Archive | Tháng Mười Một 2013

Nguyen Chan, TMCS .. : Dich bài thuyền đi của Huy Cận sang Hán Anh Pháp

:

THUYỀN ĐI
HUY CẬN
Trăng lên trong lúc đang chiều
Gió về trong lúc ngọn triều mới lên
Thuyền đi, sông nước ưu phiền
Buồm treo ráng đỏ giong miền viễn khơi
Sang đêm thuyền đã xa vời
Người ra cửa biển nghe hơi lạnh buồn
Canh khuya tạnh vắng bên cồn
Trăng phơi đầu bãi, nước dồn mênh mang
Thuyền người đi một tuần trăng
Sầu ta theo nước, tràng giang lững lờ
Tiễn đưa đôi nuối đợi chờ
Trông nhau bữa ấy, bây giờ nhớ nhau
舟 行
煇 近
月 出 斜 陽 還 直 射
風 吹 時 候 水 潮 生
舟 行 江 水 憂 燔 起
帆 反 紅 霞 遠 海 迎
夜 間 舟 也 懸 殊 出
人 出 海 門 感 冷 愁
夜 半 淺 洲 旁 靜 悄
月 光 灘 照 溢 全 丟
已 別 一  旬 月 客 舟
我 愁 隨 水 流 悠 悠
餞 君 痛 惜 猶 常 待
相 看 當 時 現 在 思
CHU HÀNH
HUY CẬN
Nguyệt xuất tà dương hài trực xạ
Phong xuy thời hậu thủy triều sinh
Chu hành giang thủy ưu phiền khởi
Phàm phản hồng hà viễn hải nghinh
Dạ gian chu dã huyền thù xuất
Nhân xuất hải môn cảm lãnh sầu
Dạ bán thiển châu bàng tịnh tiễu
Nguyệt quang than chiếu dật toàn đâu
Dĩ biệt nhất tuần nguyệt khách chu
Ngã sầu tùy thủy lưu du du
Tiễn quân thống tích do thường đãi
Tương khán đương thời hiện tại tư.
DÉPART DE LA BARQUE
HUY CAN
La lune a monté à la tombée de la nuit
Le vent soufflait au débutt de la marée montante
Partit la barque, fleuve et eaux emplis de soucis
Elle était au large aux voiles teintées de nues
rougissantes
Tomba la nuit, la barque était déjà très éloignée
L’homme au rivage dans la froidure s’est attristé
Nuitamment règnait sur la dune le silence
La lune éclairait le javeau, tout alentour immense
La barque s’en est allée un mois déjà
Ma tristesse suit les eaux qui coulent lentement
Je te reconduisis ne t’oubliant et t’attendant
Nous nous regardions et toujours je pense à toi
 
ОTЪЕЗД ЛОДКИ
ГИ КАН
Вечером поднимался луна
Дул ветерок в начале прилива
Лодка уходила, грустили все воды
Краснелся парус заревом заката
До ночи лодка была дaлека
Грустя, человек на берегу холодал
Позно ночью вблизи дюны была тишина
Воды бескрайние, наносы светила луна
Лодка эта уже полный месяц ушла
Моя печаль медленно течёт с водой реки
Провожал  друга его жалею и ожидаю
Смотрелись тогда, тоскуем друг по другу
NGUYỄN CHÂN 18.11.2013
LA BARQUE VOGUE
HUY CAN
La lune s’élève au moment crépusculaire
Le vent souffle au moment de la marée montante
La barque glisse sur les ondes emplies de soucis
La voile, reflétant l’aura dorée du soir
Disparait lentement vers l’horizon lointain
Passe la nuit, la barque s’est déjà très éloignée
Celui qui navigue vers l’embouchure frissonne
La lune éclaire la dune calme et déserte
La marée monte et s’étend vers l’infini…
Ta barque s’en est allée un mois déjà
Ma tristesse suit le courant nonchalamment
Te disant adieu, toujours je t’attends
A ce moment-là, nous nous regardions tristement
Et maintenant, nous nous manquons tellement
Tr. TRỊNH PHÚC NGUYÊN
LA  BARQUE  S’EN   VA
HUY CAN
La lune s’élève  juste à la tombée de la nuit.
Le vent revient au moment de la marée montante.
La barque part, le fleuve reste avec ses ennuis,
La voile s’en va au large, gonflée dans le halo rougeoyant.
Passe la nuit. La barque est déjà bien éloignée.
L’homme  à l’embouchure ressent toute la froidure
mélancolique.
La nuit large et paisible s’étend sur les dunes esseulées,
La lune s’étale sur les grèves désertiques
Et l’eau afflue dans son immensité.
Ta barque est partie depuis bientôt un mois.
Ma tristesse suit le cours du grand fleuve nonchalant.
À l’adieu, on se sont échangé la promesse de se revoir,
Se quitter ce jour-là, comme on se manquent
maintenant!
PHAN HOÀNG MẠNH
A BOAT’s DEPARTURE
HUY CAN
At sunset, the moon rose
The wind blew over the rising tide
And the boat glided over the waves filled with worry
On the horizon, towards the sea, we could see only
A sail, reflecting the purple aura, disappear slowly
At first night, the boat was so far from here
At the river’s mouth were you cold and sad, my dear?
Upon the desert dune, the moon shone silently.
The tide rose and extended to the infinity…
Your boat has gone already one month
My sadness has followed the indifferent current
After your saying good bye till the  moment
I have waited for you day and night
We both looked at each other that time
So that now, our longing for each other would never subside
Translation by TMCS

Trần Văn Kinh: Rồi cũng biết.

 

 (I)
Rồi cũng biết tai mình không để lọt
Mọi lời khuyên, bài học… Kệ người ta!
Chỉ để lọt những lời ngon ngọt
Những  vỗ về, ton hót, ngợi ca…
(II)
Rồi cũng biết mắt mình nhắm tịt
Chẳng ngó ngàng gì sau trước, đông tây
Quanh quẩn mãi những giáo điều đã mục
Những dấu xe rêu mọc đã lâu ngày
(III)
Rồi cũng biết cái đầu mình cớm nắng
Khi cổ mình khiu khẳng dài nghêu
Rồi cũng biết tim mình đau dai dẳng
Khi thân mình, năm tháng bể dâu.
(IV)
Rồi cũng biết
Tạo hóa ngày xưa chơi xấu
Chỉ cho mình chín khiếu (*) như nhau
Chẳng hơn gì cái lũ ngựa trâu
Còn cái khiếu :  “…thất phu hữu trách” (**)
Của Con Người
Tạo hóa vứt đi đâu ?
——
(*)Con người và con vật đều có Chín khiếu : 7 khiếu ở trên là hai mắt, hai tai, hai mũi, miệng và 2 khiếu ở dưới là lỗ đại tiện và tiểu tiện.
(**) Người xưa nói: “ Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”: Việc thịnh suy hay mất còn của quốc gia, kẻ thất phu cũng có trách nhiệm.

Đỗ Anh Thơ : Truyện kiếm hiệp : Chiếc áo cà sa bỏ rơi bên suối : Chương III : Tấm bản đồ da dê

 

                                               Tình yêu thầm  kín trong nhà tu hành bât đắc dĩ tan thành mây khói .   Hư Chiêu đành trở lại chùa Quỳnh Lâm sám hối trước tượng phật. Sư cụ Tịnh Không không hé răng truy vấn một lời và cụ  xua tay mỗi khi Hư Chiếu muốn giải bày lỗi lầm với cụ.
                                                Y hẹn ngày tiếp tế cho Độc xà châm diệu thủ, Hư Chiếu mang lên hang một nải chuối , oản , gạo nếp và gạo tẻ, tương….Hư Chiếu ở lại ăn cơm với Vương Cưong để nghĩ cách đâu độc. Tuy nhiên, hắn rất cảnh giác. Mọi thức ăn chay  hắn đều để Hư Chiếu ăn trước.. Còn những món khác như rắn, ếch …thì hắn đã biết Hư Chiếu kiêng sát sinh nên hắn tự làm lấy.
                                                 Vương Cường bảo cho Hư Chiếu biết  Lyxuxai, Lão Nhị và A Tam  đã phát hiện ra hắn ở trong hang. Té ra, Vương Cường cùng nhóm đi tìm vàng với Lyxuxai, được Lyxuxai cử đi tiền trạm.
                                                 Sắn máu giang hồ tham lam, hắn phản lại Lyxuxai và dự định rủ Hư Chiếu hợp sức cùng hắn. Sau khi tìm được vàng sẽ tìm cách thủ tiêu nhà sư này.
Tuy nhiên, bản đồ lại nắm trong tay Lyxuxai nên đã gần một tuần qua, hắn chỉ quanh quẩn ở cái hang rộng ở ngoài , tìm mài không thấy một khe hở , vết nứt nào để đi sâu vào trong.
Thế nhưng, nghe tiếng dơi kêu chít chít, tiếng nước róc rách thì hắn đoan chắc đây chỉ mới là ngoài cửa hang.Bởi vây, hắn bắt Hư Chiếu lần sau phải mua lên cho hắn các thứ như búa chim, đục đá…để hắn đi tìm ra phía ngoài rộng hơn.

                                                 Lại nói về nhóm Lyxuxai. Sau khi biết A Tứ mất tích , Lyxuxai biết cửa hang này đã bị lộ, chúng tập trung vào việc khai thác luồng buông về làm cọn guồng  để tưới cho lua. Chúng làm ăn chăm chỉ khiến sư cụ Tịnh Không cũng phải khen.

Lyxuxai còn chặt về rất nhiều ống sậy. Hắn làm mây cây tiêu thổi bài Lưu thủy cho cụ nghe. Cụ khen nức nở.

Đêm khuya hắn ghép nối các ống , gắn xi lại cẩn thận, làm ống thở rồi lặn xuống suối một mình. Thật cần thiết lắm thì hắn mới cùng con là Lú Tầu cùng lặn như tập bơi lăn cho con. Hắn bắt dầu cảnh giác với đồng bọn.

Thằng Lú Tầu bơi dọc con suối , trên lưng đeo một ống sậy . Bố nó, Lyxuxai lặn ở dưới thỉnh thoảng lại ngoi lên thở. Chỗ nào cần lăn sâu , lão ngậm lấy đầu kia của ống. Cuối cùng lão tìm ra cửa hang ngầm ở dưới nước  . Biết rất nguy hiểm nhưng nghĩ đến vàng , lão manh dan chui vào một mình. Hang khá sâu và dốc , lão lặn cho tới khi suýt ngạt thở thì bất ngờ thấy mình nổi lên ở trong hang. Lão nằm thở một lúc rất lâu rồi đứng dậy , men theo dốc đá đi vào. Đi chừng một trăm bước , lão phát hiện ra một bộ xương với rất nhiều những hòn đá lạ. to nhỏ khác nhau xếp theo quẻ đại quá. Lão cẩn thận vượt qua rồi tới những hòn đá bày trận đồ tiểu quá , trận đồ quẻ bĩ , cuối cùng đến những hòn đá xếp theo quẻ thái. Một con rắn hổ mang chúa ngóc đầu dậy phun nọc phì phì. Lão bình tĩnh lấy dao chém đầu rắn, hút cạn máu nó , phanh bụng nuốt gọn quả tim đang đâp của rắn. Lập tức máu trong người lão bừng bừng, sực mạnh như tăng lên gấp bội . Lão tiến lên ba bước , rẽ trái bảy bươc rồi lùi lai hai bước   , lão đụng ngay một vách đá chắn ngang. Lão giơ tay ra đẩy , hòn đá   xoay đi 180 độ ,lão len vao . Cửa hang lien đóng lại.

Dui mắt, định thần , lão thây trước mắt mình là môt cái hang rất rông. Đâu đó như có  thầm thì tiếng người .

Đó chính là tiếng nói của Hư Chiêu và Vương Cường ở hang bên kia vọng lại. Lão cười gằn  và buông một tiếng chửi :

–      Tiu tha ma .

Tiếp theo hai tay lão bắt quyết , chân bước theo nhịp như múa, lúc tiến lúc lùi lúc rẽ trái , lúc qua phải., miệng lẩm bẩm : y, ân , xan xư….và cuối cùng lão lại đụng tới một vách đá khác.

Miệng niêm  thần chú , tay lão đưa tay đẩy …và cánh cửa thứ hai mơ ra . Trước mắt lão là một cái hang rộng màu vàng chóe . Từng thỏi vàng xếp chồng lên nhau . Có chỗ thành ngọn núi , có chỗ thành khe suối long lanh ánh bạc.

Lão biết nước con suối này là  thủy ngân và các độc tố khác nên không dám đụng tới một thỏi vàng nào.

Lão lại tiếp tục bước tiến bước lùi và đếm và gặp ngay xác một cô gái áo quần hoa sặc sỡ .Sau một lúc kinh sợ hoảng  hồn , lão từ từ dùng hai tay nâng đầu cô gái .Lập tức áo quần trên người cô mũn ra . Một bộ xương trắng hếu, hai hốc mắt nhìn lão , nhăn răng ra cười.

Lão lấy được một miếng da dê chi chit chữ rồi sa sẩm mặt mày và ngã  bất tỉnh

   Khoảng một khắc sau, lão tỉnh dậy, lão mở miếng da dê vừa lấy đươc ở dưới đầu xác cô gái ra.  Lão đọc được rất nhiều hình vẽ khác nhau . Đầu tiên  là   hình một bộ xương người . Tiếp theo là hình đầu lâu với các xương ống tay, ống chân được xếp thành các đồ hình khác nhau. Nhận ra hình  chỉ dẫn , lão chấp tay vái bộ xương rồi dỡ ra sắp xếp . Trước hết, lão xếp chữ   Đường  ( 唐) , rồi lât sang trang sau , xếp chữ Đại ( 代  ) . Cứ lần lượt như thế , lão xếp được chư Lý (李)  rồi chữ chủ ( 主 ) chữ Nhân ( 人)  chữ Hậu ( 後 ) chữ Duệ( 睿)  cuối cùng là hai chữ Diện (  面) và  chữ Kiến ( 見) .
                                  Lập tức , ở một góc hang sâu thẳm , phát ra  những tiếng khoc ai oán . Tiếng khóc nổi lên  và đồng thời trên đầu nguồn con suối bạc , tuôn trào xuong một dòng máu đỏ. Nó đẩy lui dần dần nước suối bạc. Nước thuy ngân trên suối bạc rút cạn khô.  Một canh giờ sau , con suối mà có vô vàn những thỏi vàng xếp trên bờ đó , biến thành những vàng và máu.
                                   Tiếng khóc ai oán trong hang sâu vang xa , đập vào tai Độc xà châm diệu thủ Vương Cường và Hư Chiêu ở bên cạnh . Độc xà châm diệu thủ Vương Cường dán mắt vào một lỗ khe đá mà hắn vừa đục đươc mấy hôm nay, hăn nhìn thấy cảnh tương Lyxuxai  đang ngồi trước một núi vàng lẫn máu.
                                    Hăn tức tối lấy ra một chiếc châm độc , đặt vào khe đá và thổi vù một tiếng bay sang đâu LyXuXai .
                                                                                                                                            (Còn nữa)
                                                            ĐTA

Phạm Đình Hổ: Thanh Ngọc huynh tống biệt ( Nguyễn Chân dịch ra Việt- Pháp – Nga

青 玉 兄 來 訪 送 別 之 作
范 廷 琥
握 手 與 君 別
悠 悠 心 自 傷
六 年 客 湖 海
雲 樹 空 蒼 蒼
                 Phiên âm :
THANH NGỌC HUYNH LAI PHỎNG
TỐNG BIỆT CHI TÁC
PHẠM ĐÌNH HỔ
Ác thủ dữ quân biệt
Du du tâm tự thương
Lục niên khách hồ hải
Vân thụ không thương thương (*).
                Dịch nghĩa :
ANH THANH NGỌC LẠI THĂM
LÀM THƠ TIỄN BIỆT
PHẠM ĐÌNH HỔ
Cầm tay anh  từ biệt
Lòng man mác, tự thấy thương mình
Sáu năm trời ở nơi hồ hải
Tình bạn bè mãi xanh xanh
                    ——————————
                    (*) Vân thụ : Đám mây và hàng cây. Thể rút gọn của cum từ
                    “Mộ vân xuân thụ” nhớ nhau, từ thơ Đỗ Phủ nhớ Lí Bạch : Vị
                     bắc xuân thiên thụ/ Giang nam nhật mộ vân (Bên này, phía bắc
                     sông Vị thì cây trong cảnh mùa xuân/Bên kia thì mây trong
                     cảnh chiều tà).
THƠ TIỄN ANH THANH NGỌC
KHI ANH LẠI THĂM
PHẠM ĐÌNH HỔ
Cầm tay từ biệt bạn lòng
Sáu năm đây đó long đong thương mình
Chỉ mong tình bạn mãi xanh!
Cầm tay từ biệt bạn
Lòng vô hạn thương mình
Sáu năm sống lênh đênh
Tình bạn xanh mãi mãi.
ECRIT QUAND THANH NGOC VIENT
FAIRE SES ADIEUX
PHAM DINH HO
Tenant ta main quand tu viens faire adieux
Je me sens moi-même si pitoyable
Durant six ans je reste aventurieux
Que notre amitié soit inébranlable!
ТХАНЬ НГОК ПРИШЁЛ ПРОСТИТЬСЯ
ФАМ ДИНЬ ХО
Держа руку друга приходящего проститься
Много жалею самого себя
Шесть лет к другим берегам прибился
Пусть наша дружба вечно продлится.
NGUYỄN CHÂN 30.07.2013

Phạm Đình Hổ: Thanh Ngọc huynh lai phỏng tống biệt ( Nguyễn Chân dịch ra Việt- Pháp – Nga

青 玉 兄 來 訪 送 別 之 作

THƠ TIỄN ANH THANH NGỌC

范 廷 琥

握 手 與 君 別

悠 悠 心 自 傷

六 年 客 湖 海

雲 樹 空 蒼 蒼

KHI ANH LẠI THĂM

PHẠM ĐÌNH HỔ

Cầm tay từ biệt bạn lòng

Sáu năm đây đó long đong thương mình

Chỉ mong tình bạn mãi xanh!

Phiên âm :

THANH NGỌC HUYNH LAI PHỎNG

Cầm tay từ biệt bạn

Lòng vô hạn thương mình

Sáu năm sống lênh đênh

Tình bạn xanh mãi mãi.

TỐNG BIỆT CHI TÁC

Ác thủ dữ quân biệt

Du du tâm tự thương

Lục niên khách hồ hải

Vân thụ không thương thương (*).

PHẠM ĐÌNH HỔ

ECRIT QUAND THANH NGOC VIENT

FAIRE SES ADIEUX

PHAM DINH HO

Dịch nghĩa :

ANH THANH NGỌC LẠI THĂM

LÀM THƠ TIỄN BIỆT

Cầm tay anh từ biệt

Lòng man mác, tự thấy thương mình

Sáu năm trời ở nơi hồ hải

Tình bạn bè mãi xanh xanh

PHẠM ĐÌNH HỔ

——————————

(*) Vân thụ : Đám mây và hàng cây. Thể rút gọn của cum từ

“Mộ vân xuân thụ” nhớ nhau, từ thơ Đỗ Phủ nhớ Lí Bạch : Vị

bắc xuân thiên thụ/ Giang nam nhật mộ vân (Bên này, phía bắc

sông Vị thì cây trong cảnh mùa xuân/Bên kia thì mây trong

Tenant ta main quand tu viens faire adieux

Je me sens moi-même si pitoyable

Durant six ans je reste aventurieux

Que notre amitié soit inébranlable!

ТХАНЬ НГОК ПРИШЁЛ ПРОСТИТЬСЯ

Держа руку друга приходящего проститься

Шесть лет к другим берегам прибился

Пусть наша дружба вечно продлится.

NGUYỄN CHÂN 30.07.2013

ФАМ ДИНЬ ХО

Много жалею самого себя

Phạm Đình Hổ : Vô đề ( Nguyễn Chân dịch sang tiếng Việt- Pháp – Nga )

無 題
范 廷 琥
年 來 憔 悴 貧 兼 病
膏 沐 無 心 髮 欲 絲
何 事 紅 樓 脂 粉 侶
相 逢 猶 自 道 蛾 眉
               Phiên âm :
VÔ ĐỀ
PHẠM ĐÌNH HỔ
Niên lai tiều tụy bần kiêm bệnh
Cao mộc vô tâm phát dục ti
Hà sự hồng lâu chi phấn lữ
Tương phùng do tự đạo nga mi.
               Dịch nghĩa :
KHÔNG ĐỀ
PHẠM ĐÌNH HỔ
Năm lại đây, thật tiều tụy, vừa nghèo lại vừa bệnh
Chẳng để ý tới dầu bôi tóc, tóc rối thành tơ
Việc gì mà bạn son phấn ở lầu hồng
Gặp nhau còn tự khen là mày ngài.
KHÔNG ĐỀ
PHẠM ĐÌNH HỔ
Gần đây tiều tụy, ốm đau
Không chăm chải tóc, tóc nhàu như tơ
Lầu hồng với bạn còn đua
Tự khen hình dáng bây giờ vẫn xuân.
Gần đây tiều tụy, nghèo thêm bệnh
Đầu tóc không chăm cứ rối bời
Với bạn lầu hồng khi gặp mặt
Tự khen hình dáng vẫn xinh tươi!
NON INTITULÉ
PHAM DINH HO
 On s’est délabré, pauvre et maladif récemment
Les cheveux non soignés deviennent ébouriffés
Face aux copines dans les plaisirs, tout malgré
On se vante d’être encore si ravissant.
БЕЗ ТЕМЫ
ФАМ ДИНЬ ХО
Недавно я стал бедным и больным
Волосы не позабоченные взлохмачены
Перед подругами на наслаждении
Хвастаюсь что ещё очарователен.
NGUYỄN CHÂN 30.07.2013