Đỗ Anh Thơ : Bài II- sưu tầm bài viết về Mặc tư

Nguyên văn : Cuộc đời Mạc Tử
生平
墨子曾学习儒术,因不满“礼”之烦琐,另立新说,聚徒讲学,成为儒家的主要反对派。据说楚王曾计划攻宋,墨子前往劝说楚王,并在与公输般的模拟攻防中取得胜利,楚王只得退兵。墨子的思想与主张见墨家。
清朝學者汪中治墨學,他将墨子与孔子平视,认为“孔子鲁之大夫也,而墨子宋之大夫也,其位相埒”。墨子與孔子有相當程度上的差異。孔子主張久喪厚葬,對祭祀非常重視,子曰:“食不厭精,膾不厭細。”就是針對祭祀的說明[1]。墨子一生過著簡樸的生活,“量腹而食,度身而衣”[2],主張“節用,節葬,非樂”,他的弟子也是“短褐之衣,藜藿之羹,朝得之,則夕弗得”。
墨子姓名考[编辑]
历史学界至今无法确定墨子的真实姓名,有以下各种说法:
墨氏,名翟[编辑]
最传统的说法是,墨子,墨氏,名翟,《吕氏春秋》、《淮南子》、《史记•孟子荀卿列传》内都如是称。司馬遷沒有給墨子立傳,僅在孟子、荀卿傳後,有簡略記載:“蓋墨翟宋之大夫,善守禦,為節用,或曰並孔子時,或曰在其後”。《元和姓纂》称,“墨氏,孤竹君之後,本墨台氏,後改為墨氏,戰國時宋人。墨翟著書號墨子。”而《新唐书•艺文志》也沿用这种说法。童书业根据《广韵•六脂》以及《姓氏急救篇》所引的《世本》文字“宋襄公子墨夷须为大司马,其后有墨夷皋。”及《通志•氏族略》记载的“墨台氏,子姓,宋成公子墨台之后。”考证得出,宋襄公之兄公子目夷(子鱼),也就是《左传•僖公二十二年》所记载的著名的子鱼论战故事的主人公,其名目夷又写作墨夷或墨台,其后裔以墨夷为氏。童书业据此认为墨子为宋国公室子姓墨夷氏之后[3],因此墨子继承了贵族身份为宋国大夫。
翟姓,名乌[编辑]
南齐孔稚圭所著的《北山移文》则称墨翟为“翟子”,元朝伊世珍所著的《瑯環記》[註 2]也附和此说,并认为墨子姓翟名乌。清朝周亮工所著的《固树屋书影》更具体地提出:“以墨为道,今以姓为名。”认为他姓翟,并将姓转成名;而“墨”是一种学派。晚清学者江瑔所著的《读子卮言》承袭周亮工的说法,并进一步说明,以为古代确实有“翟”这姓氏,但无“墨”姓,而且战国诸子中儒、道、名、法、阴阳、纵横、杂、农、小说等,都没以姓作为学派名,因此墨应该是学派的名称。
墨取自刑罚名称[编辑]
近代学者钱穆的《墨子传略》从墨刑是古代刑名之一的角度展开研究,认为古人犯轻刑,则罚作奴隶苦工,故名墨为刑徒,实为奴役,而墨家生活菲薄,其道以自苦为极。墨子和弟子们都“手足胼胝,面目黎黑,役身给使,不敢问欲”,人人皆可使“赴火蹈刃,死不旋踵”。这样,就被称为墨了。而历史上西汉淮南王英布遭黯刑后称为黥布,也是一证。而翟确实是名,因《墨子》和《吕氏春秋》记载墨翟,往往称“翟”。

Mozi’s Name & Life

There has been considerable debate about the actual name of Mozi. Traditionally, Mozi was said to have inherited the surname “Mo” from his supposed ancestor, the Lord of Guzhu (Chinese: 孤竹君; pinyin: Gūzhú Jūn), himself descended from Shennong the legendary emperor. The descendants of the Lord of Guzhu had the clan name “Motai” (Chinese: 墨胎; pinyin: Mòtāi), which later was shortened to “Mo”. However, modern scholarship suggests that “Mo” was not, in fact, the clan name of Mozi, as this clan name/family name is not encountered during the Spring and Autumn and Warring States periods, but that “Mo” was rather the name of the Mohist school itself, derived from the name of a criminal punishment (tattooing of the forehead of criminals; “mo” literally means “ink”), usually inflicted on slaves. It signals the Mohists’ identification with the lowest of common people. The actual ancestral name and clan name of Mozi is not known. It may be that, because he was likely born into the lower classes, he did not have an ancestral or clan name. During Chinese antiquity, the vast majority of the Chinese people who were not related to aristocratic families, did not possess ancestral and clan names. And one final plausible source of Mozi’s name may have been the philosopher’s skin complexion itself, which is referred to as “dark” (lit. “black”) in the text. “Mozi was going north to Qi and met a fortune teller on the way. The fortune teller told him: “God kills the black dragon in the north today. Now, your complexion is dark. You must not go north.”

Mozi was born in Lu (seen toward the north, with a small coastline along the Yellow Sea) and spent some time as a government minister in Song (a landlocked state to the south of Lu)
Most historians believe that Mozi was a member of the lower artisan class who managed to climb his way to an official post. It is known, however, that his parents were not affectionate towards him and showed him very little love. Mozi was a native of the State of Lu (Today’s Tengzhou, Shandong Province), although for a time, he served as a minister in the State of Song.[3] Like Confucius, Mozi was known to have maintained a school for those who desired to become officials serving in the different ruling courts of the Warring States.[4]
Mozi was a carpenter and was extremely skilled in creating devices, designing everything from mechanical birds to wheeled, mobile “cloud ladders” used to besiege city walls (see Lu Ban). Though he did not hold a high official position, Mozi was sought out by various rulers as an expert on fortification. He was schooled in Confucianism in his early years, but he viewed Confucianism as being too fatalistic and emphasizing too much on elaborate celebrations and funerals which he felt were detrimental to the livelihood and productivity of common people. He managed to attract a large following during his lifetime which rivaled that of Confucius. His followers—mostly technicians and craftspeople—were organized in a disciplined order that studied both Mozi’s philosophical and technical writings.
According to some accounts of the popular understanding of Mozi at the time, he had been hailed by many as the greatest hero to come from Henan. His passion was said to be for the good of the people, without concern for personal gain or even his own life or death. His tireless contribution to society was praised by many, including Confucius’ disciple Mencius. Mencius wrote in Jinxin (Chinese: 孟子盡心; pinyin: Mengzi Jinxin) that Mozi believed in love for all mankind. As long as something benefits mankind, Mozi will pursue it even if it means hurting his head or his feet. Zhang Tai Yan said that in terms of moral virtue, even Confucius and Laozi cannot compare to Mozi.
His pacifism led Mozi to travel from one crisis zone to another throughout the ravaged landscape of the Warring States, trying to dissuade rulers from their plans of conquest. According to the chapter “Gongshu” in Mozi, he once walked for ten days to the state of Chu in order to forestall an attack on the state of Song. At the Chu court, Mozi engaged in nine simulated war games with Gongshu Ban, the chief military strategist of Chu, and overturned each one of his stratagems. When Gongshu Ban threatened him with death, Mozi informed the king that his disciples had already trained the soldiers of Song in his fortification methods, so it would be useless to kill him. The Chu king was forced to call off the war. On the way back, however, the soldiers of Song, not recognizing him, would not allow Mozi to enter their city, and he had to spend a night freezing in the rain. After this episode, he also stopped the state of Qi from attacking the state of Lu. He taught that defense of a city does not depend only on fortification, weaponry and food supply; it is also important to keep talented people close by and to put trust in them.
Though Mozi’s school of thought faded into obscurity after the Warring States period, he was studied again two millennia after his death. As almost nobody had copied the texts during the last two thousand years, there was much difficulty in deciphering them. As a result, Mohism became the most difficult philosophy within the Hundred Schools of Thoughts to study. Both the Republican revolutionaries of 1911 and the Communists saw in him a surprisingly modern thinker who was stifled early in Chinese history.
MẶC TỬ VÀ HOÀ CẢ H RA ĐỜI
CỦA HỌC THUYẾT “KIÊM ÁI” Bài của Pham Lan Anh
1.1.Thân thế, sự nghiệp của Mặc Tử
1.1.1. Giải nghĩa chữ “Mặc” trong Triết học Trung Hoa cổ đại
Trong lịch sử tư tưởng triết học Trung Hoa cổ đại vào cuối thời
Xuân Thu – Chiến Quốc đã xuất hiện một trường phái triết học lớn,
cùng với N ho gia, Đạo gia chia nhau thống trị đời sống tinh thần ở
Trung Hoa thời kỳ này, đó là trường phái triết học Mặc gia. N gười sáng
lập ra trường phái triết học Mặc gia với học thuyết “ Kiêm ái” nổi tiếng
là kẻ thù của Khổng giáo, đó là Mặc Địch. Sau khi Mặc Tử mất học
thuyết này được bảo vệ và phát triển bởi các triết gia hậu Mặc vào thế
kỷ thứ IV – III trước công nguyên, với tư tưởng nổi bật nhất về lôgic và
nhận thức luận trên cơ sở duy vật của họ.
Khi nghiên cứu về Mặc Tử chúng ta phải hiểu được nghĩa của từ
“Mặc” trong triết học Trung Hoa cổ đại là gì? Hiểu được nó, sẽ giúp
chúng ta có được một cách nhìn toàn diện hơn về trường phái Mặc gia.
“Mặc” còn có nghĩa là đen, như Mạnh Tử nói “diện thâm mặc”, tức
là mặt đen sì. Vậy “Mặc” có nghĩa là mặc đồ đen. Mặc Tử lấy sự cực
khổ làm đức hạnh, cho nên mệnh danh học thuật của mình là Mặc. Hơn
nữa, chữ Mặc còn là để gọi một tội hình khắc vào mặt và thoa mực đen
đi. Theo Giang Tuyền, chữ “Mặc” không phải là tên là dòng họ mà nó
là tên gọi một học thuật.
1.1.2. Thân thế sự nghiệp của Mặc Tử
Về cuộc đời và sự nghiệp của Mặc Tử người ta có nhiều cách lý
giải khác nhau. Gần đây viện hàn lâm khoa học Trung Quốc đã xác
định có thể nói Mặc Tử là người nước Lỗ.
Về vấn đề niên đại của Mặc Tử cũng là một vấn đề tốn khá nhiều
giấy mực của các nhà nghiên cứu mà đến nay vẫn chưa ngã ngũ. N hưng 9
nhìn chung đều cho rằng Mặc Tử sinh vào khoảng giữa thời Khổng Tử
và Mạnh Tử, nói một cách khác tức là vào khoảng giữa thời Xuân Thu –
Chiến Quốc giao nhau. Điều đó có căn cứ để biết được năm sinh, năm
mất của Mặc Tử.
Về tính giai cấp của Mặc Tử, thì trong các sách cổ chép rất ít về lúc
sinh thời của ông, cho nên cũng có phần không tìm ra được rõ ràng.
Theo Lã Trấn Vũ việc xuất thân của Mặc Tử có thể dính líu với gia thế
của tầng lớp địa chủ mới đã bị sa sút hoặc gia thế của một nhà đời trước
là nông dân tự do đã chuyển thành một nhà sản xuất nhỏ độc lập, nhất
là thuyết sau có vẻ đúng hơn cho nên trong hệ thống tư tưởng của Mặc
Tử có phản ánh đôi chút ý thức tư tưởng của bọn địa chủ mới. Hồi đó
bọn địa chủ mới mà bị sa sút thì rất có thể bị giáng xuống hàng nông
dân. Học thuyết của Mặc Tử có thể phản ánh một số những yêu cầu của
nông dân có lẽ cũng vì thế.
Về vấn đề trước tác của Mặc Tử: về tập sách “Mặc Tử”, xưa nay
tranh luận đã nhiều. Các chương trong tập sách “Mặc Tử” ngày nay có
thể biểu hiện là một dòng phái triết học đồng nhất, đồng thời biểu hiện
thành một hình thái ý thức giai cấp xã hội đồng nhất. Tuy nhiên các
chương trong tập sách “Mặc Tử” không phải do một tay Mặc Tử viết
ra, đó là sự thực. Tác phNm ấy, một mặt có chỗ có thể do học trò của
Mặc Tử ghi chép lại và cũng có thể toàn trước tác của Mặc Tử đều do
sự ghi chép như vậy tập hợp. Về phần này cũng có thể là do những
người đời sau theo phái Mặc Tử sưu tầm lại. Một mặt có thể do phái
Mặc học đời sau biên tập vào, bởi vì giữa tác phNm, những câu văn ở
các chương không những có cách viết, lối hành văn khác nhau mà còn
có sự khác nhau về phần ý thức giai cấp xã hội, thấy rõ sự khác nhau về
thời gian. Song về điểm này đối với chúng ta không quan trọng lắm, vì
chúng ta nghiên cứu học thuyết của Mặc Tử như là một hình thái ý thức
giai cấp của thời đó. 10
Khi nghiên cứu thân thế, sự nghiệp của Mặc Tử chúng ta không thể
bỏ qua việc tìm hiểu thế giới quan của ông. Vì đó là cơ sở nền tảng để
xây dựng lên toàn bộ hệ thống triết học Mặc gia. Thế giới quan của
Mặc Tử cơ bản là duy tâm và hữu thần. Tuy nhiên, Mặc Tử đã bài bác
lại học thuyết “thiên mệnh” và mọi người đều có quyền lợi như nhau
đối với việc thờ cúng quỷ thần, bình đẳng trước quyền lợi về tín
ngưỡng tôn giáo, đó là sự phản ánh nhu cầu đòi quyền bình đẳng xã hội
của giai tầng mà ông đại diện.
Cần nói thêm rằng, thời Mặc Tử sống, Lão giáo cũng phát triển rất
mạnh. Do vậy quan điểm của Mặc Tử không chỉ đối lập với N ho gia mà
còn đối lập với tư tưởng tự nhiên chủ nghĩa, “vô vi” phóng túng của
Đạo gia.
Tư tưởng trung tâm của Mặc Tử – “kiêm ái” sẽ là công cụ hữu hiệu
nhất để chống lại đạo đức N ho gia. Vậy tư tưởng này ra đời như thế
nào?
1.2. Hoàn cảnh ra đời của học thuyết “Kiêm ái”
* Về kinh tế – xã hội
N ăm 771 trước công nguyên Chu Bình Vương lên ngôi đưa xã hội
Trung Quốc bước vào thời kỳ đặc biệt, đó là thời kỳ Xuân Thu. Ở thời
kỳ này, nền kinh tế Trung Quốc đang chuyển từ thời đại đồ đồng sang
thời đại đồ sắt. Tiền tệ đã xuất hiện. Trong xã hội đã hình thành một
tầng lớp thương nhân giàu có và ngày càng có thế lực gây nhiều ảnh
hưởng đối với chính trị đương thời. Chính việc xuất hiện tầng lớp này
đã tạo ra sự thay đổi trong cơ cấu giai cấp xã hội. Từ tầng lớp này dần
dần xuất hiện một loại quý tộc mới với thế lực ngày càng mạnh, tìm
cách leo lên tranh giành quyền lực với tầng lớp quý tộc cũ.

Phần chú giải của Đỗ Anh Thơ

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s