Truyện kiếm hiệp của Đỗ Anh Thơ : Chiếc áo cà sa bỏ rơi bên suối (*)

           (*)  Tác giả lưu ý bạn đọc : Bản thảo truyện dài , đăng thành nhiều kỳ và chưa hoàn chỉnh. Nó sẽ được tu sửa dần trong qua trình post lên mạng. Tới cuối tuần và cuối tháng , nó sẽ được dồn trang từ doanhtho.blogspot,com và đưa sang Docago.wordpress.com                    
                                                                      Tác giả 
                          Chương I : Cô lái đò trên sông Kinh Thày
              Một chiều mùa đông năm 1260 mặt  trời sáp lặn sau núi phía tây sông Kinh Thày . Bầu trời đỏ rực , một dàn seú từ phưong bắc đang bay xuống phương nam tránh rét. Mây đa bị nhuộm đỏ phản chiếu xuống mặt nước như máu trông thật dữ dằn, như báo hiệu một điem không lành
                Bến đã hết khách từ lâu. Cô lái đò định chèo thuyền trở về nhà phía bên kia sông. Nhà cô ở đầu doi bãi làng Trần xá   Cô tên là Nụ. Đúng là một nụ hoa sắp nở. Chiếc yếm nâu như quá hẹp không che hêt bộ ngực căng tròn cũng giông như hai ngọn đồi trên núi Cô Tiên Nằm mà  những đám mây trắng cứ chần chừ như muốn ở lai .
         Mặt cô hình  trái xoan , đôi mắt chim bồ câu sâu lắng , nước da trắng càng lam tăng thêm màu đen chiếc khăn mỏ quạ mà cô đang đội. Hàm răng đen, môi ăn trầu cắn chỉ luôn tươi cừời như gửi gắm sự tin cậy với mọi người.
           Cha mẹ cô đã già, hiếm hoi, cô là con gái đầu lòng. Mãi tới khi cô lên mười mới có em trai , bởi vậy mọi việc trong nhà đều do cô quán xuyến. Cô phải vội về để nấu cơm cho bố mẹ và em ăn.
             Con thuyền của cô đã ra tới gần giữa sông . Trời đã nhập nhoạng tối , thì bỗng có tiếng ồm ồm gọi  dò hớt hải . Cô lưỡng lự nhìn, nhận ra không phải người làng và ngươi miệt Hàm Giang cũng không phải. Cô đinh giả vờ như không nghe tiếng, nhưng rồi lòng cô không đành, cô  quay mũi thuyền .
                Trên bờ là một trung niên to lớn vạm vỡ, mắt xếch lông mày rậm, vai mang tay nải, nói giọng lơ lớ :
–      Cô nương chở giúp tôi sang sông với .
Cô chột dạ , nhưng khách đã nhún một cái, nhảy lên thuyền. Con thuyền chông chênh, oằn xuống.
Khách vội tiến ra mũi thuyền đứng dạng hai chân. Nụ xắn váy bắt đầu chèo ra giữa sông. Chiều mùa đông mà trán cô lâm tấm mồ hôi hột.  Mặt song vắng tanh.
                  Khách là một tên hảo hớn giang hồ phương Bắc , bỗng cất tiếng cừời :
–      Cái nị cô nương xinh quá.
Hắn giật bơi chèo trên tay cô , lấy một cái khăn nhet vào mồm cô rồi vật cô xuống thuyền  .
Nụ ngưi thấy một mùi thơm rồi bất tỉnh.:::
Đan bà con gái như Nụ vốn rất khờ dại lại thương người. Hơn nữa vì lao động trên song nước, nen chiếc váy sồi của cô xắn hơi cao ,  phô cái đùi trắng mập, nên dã  kheu gợi thú tính của Vương Cường, ten giang hồ phương Bác đang có một nhiệm vụ đặc biệt đến vùng này.
      Thỏa mãn dục tính với cô lái đò dã bị hắn đánh thuốc mê , Vương Cường liền đánh một chưởng đánh vỡ mạn thuyền rồi phóng một mũi độc châm lên vú Nụ, sau đó mặc lại váy cho cô cẩn thận rồi  dùng một thế võ phi yến , bay lên bờ.
           Hắn đưng trên bờ nhìn,  con đò từ tư  chìm. Dòng sông Kinh Thày ôm lấy cô gái họ Trần vào long,
   Khoảng nửa canh giờ sau, không thấy con về ông bà Chắt Nụ mới chạy ra bờ song tìm. Họ tìm đến cây mưng mà con gái thường cột thuyền. Họ chỉ thấy một chiec khăn lạ vướng trên mái chèo đang bập bềnh theo  song nước lăn tăn.
Cảm thấy sự chẳng lành, hai vợ chồng cùng cất tiếng gọi :
Nụ ơi, Nụ!
Con ỏ đâu Nụ ơi!
Tiếng gọi khua động những con chó bên này và bên kia sông. Chúng sủa inh ỏi. Nhưng mặt sông tối om không một tiếng đap lai.  Bến song này vốn ít khách, có chục nóc nhà, vài  chạy giặc Mông vẫn chưa  trở về nên rất ai đốt đèn . Họ sợ trôm cướp.
Gào khản cả cổ, ông bà Chắt Nu chỉ biết hời con rồi về nhà . Cả đêm đó ông bà thức trắng , không có một hạt cơm nao vào bụng.
Sáng ra chưa rõ mặt người, họ đã ra lại bờ sông .Đò ở bờ bên kia đã đưa người sang bên này đi chợ. Họ nghe ông bà Chắt kể mới biết tin dữ.  Tuy nhiên, người chở đò chỉ nhính hơn Nụ mấy tuổi, là bạn thân của nhau lại không dám chèo thuyền đi tìm xác.
Họ cứ đứng bên bờ sông mà khóc mà hờ vật vã.  Mãi tới đúng ngọ thì mới có một chiếc đò dọc đi qua phát hiện ra mưm métớ tóc và xác của Nụ nổi  cách đó  mấy tram mét..
Ông bà Chắt vội vàng kéo xác con lên bờ rồi chạy về nhà lấy chiếu và áo tơi che tạm. Một thẻ nhang, bát cơm và quả trứng gà luộc duoc đặt trên đầu ngươi xấu số
 Đám cá mương háu đói đang lượn lờ  quanh chiếc thuyền cũng vừa được kéo lên..
                        Trở lại thời khăc tối qua, sau khi gây án xong, Vương Cường mải miết đi về hướng Đông Triều. Hắn là một tay giang hồ nổi tiếng vùng Giang Nam bên Tầu với biệt hiệu là Độc xà châm diệu thủ , nghĩa là tay quen sủ dụng kim nọc rắn độc , nhưng mới sang Nam bang,  nói tiếng Việt mới được đôi câu, nên hắn cũng phải sợ giáp mặt nhiều người
                        Mãi tới chiều hắn mới dám nghỉ lại một quán cắt tóc. Hắn ra hiệu cho thơ:
                                           Cái nỉ lỉ phá ơ!
                        Ông thợ cắt tóc đang soạn đồ nghề để về , không hiểu., hắn phải chỉ dao cạo rồi chỉ lên đầu;
                                          Sau khi đã được cạo trọc đầu , hắn móc mấy đồng tiền ra trả rồi vội vã khoác tay nải lên đưong đi tiếp.
                                          Người thợ vừa về tới nhà thì xùi bọt mép , ú ớ một câu:
–      Thằng ….khách trú…nó…
rồi ông qua đời
                                  Đêm hôm đó, trời đã khuya, trên chùa Quỳnh Lâm Đông Triều  , sư cụ Tịnh Không vẫn đang ngồi trên bồ đoàn. Sau lưng cụ là chú tiểu Hư Trúc. Họ đang tĩnh tâm , thiền định, quán thong bằng bài kệ Cáo tật thị chúng của Đại sư Mãn Giác:
Xuân khứ bách hoa lạc, Xuân đáo bách hoa khai. Sự trục nhãn tiền quá, Lão tùng đầu thượng lai. Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận, Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.
» a
                                                      Mỗi  câu lấy làm  một nhịp thở.
                                    Thực ra theo tong phái Vô Ngôn Thông ( quán thong không bằng lời ) thì kệ vẫn là hữu ngôn , vẫn có xuân ,có hoa , có khai ( nở)  lạc (  rụng) …Còn có lời là còn tạp niệm,
                                              vẫn chưa quán thong không lời được
                                                                                   Thiên hạ giai tri mỹ vi mỹ , tư ố hĩ ,
                                                             nghĩa là khi mọi người chúng ta thấy nó  là tốt đẹp thì nó đã là xấu rồi  .
                                      Với đầu óc còn non nớt như sư tiểu Hư Trúc thì nếu không dùng lời thì làm sao chú hiểu được sự vi diệu của thuyết Vô Ngôn?
                                                              Chú mới vào chùa được ba năm nay . Tuy nhiên thời gian vẫn còn dài hơn sư thày Hư Chiêu. Hư Chiêu đang kêu đau đầu nằm nghỉ ở nhà trai.
                                                                Hư Trúc lớn lên ở xóm quê này, còn Hư Chiêu thì từ chùa Lang Tài về..
                                                             Ngoài trời tối đen như mực. Vì bài kệ bằng chữ Hán nên sư cụ vừa luyen thiền đinh vừa dạy chũ cho tiểu Hư Trúc . cụ  thúng thắng ho khan.
                                                              Bỗng cụ nghe như có tiếng gió vít một canh thong phía sau thiền viện  . Lập tức hai tay cụ chống xuống bồ đoàn và phi thân ra cửa nhanh như chớp.
                                                             Lẫn trong bong đêm, cụ nhận ra Hư Chiêu và một người mặc áo đen vừa lẩn vào sau gốc cây dứới núi. Cước bộ của họ thật nhanh. Tuy đã già nhưng sư cụ Tịnh Không nhanh cũng không kém họ. Cụ chay đuổi theo..
                                                              Cụ chỉ cần nhún nhẹ là bay vút lên ngọn thông , lấy thế và sức gió của tay rộng của áo cà sa , Viên Chiểu đã có thể bay như một cánh én xuống chân núi, bắt kịp người mặc áo đen, còn Hư Chiêu đi theo hắn thì lủi trốn nơi đau không thấy.
                                                            Người mặc áo đen chính là Dộc xà châm Diệu thủ Vương Cường . Hắn vẫn phi nhanh vun vút không thèm ngoảnh lại mà phóng một mũi tên độc ngược về phía sau. Sư cụ  Tịnh Không van bay là là , chân này chưa tiếp đất thì chân kia cụ dã đạp vào đá hoặc gốc thông bay tiếp theo. Ống tay áo cu gạt ngay mũi tên rơi xuống đất .
                                                          Thuật phi thân của người mặc áo đen  rất cao. Tuy nhiên, do đêts m tối lại không thuộc đường  , nên hắn chưa thể trổ hết tài nghệ phóng cham và tiễn đươc.. Hắn không ngờ  khi vừa đặt chân đến nơi này đã gặp ngay một lão cao thủ.  Anh hùng võ lâm phương bắc vốn chỉ xem võ sư phương nam như là bọn nhóc con mới học võ. Nay hăn thấy một sư cụ phương nam có thể mượn thế cây đi hang trăm trượng không tiếp đất , khiến hắn  không thể xem thường. Hắn đành phải dùng  Hồi đầu ưng trảo một thế võ gia truyền. Hắn đột ngột dừng lại. Sư cụ Tinh Không vọt qua trước mặt hắn. Hắn rút độc châm ra. Bỗng có một tiếng hét to :
                                                                                                         Không được hại thầy ta!
                                                               Tay  khựng lại , hắn cười gằn và phi ngược trở lại phía chùa và mát hút

 

Sư cụ Tịnh Không về ngồi im lặng không nói trước tượng phật ,  cụ nghe tiếng  sư đệ Hư Chiếu đang đập đầu khóc ở sau lưng máu chảy đầm đìa cả trán.  Nhưng Tinh Không vẫn làm ngơ. Lát sau, cụ về trai phòng.
                            Sáng hôm sau cụ dậy thật sớm ra trước sân chùa rồi phi nhanh xuống chân núi. Cụ luyện thế võ mà người áo đen định dùng để ám toán cụ.  Đang chay rất nhanh, cụ đột ngột dừng rồi quay đầu lại , hai đầu gối chùng xuống, lưng cúi khom khom , hai tay vươn ra, bàn tay  khum khum như con chim cắt ở tư thế vồ mồi. Mắt cụ đung đưa nhanh như hai tia chớp. Rồi mười ngón tay cụ chụm lại đánh vào một gốc thông cổ thụ. Cành thông rung bần bật từ gốc lên đến ngọn như vừa chịu một cơn lốc. Sau động tác đó , cụ lại lững thững vừa đi vừa hít thở leo lại lên sân chùa.
                           Cụ luyên khoảng mười lần như thế rồi mới ngừng và ngồi xuống một mô đá . Nhịp thở trầm ổn vẫn như thời trai trẻ .
                            Sư tiểu Hư Trúc đang quét sân chùa còn Hư Chiếu vừa vun gốc và tưới nước cho mấy gốc hoa mậu đơn và ngâu xong đang leo lên gác thỉnh chuông.
                           Ngôi chùa Quỳnh Lâm tuy nhỏ nhưng yên tịnh, không khí thật thanh khiết. Người ta đã  nghe tieng vo vo của đàn ong bay đi hút mật. Dàn cá dưới hòn non bộ
như nghe tiếng hiệu lệnh , đang lượn lờ. Ngay lúc đó tiểu Hư Trúc mang ra một rá cơm thừa đổ xuống nước và bầy cá quẫy mạnh tranh nhau cướp ăn  .
                            Sư cụ Tịnh Không vội vàng vào trước tam bảo tụng kịnh gõ mõ.

Hư Chiếu và Hư Trúc ngồi phía sau im lặng Tung xong bài kinh buổi sáng rồi nhưng sư cu Tịnh Không vẫn ngồi yên trên bồ đoàn.

                                 Đầu óc cụ nghĩ miên man. Trước hết là nghĩ về Hư Chiếu. Đồ đệ này  vừa từ Lang Tài sang xin cụ dung nạp làm đệ tử. Sáng dạ, chịu khó nên cụ rất mến. Tuy nhiên     sư thường xin phép cụ đi giao du vạn cảnh các chùa quanh Yên tử nhiều lần. Sư đi một mình. Cụ Tịnh Không thường đặt dấu hỏi phải chăng là Hư Chiếu vì thất tình hay phiền muộn gì mà cắt tóc đi tu ?
                                Đêm qua sao đệ tử này lại lén lút gặp người mặc áo đen và khi hắn định ám toàn thì  đã hét lên để cứu mình.
                               Người mặc áo đen rõ ràng là từ Tầu mới sang. Hắn là người của  Nam Tống chạy sang ta hay là thích khách của quân Thát ? Với Hư Chiếu có mối quan hệ gì ?
                             Cụ vừa nghĩ đến đó thì ngoài tam quan có tiếng đông người ồin ào. Tiểu Hư Trúc ra mở cổng chùa. Té ra là một doàn thương lái , lỡ độ đường , xin tá túc.
Khoảng tất cả 16 người, có đàn ông đàn bà lẫn trẻ con. Họ ngồi bệt xuống sân chùa nói chuyện xi la xi lộ . Có một người biết nói tiếng Việt . Người này trình bày với sư cụ là họ  gồm bốn gia đình người Phúc Kiến  chạy giắc Thát vượt biển sang. Lênh đênh trên biển nhiều ngày hết thức ăn nước uống cuối cùng thuyền họ trôi dạt đến nơi này.
                           Sau khi nghe  họ nói tình cảnh, sẵn lòng từ bị , sư cụ liền truyền Hư Chiếu đưa họ xuống một khoảng đất đồi dưới chùa.  Ở đó có mấy gian nhà xưa nay bỏ trống.
                         Họ được cấp phát một ít thức ăn dự trử của nhà chùa. Thế là ngay ngày hôm sau họ thành một xóm nhỏ .

                      Một tuần trăng sau họ đã be bờ khai phá trồng được hơn một mẫu lúa ở gần suối dứới chân núi. Bên kia suối là một xóm người Việt. Trẻ con hai xóm lúc thân thiện vẫn tụ tập dưới sân chùa , chơi với  nhau do sư tiểu Hư Trúc bày trò cúng bái. Nhưng phần lớn là chúng chọc ghẹo nhau. Bát đầu là trẻ Việt ỷ thê đông , đầu têu
                            từ thằng Cậy. Nó đu trên cành cây lộc vừng rồi hát to :
                                       …Ngổ pên tầu là ngố mới sang
                                            Sang đất nam Việt, kiếm ăn… xực phàn…
                                                Và thế là Lú Tầu cửi trần trùng trục đuỏi theo. Cậy liền nhảy xuống nước bơi sang bờ suối bên kia , nhăn răng ra cười. Khác với lũ nhóc, người lớn Tầu và Việt như biết đoàn kết và nhường nhịn nhau hơn. Bốn gia đình người Tầu sang lánh nạn, vơ chồng gia đình thứ nhất là lão Đại , còn được gọi là Ly Xu Xai( Lý Tú Tài) , vợ chồng nhà thứ hai là Lão Nhị, vợ chồng nhà thứ ba , thứ tư là A Tam , A Tứ.  Mỗi gia đình đều có một trai một gái.  Thằng Lú như đã kể là con LyXuXai.. Dàn bà con gái thường quanh quẩn trong nhà, hết khâu vá áo quần lại may giầy vải. Thỉnh thoảng họ đi lên mạn biên giới , đưa về lúc mấy bao bột mì , lúc thì kê mà họ đổi được từ munhi ( mộc nhĩ) với người Tầu phía bên kia ;

                                                  Dàn ông họ thường đi cả đoàn với nhau , lên rừng khai thác luồng về  và đang học theo người Việt làm cái cọn để guồng nước tưới cho  ruộng lúa.
Trong đế giầy vải của LyXũXai có khâu một cái bản đồ vẽ trên da dê , chữ nhỏ ly ti.
                                                   LyXuXai thường đúng giờ ngọ lại đo đo vạch vạch bóng ngọn núi cao trước mặt. Lão Nhị, A Tam, A Tứ  thì vác dao đi đốn luồng . Hành tung của họ rất bí mật. Tuy vây , chỉ sau hai tuần trăng, đã có hai người bám theo họ. Hai người này không ai khác là  Độc xà diệu thủ châm Vương Cường mặc áo đen và nhà sư Hư Chiếu .
                           Phát hiện ra hai dấu chân  người lạ , bọn Lão Nhị, A Tam , A Tứ thường vưà đốn luồng vừa cảnh giới ba mặt cho Ly XuXai tiếp tục đo đo vẽ vẽ rất khẩn trương.
                          Buổi chiều ngày thứ ba thì họ đã phát hiện ra một cái cửa hang được che khuất bởi mấy cây dẻ rừng và những bụi dây leo chạc chiu.
                           A Tứ ở lại trông coi, còn ba nguoi vội vã vác luồng về xóm.
                           Bóng mặt trời vừa khuất sau núi , Hu Chiếu xuất hiện. A Tứ trông thấy người lạ vội vàng rượt đuổi theo . Hư Chiếu chạy như bay xuống chân núi..  Ngay tức khắc , Độc xà châm diệu thủ Vương Cường từ chỗ nấp chui ngay vào hang. Khi A Tứ phát hiện ra có một cành cây trước cửa hang bị gãy thì cũng chính là lúc hắn  thấy nhói một cái như kiến đổt và ngã vật xuống. Hư Chiếu quay lại thấy A Tư đã tắt thở , đứng như trời trồng miệng không ngừng tụng kinh. Một lúc sau sư thấy Vương cường từ trong hang bò ra . Tay và cổ của nó quấn đầy rắn nào là cạp nong , hổ mang, hổ lửa Hắn cười hì hì trông thật thỏa mãn

                          Hắn đứng chỉ cho Hư Chiếu đào một cái hố sâu ở phía trong hang rồi vùi xác A Tứ xuông.
                             Xa xa dưới chân núi có hai ánh đuốc chập chờn và tiếng người gọi . Đó là tiếng sư cụ Tịnh Không và tiểu Hư Chiêu. Gọi chán không nghe thấy tiếng thưa , hai người quay lại về chùa.
                            Chim cú đi ăn đêm thỉnh thoảng lại kêu một tiếng như lợn bị chọc tiết , nghe thật rợn người;
                              Hư Chiếu và Vương Cường muốn tiến sau hơn vào trong hang , nhưng cửa hang hẹp vừa đủ cho một người bò vào .  Vào sâu hơn họ phát hiện ra một cái hang khá rộng.  Thạch nhũ. rêu và đá trơn nhẫy . Đêm tối mịt mùng.
                              Vương Cường chọn  một hòn đá rồi lăn ra ngủ, mặc cho rắn độc bò xung quanh còn Hư Chiếu thì ngồi vật vờ bó gối gần cửa hang chờ trời sáng Tờ mờ sáng hôm sau Độc xà châm diệu thủ Vương Cường bắt Hư Chiếu đi dò khắp hang còn hắn thì loay hoai xép những hòn đá làm thành môt cái hang nhỏ rồi thả rắn vào đó. Hắn rất thạo nghề nuôi rắn độc lấy nọc để làm tên . kim độc giết người.

                              Hắn theo sau Hư Chiếu vừa quan sát địa thế hang . Hắn vồ được mấy con nhái liền sai Hư Chiếu ra ngoài hang nhặt củi khô rồi lấy đá lửa nướng một con nhái bự làm thức nhắm với bình rượu mang theo và một củ sắn lùi. Mấy con nhái nhỏ hơn , hắn vứt cho lũ rắn
                               Bỗng hắn nói :
–      Cái hang này hảo lớ. Ngộ sẽ tá túc ở đây.  Hàng tuần nỉ tiếp tế thức ăn lên cho ngổ. Nếu sai hẹn hoặc để lộ hãy  coi chứng  . Nhưng mũi kim này không tha cho nỉ đâu. Vừa nói hắn vừa hua tay , hai ba mũi kim châm sáng loáng trước mặt Hư Chiếu.
–      Thôi đi về chùa đi.
Hư Chiếu chắp tay niệm Phất. Đi mấy bước đến cửa hang rồi nằm xuông trườn ra ngoài.
Như được giải thoát , trống ngực sư đập thình thịch, áo cà sa lấm lem những bùn đất. Sư chon một chỗ suối vắng tắm rửa qua loa  vứt  bộ cà sa bẩn trên bờ rồi lấy trong tay nải ra bộ cà sa mới,  mặc vội và tất tả men theo đường núi của người đi rừng hướng về cửa sông Kinh Thày    ,
.                   Nha su mai mê bước đi như người vô định. Tới xế trưa, dòng sông hiện ra và bến đò nghèo thôn Trần xá vẫn vắng teo. Hư Chiêu gọi đò . Một bà già lưng đã còng nét mặt tiều tụy từ trong túp lều xiêu vẹo ngó cổ ra. Khi thấy sư thầy cần qua sông  , thì vôi vàng xuống bến đẩy thuyền ra.
                 Hư Chiếu như người ngủ mê , sực tỉnh liền hỏi :
–      Cô lái đò ở bến này đi lấy chồng rồi hả cụ ?
Nghe nói vậy cụ òa lên khóc . Khóc chán rồi cụ mới nói trong tiếng nấc :
–      Nó mất rồi thày ơi !
Rồi cụ hời to :
 Nụ ơi , con ở đâu không về để chở khách này con !
Hư Chiếu nghe nói , lặng người như chết đứng . Hai năm trước, sư đi qua bến này, Cô lái đò có gương mặt trái xoan, chiếc khăn đen mỏ quạ ấy mà ai đã từng gặp một lần không thể nào quên ấy, đưa thày qua sông.
    Cô cứ nhìn Hư Chiếu như muốn hỏi : Sư thày thất tình sao mà phải đi tu hở thày? Còn Hư Chiếu thì đột nhiên liếc nhìn cô suýt nữa thì cửi  vứt ngay chiếc áo cà sa đi rồi quỳ xuống chân cô mà xin cô hãy thương lấy một đưa trẻ mồ côi không nhà không cửa như thầy.
               Nhưng rồi vì mới phát nguyện dưới đôi mắt từ bi của Phật, Hư Chiếu đành lưu luyến nhìn và chia tay cô.     .
Nay  Hư Chiếu nghe cụ già- chính là bà chắt Nụ , kể đến cái chết  của con , tư nhiên Hư Chieu như  bao nhiêu cái dồn nén trong long , bật khóc to lên,
                         Sư theo bà mẹ tới mộ người xấu số. Bà chắt Nụ nói cho Hư Chiếu nghe cặn kẽ chuyện một chiều chập choạng mùa đông , Nụ chở đò cho một khách vang lai rồi chết trôi trên bến sông mà cô thuộc lòng như trong bàn tay này. Hư Chiếu nhớ lại  cái chết của  Nụ,  bác thơ cát tóc với sự xuất hiện của Vương Cường…. Rồi Hư Chiếu đấm ngực thình thịch  vật vã ra đất vừa niệm Phật vừa nghiến răng ken két;
                                           Chính hắn đã giết Nụ. Ta thề phải giết hắn
                                           Đoạn Hư Chiếu mở tay nải lấy ra mấy đồng tiền đưa cho mẹ Nụ . Thầy chấp tay vái bà rồi không sang đò nữa chạy như điên ngược trở lại đường cũ
                                             Hư Chiếu vừa chạy vừa gào to như người điên:  :
                                   Ta sẽ  trả thù này cho  nàng, Nụ  ơi!,
Hư Chiếu có tên là cu Tèo người quê ở Lang Tài Bắc Ninh.. Mồ côi mẹ từ thuở mới lọt lòng , bố phải bế đi sang xin sữa hàng xóm. Mấy năm sau bố lấy vợ kế. Dì  ghẻ quá cay nghiệt lại hay xúc xiểm chồng nên Tèo bị bố đánh nhiều khi vô cớ. Bởi vậy Tèo thường bỏ đi lang thang, đêm ngủ ở chùa không về. Sư cụ Viên Chiếu trụ trì chùa Lang Tài thương hại đến xin cho Tèo về ở hẳn chuà . Em trở thành chú tiểu từ đó.  Năm hai mươi tuổi Tèo  lên sư thày được ban pháp danh là Hư Chiếu   Khi sắp mât  sư cụ thấy Hư Chiếu
Phật tính còn thấp nên  mới gửi Hư Chiếu sang chùa Quỳnh Lâm cho sư cụ Tịnh Không.  Phương pháp tu của Tịnh Không là Vô Ngôn , cả ngày không nói với đệ tử một lời, bắt phải tự suy ngẫm nên Hư Chiếu ngày càng nản.  Gặp Độc xà châm diệu thủ Vương Cường rủ rê,  Hư Chiếu thường bỏ chùa cùng hắn đi tìm một cái hang do một tên thái thú đời Đương cất dâu vàng. Vương Cường cũng chỉ nghe phong thanh cái hang này gần chùa Quynh Lâm nhưng không có siw đồ.
                               Truyện đang diễn biến tới đó  thì xẩy ra chuyện sư cụ Tinh Không phát hiện và truy đuổi Vương Cường. Tiếp theo đến chuyện Vương Cường giel A Tư vào ẩn trong hang và khống chế Hư Chiếu.   . . .
                                 Hư Chiếu vứt áo cà sa lại bên suối rồi định trốn về Lang Tài.
                                 Tới bến đò Trần Xá , Hư Chiếu nhận ra bộ mặt thật kẻ ám toán Nụ , cô gái mà anh yêu thương, có ý định hoàn tục  và lấy làm vợ .
                                 :
.
                                                                 ( kỳ sau đăng tiếp :  Chương III : Tấm bản đồ bằng da dê  )

ĐAT

.

                                                                 ( kỳ sau tiếp )

ĐAT

:

.

.

                                                                 ( kỳ sau tiếp )

ĐAT

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s