Archive | Tháng Hai 2014

Đỗ Anh Thơ : Nhớ nhớ quên quên tiếng Nghi Lộc ( V )

 

                 Nếu không có trí nhớ tuyệt  vời của bác Chân gợi lại thì  Docago không bao giờ còn nhớ tới từ “ nhôông “ ( nghĩa là chông) được nữa.
                  Biến hoặc chuyển âm từ “con gái” thành “con gấy” , “gai” thành “gây” hoặc ngược lại cũng dễ hiểu, vì đó là do người Nghi lộc không uốn lưỡi . Nhưng Docago thắc mắc mãi tại sao người Nghi Lộc lại gọi “chồng” là ‘”nhôông”  tức là âm ch <-> nh?
                  Ta còn gặp  “ chơi” thành “nhởi” ( phát âm không dấu thành “nhơi”  hoặc không phân biệt  dấu  hỏi  và dấu sắc thành “nhới” )  và tạo nên từ nhấp nháy ( lấp láy) là “chơi nhởi” hoặc ” nhởi chơi”  ; tau<-> nhau như “bầy tau” ( “chúng tau”    rồi thành “chau”   )  nghe thật lý thú.
                  Đánh  người Nghi Lộc quen gọi là đập.  Đánh nhau thành đập nhau  ròi tạo nên từ lấp láy “ đánh đập “
                  Từ điển Việt Hán thương vụ dịch đánh đập là  đả 打 hoặc 怕 ( như đánh trống, vỗ tay chẳng hạn) .
                   Nhưng từ lấp láy “ đánh đập “ này không theo đúng quy luật hình thành theo nhóm âm sắc
                          Hỏi, sắc, không
                          Huyền , nặng , ngã
              là quy luật phổ quát tạo nên từ lấp láy trong tiếng Việt ./.
                                                                      ( còn nưa )

Đỗ Anh Thơ : Nhớ nhớ quên quên tiếng Nghi Lộc ( IV)

  Phát âm tiếng Nghi lộc gần như không có dấu. Ví dụ : Ca, cá , cả. cã , cà  nguoi nghe không phân biệt được. Vì thế mới có chuyện cà có cuống , cà có đuôi. Kiến thức về nghữ âm học của Docago gần như bằng không và không có hệ thống . Bởi vậy chỉ dám đưa ra những dấu hỏi mà thôi. Phải  chăng tiếng Nghi lộc còn giữ được rất nhiều tiếng Việt cổ. Bên cạnh đó nó còn chịu ảnh hưởng của tiếng Chăm do một thời gian dài vùng biển nơi đây có những làng Chăm vốn là những tù binh thời Trần thời Lê sinh sống?. Docago còn nhớ ngày xưa mình thương bị mẹ mắng  bằng câu

“ Mường Nước Mặn”. Chữ Mường Nước Măn có thể từ khá xa xưa để chỉ người Chăm ở vùng này khá đông mang họ Chế..

                  Người Nghi lộc phát âm không uốn lưỡi, bới thế mới  có biến âm từ lúa (lu-á) thành ló, gai thành gây, cây thành cơn…hay ngược lại chăng ?

                  Bên cạnh đó là nhiều từ có tính phương ngữ như trộ ( chộ ) nghĩa là thấy , mươn ( âm gần giống mâm, chỉ cái chõng ăn cơm), rằn ( là chuồng trâu bò …) Nay cần phải có những nhà ngữ âm học có kiến thứ sâu tiếng Môn- Khomer  phân tích, khảo sát .Nếu không , chỉ một thời gian nữa sẽ mất hẳn.

                 Vùng Nghi Lộc trước đây cũng có rất nhiều đia danh  có tên là “ cổ” hoặc “ kẻ” như Cổ Đan , Cổ Đạm, Kẻ Trù… Phải chăng đó là những cái tên K’ dan, k’dam, k’ blu ?  Sau náy do phong trào chọn đổi tên các địa danh cho đẹp một cách bừa bãi và không ai ghi chép , đã mất dần  cũng giống như tên B’lao  đã bị cái tên Bảo Lộc , làng Cót  thành Yên Quyết rồi Yên hòa , Quán Sen  ( quê ngoại Docago) thành Kim lien rồi Nghi Liên  đặc sệt Hán Việt thay thế !

                Nghi lộc xưa là vùng có nhiều giống lúa chiêm ( chăm) ví như ló loóc chiêm . nếp chiêm. ló rẻ dâu …chịu khô hạn mà chất lượng gạo không  thua kém gì loóc mùa , nếp chạo( tức nếp mùa )

                                            ( còn nữa )

Đỗ Anh Thơ : Nhớ nhớ quên quên tieng Nghi Lộc ( tiếp theo)

 

                Xa quê đã gần 65 năm, Docago da quen rat nhieu phuong ngu. Nhung nhung nam gan day nhieu khi no lai tu nhien chơt nhớ trở lai. Boi vay những luc ngồi buồn nghĩ về quê  Docago  lại cop nhat  với đoi lời bình luan tản mạn tren trang mang của mình . Mong các bậc thức giả chỉ bảo cho những sai sót.
                                    Chữ Cồn
                     Không riêng Nghi lộc Nghệ An, chữ Cồn duoc dùng rất phổ biến để chỉ đồi núi thấp hoặc doi cày át  nổi lên giữa dòng song hoặc ven biển, nay có khi đã thành dải đất nằm sâu trong đất liền. Có nơi  lắng đọng cả tầng dầy vỏ sò vỏ hến, có thể khai thác làm gạch xây nhà.  Cồn khác với từ Dăm . Dăm là bãi đất bỏ hoang gần làng thường có nhiều mồ mả phần lớn không còn ai thừa nhận nưa.
                     Cồn là một từ thuần Việt. Ta có thể lấy Từ diển Việt Hán (  Thuơng vụ ấn thư cục TQ 1997)  dịch  chữ cồn để đối chiếu thì thấy rất rõ trong chữ Hán không có một từ đồng âm nào tương đương.
                   Cồn : tương đương với chữ gò, đồi, thường được dịch là khâu (丘).  Cồn và gò là thuần Việt còn đồi  còn có thể là chữ 堆
                              Ví dụ :
                Cồn cát : sa khâu (沙丘  ) :  đồi cát , gò cát.
                                    sa châu (沙  洲 )
                                    sa chử ( 沙  渚)
                    Cồn cạn:
                                   tiện than  (淺  灘)  : bãi cạn
                    cồn muối , cồn nại : diêm trường
        Những vùng có cát biển bồi như ở Nam Đinh ta còn gặp các từ riêng như Cồn Lu , Cồn Ngan, Chợ Cồn…
                                                        ( còn tiếp )

 

Cao Bá Quát : Bài tư hành quân III và VI ( Nguyễn Chân dịch ra tiếng Việt- Pháp – Nga )

                                                              行 軍 詞 (其 三)
高 伯 适
庫城高望塞雲飛
雄劍無聲戰馬肥
戍久漸忘羈旅意
餉丁何事嘹歌悲
                                                                             Phiên âm :
HÀNH QUÂN TỪ (KÌ TAM)
CAO BÁ QUÁT
Khố thành cao vọng tái vân phi
Hùng kiếm vô thanh chiến mã phì
Thú cửu tiệm vong ky lữ ý
Hướng đinh hà sự liệu ca bi.
                                                                                               Dịch nghĩa
BÀI TỪ HÀNH QUÂN (Bài III)
CAO BÁ QUÁT
Phía kho lương trong thành nhìn trên cao
 mây biên giới bay
Kiếm hùng không tiếng, ngựa chiến béo
(không giao tranh)
Lính thú lâu ngày dần quên nỗi buồn đất khách
Phu chở lương cớ sao cất giọng hát bi thương.
BÀI TỪ HÀNH QUÂN (Bài III)
CAO BÁ QUÁT
Mây biên giới, đỉnh kho lương
Béo phì ngựa chiến, tiếng gươm lặng rồi
Nhớ quê lính thú đã nguôi
Tiếp lương lại hát những lời buồn tênh!
Mây bay biên giới đỉnh kho lương
Ngựa chiến béo phì, lặng tiếng gươm
Lính thú đã quên buồn đất khách
Chở tiền lại hát giọng bi thương.
MOUVEMENT DES TROUPES (III)
CAO BA QUAT
Les nuages frontiers couvrent l’entrpôt des provisions
Se taisent les fracas de glaive
S’engraissent les chevaux de guerre
Aux frontières les soldats oublient déjà la nostalgie
Pourquoi les facteurs chantent encor de mélancolie?
ПАХОДНАЯ ПЕСНЯ
КАО БА КУАТ
На границе прикрывают склады
продовольствий облака
Замолкнули мечи, жиреют боевые коня
Здесь солдаты тосковать по родине перестали
Зачем почтальоны ещё поют меланхолически?
                                                     NGUYỄN CHÂN 03.01.2014
                                                         行 軍 詞 (其 四)
高 伯 适
東 風 捲 地 野 塵 昏
征 馬 蕭 蕭 出 塢 門
借 問 西 軍 何 處 駐
千 溪 萬 壑 見 崑 崙
                                           Phiên âm :
HÀNH QUÂN TỪ (KÌ TỨ)
CAO BÁ QUÁT
Đông phong quyển địa dã trần hôn
Chinh mã tiêu tiêu xuất ổ môn
Tá vấn tây quân hà xứ trú
Thiên khê vạn hác kiến Côn Lôn
                                                        Dịch nghĩa:
BÀI TỪ HÀNH QUÂN (Bài IV)
CAO BÁ QUÁT
Gió đông quét đất bụi mù mịt cánh đồng
Ngựa chiến hí ran ra khỏi cửa thành
Muốn hỏi cánh quân phía Tây đóng ở đâu
Nghìn khe, muôn vực hiện rõ đất Côn Lôn
BÀI TỪ HÀNH QUÂN (Bài IV)
CAO BÁ QUÁT
 Cánh đồng gió cuốn bụi mù
Hí vang ngựa chiến lô nhô xuát thành
 Đâu nơi đóng cánh tây binh
Muôn khe nghìn vực địa hình Côn Lôn!
Gió thốc cánh đồng mù mịt bụi
Xuất thành ngựa chiến hí ầm vang
Cánh tây quân đóng nơi nào nhỉ?
Khe vực Côn Lôn thật rõ ràng!
MOUVEMENT DES TROUPES
CAO BA QUAT
 Souffle le vent, les poussières couvrent les champs
Les destriers sortent du bastion en hennissant
Où se trouve donc l’aile gauche de l’armée?
C’est là, à Con Lon entre ravins et vallées.
ПАХОДНАЯ ПЕСНЯ
КАО БА КУАТ
Дует ветер, поле покрытое пылью
Жрая, боевые кони скачут от крепости
Где же находится левый фланг армии?
Boт именно под Кунлунскими оврагами!
                                                  NGUYỄN CHÂN 07.01.2014

TẾ HANH: BÃO ( .TRỊNH PHÚC NGUYÊN TMCS NGUYỄN CHÂN dich )

BÃO
TẾ HANH
Cơn bão nghiêng đêm
Cây gẫy cành bay lá
Ta nắm tay em
Cùng qua đường
Cho khỏi ngã.

Cơn bão tạnh lâu rồi
Hàng cây xanh thắm lại
Nhưng em đã xa xôi
Và cơn bão lòng ta thổi mãi…

L’ORAGE
TE HANH
L’orage bouleverse la nuit,
Brise les branches, arrache les feuilles;
J’empoigne ta main
Nous traversons ensemble le chemin,
Pour ne pas tomber.

L’orage cesse depuis longtemps,
Les arbres raffraichis, reverdissent;
Mais tu es déjà loin, très loin,,,
Et l’orage dans mon coeur
Souffle pour toujours…

Tr.TRỊNH PHÚC NGUYÊN
THE STORM
TE HANH
 That night was rocked from side to side
By the storm.
It broke branches
And plucked off leaves.
I steadied you
By holding the hand of yours
To cross the street together.
The storm ended a long time ago.
The trees became green again
With new branches
And young leaves.
But you’ve gone away,
A new storm appeared in my heart,
It’ll blow forever…
Translation by TMCS
БУРЯ
ТЕ ХАНЬ
Наклоняет ночь буря
Сломает ветви, сорвает листья
Я держу твою руку
Переходя дорогу
Чтобы не упасть
Давно затихнула буря
Вновь позленели деревья
А ты ушла далеко, слишком далеко
Дует в моей душе буря постоянно
NGUYỄN CHÂN 16.02.2014
BẠO PHONG VŨ
TẾ HANH
Phong vũ khiển khuynh dạ
Bạt diệp triết thụ chi
Quá lộ nhĩ thủ trì
Nhân nhi khiển bất điệt
Phong vũ cửu đình liễu
Thụ liệt tái lục thâm
Đãn thị nhĩ viễn khứ
Đài phong tục ngã tâm
暴 風 雨
祭 亨
雨 風 遣 傾 夜
拔 葉 折 樹 枝
過 路 妳 手 持
因 而 遣 不 跌
風 雨 久 停 了
木 列 再 綠 深
然 而 妳 遠 去
颱 吹 續 我 心
NGUYỄN CHÂN dịch 17.02.2014
BẠO PHONG VŨ
TẾ  HANH
Bạo phong vũ khuynh dạ
Diệp bạt, thụ chi triết
Quá lộ chấp nhĩ thủ
Vị liễu nhĩ bất điêt
Bạo phong cửu đình liễu
Thụ thụ lục du du
Đán thị nhĩ viễn khứ
Ngã tâm đài phong dư
暴 風 雨
祭 亨
暴 風 雨 傾 夜
葉 拔 樹 枝 折
過 路 執 妳 手
為 了 妳 不 跌
暴 風 久 停 了
樹 樹 綠 悠 悠
但 是 妳 遠 去
我 心 台 風 餘
TMCS dịch ra bạch thoại

Đỗ Anh Thơ : Thơ chiết tự chữ Thứ (*)

 

 Nàng  E va lỡ ăn quả cấm
Nên tim đau để lại cho đời.
Nghìn vạn năm kiếp nạn con Nguời
Lượng thứ nhau  vẫn là lạ lẫm.
Hiền triết Đông Tây xưa nay lắm.
Sách vở trở thành lời nói suông.
Bọn quan tham quen thói diễn tuồng
Lừa gạt dân ngày càng thêm đậm.
                                17/2/2014
                             Đỗ Anh Thơ
 
(*) Chiết tự chữ Thứ ( shu 恕 )   ta có
Như ( rú  ) tâm ( xin ) ; Như lại gồm nữ ( đàn bà con gái) và chữ khẩu là miêng.
    Khổng Tử từng định nghĩa “ thứ”  là : Cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác. ( kỷ sở bất dục vật thi ư nhân  己 所  不  欲  勿  施  於  人)
     Nghĩa là đối xử với người khác phải như chính đối với lòng mình ( như tâm )

Phùng Thị HồngVân.: Không đề & Buồn

               KHÔNG ĐỀ

Chiều nghiêng
đổ nắng cuối sông

Một ngày mong,
mấy ngày mong,
mong hoài…

Hoàng hôn
trĩu nặng đôi vai ,

Mà lòng hoài tưởng ban mai
thuở nào!

BUỒN

Anh về khuất nẻo non xanh
Chiều buông liễu rủ giăng mành cô đơn.
Mưa sầu chan chứa buồn thương
Gió ơi! Cuốn giúp sầu vương nỗi niềm!!