoàng thành có 3 con đường mang tên các vĩ nhân đã cống hiến đời mình cho đất nước ở cuối thế kỷ 19. Chỉ có một con đường mang tên một địa danh, cũng là một mốc son trong cuộc chiến đấu chống ngoại xâm của dân tộc ta- Điện Biên Phủ năm 1954. Nó mang tên một địa danh, nhưng nếu nhắc đến địa danh đó thì không thể nào không nhắc đến một vĩ nhân khác : Võ Nguyên Giáp. Rõ ràng rằng chiến thắng Điện Biên Phủ là của toàn dân, là công lao và xương máu của bao nhiêu chiến sĩ, anh hùng, nhưng ông, đại tướng Võ Nguyên Giáp là vị Tổng tư lệnh của mặt trận ấy ! Và điều sẽ được nhắc đến nhiều hơn nữa là ở các quyết định tài tình của ông về cách đánh thắng kẻ thù, với tư cách là “Tướng quân tại ngoại” (lời Hồ Chủ tịch). Giả sử ngày ấy không có những quyết định sáng suốt của ông (kéo pháo ra, bố trí lại trận địa, thay đổi cách đánh để bảo đảm chắc thắng và ít tổn thất nhất), không hiểu chuyện gì đã xảy ra? Tâm huyết và tài trí của một vị tướng luôn luôn là vì nhân dân, vì thắng lợi cuối cùng của dân tộc. “Dĩ công vi thượng”. Vì thế, không thể làm theo cách của người khác được.

4.
Đến Ngã tư Điện Biên Phủ- Hoàng Diệu, chúng tôi rẽ phải. Đây là con đường phía tây khu Hoàng thành bây giờ. Đã qua 3 cửa Bắc, Đông, Nam, nhưng cửa Tây thì không biết ở đâu. Chắc cũng không phải ở trên đường Hoàng Diệu này. Phía bên kia đường cũng đã khai quật nhiều di tích cơ mà. Nhưng tển tuổi của vị Tổng đốc quê tận Quảng Nam đã hy sinh vì Hoàng thành này đủ làm lắng sâu bao tình cảm và suy tư của người Hà Nội.
Đúng 10 năm sau cuộc thất thủ lần thứ nhất với sự hy sinh của hai cha con quan Tổng đốc Nguyễn Tri Phương, đến lượt quân Pháp hạ thành Hà Nội lần thứ hai (1883), và đặt ách đô hộ lên toàn cõi Việt Nam (1884). Triều đình vẫn mơ hồ, vẫn chia bè chia phái, vẫn muốn cầu viện sự giúp đỡ của Nhà Thanh (!), không có một sự chuẩn bị thiết thực nào, vì thế mà thất bại là khó tránh khỏi.
Cụ Hoàng Diệu dù đã dốc sức bố trí phòng bị bốn mặt thành, nhưng vì có những người dưới quyền hùa theo phái “chủ hòa” của triều đình, nên ông ở vào tình thế “sức yếu thế cô”, không chọi nổi với lực lượng của quân Pháp lúc ấy. Không thể giương mắt nhìn thấy chúng tràn vào chiếm thành, cụ đã tự treo cổ lên cây, kết liễu đời mình ! Người Hà Nội không trách cụ về việc Hà thành thất thủ lần ấy được. Cũng không có một sử gia nào viết về những ngày tháng ấy buông lời bình về cụ. Họ trách người khác, trách triều đình! Trong lời điếu trước linh cữu của cụ, sĩ phu đất bắc nghẹn ngào thương cảm: “Người người như tiên sinh, Hà thành đâu nỗi thế! Người người khác tiên sinh, Hà thành đành thế nhỉ !”

5.
Qua ngã tư Hoàng Diệu- Phan Đình Phùng, chúng tôi đi theo đường Nguyễn Biểu, ra đường Trấn Vũ, rồi ra Hồ Tây, lòng miên man nghĩ về những đổi thay của Hà Nội xưa và nay.
Chúng tôi đã vào xem Di tích Hoàng Thành nhiều lần , đã được nhìn thấy những chứng tích của nền văn minh của ông cha chúng ta nối tiếp nhau qua bao triều đại. Nhất định chúng tôi sẽ còn vào nữa để bày tỏ lòng ngưỡng mộ và biết ơn tiền nhân !
Thật may mắn cho Hà Nội vì từ xưa đã có Tứ Trấn. Tứ Trấn được giải thích là có 4 vị trí tâm linh ở Đông Tây Nam Bắc bảo vệ Hà Nội: Đền Bạch Mã (đông), Đền Voi Phục (tây), Đền ( chùa?) Kim Liên (nam) và Đền (chùa?) Trấn Vũ (bắc). .
Nhưng đó là tâm linh.
Hà Nội từ xưa cũng đã có Tứ Trấn bằng lực lượng vật chất có tổ chức, hiện thực và hùng vĩ: Trấn Sơn Đông (vùng Hải dương, Kiến An cũ…), Trấn Sơn Tây (tỉnh Sơn Tây, Hà Đông cũ và một phần Hòa Bình ), Trấn Sơn Nam ( Hà Nam, Nam Định…), và Trấn Kinh Bắc (Bắc Ninh, Bắc Giang…). Đó là Tứ Trấn bảo vệ Hà Nội, trực tiếp chia sẻ nóng lạnh với Hà Nội, cung cấp nhân tài cho Hà Nội. Phía ngoài Tứ Trấn là các Châu, Lộ ( Châu Ái, Châu Hoan…Nghĩa Lộ, Mai Châu…), và các tỉnh, nối liên hoàn thành bức trường thành của đất nước.
Nghĩ đến đây, tôi lại liên tưởng với một niềm tin sâu xa đến những con đường mang tên danh nhân và địa danh mà chúng tôi vừa đi qua. Trong ấy…Hoàng Thành !
TVK.
Tháng 8 năm 2013.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s