Nguyễn Chân : Dịch ra Hán Pháp thơ Bà Huyên Thanh Quan CHIỀU HÔM NHỚ NHÀ, QUA ĐÈO NGANG và THĂNG LONG THÀNH HOÀI CỔ

Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn.

Tiếng ốc xa đưa lẫn trống đồn.

Gác mái ngư ông về viễn phố.

Gõ sừng mục tử lại cô thôn.

Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,

Dặm liễu sương sa khách bước dồn.

Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ,

Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn !

 

日 暮 懷 家

青 關 縣 尹 夫 人

斜 陽 冷 寂 泛 黃 昏

角 鼓 聲 聞 自 遠 屯

漁 父 擱 橈 歸 遠 浦

牧 童 敲 角 復 孤 村

梅 林 風 動  鴉 飛 倦

柳 陌 霜 垂 客 急 奔

人 在 章 臺 人 旅 次

與 誰 可 以 敘 寒 溫

 

NHẬT MỘ HOÀI GIA

THANH QUAN HUYỆN DOÃN PHU NHÂN

Tà dương lãnh tịch phiếm hoàng hôn

Giác cổ thanh văn tự viễn đồn,

Ngư phủ các nhiêu qui viễn phố,

Mục đồng xao giác phục cô thôn.

Mai lâm phong động nha phi quyện,

Liễu mạch sương thuỳ khách cấp bôn.

Nhân tại Chương Đài, nhân lữ thứ,

Dữ thuỳ khả dĩ tự hàn ôn !

LE MAL DE LA FAMILLE AU SOIR

LA SOUS-PRÉFÈTE DE THANH QUAN

Tremblote la faible lueur crépusculaire.

Le cor et le tambour du poste font tintouin.

Posant la rame le pêcheur gagne un bord lointain,

Frappant les cornes le pâtre rentre au hameau solitaire.

L’oiseau se débat dans le vent sur la forêt.

Le voyageur presse ses pas, longeant les saulées.

L’un est en route, mais l’autre est dans leur foyer,

Avec qui pourrait-on les peines partager !

 

NGUYỄN CHÂN dịch 23.05.2009

NHỚ VỀ THÀNH THĂNG LONG CŨ

BÀ HUYỆN THANH QUAN

Tạo hoá gây chi cuộc hí trường

Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương

Đá vẫn bền gan cùng tuế nguyệt

Nước còn chau mặt với tang thương

Nghìn năm gương cũ soi kim cổ

Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.

升 龍 城 懷 古

青 觀 縣 尹 夫 人

造 化 為 何 肇 戲 場

至 今 荏 苒 幾 星 霜

輦 車 古 跡 凋 秋 草

樓 閣 陳 基 耀 夕 暘

石 已 披 肝 同 歲 月

水 猶 皺 面 對 桑 滄

千 年 舊 鏡 明 今 古

對 景 時 人 欲 斷 腸

THĂNG LONG THÀNH HOÀI CỔ

THANH QUAN HUYỆN DOÃN PHU NHÂN

Tạo hoá vi hà triệu hí trường

Chí kim nhẫm nhiễm kỉ tinh sương

Liễn xa cổ tích điêu thu thảo

Lâu các trần cơ diệu tịch dương

Thạch dĩ phi can đồng tuế nguyệt

Thuỷ do trứu diện đối tang thương

Thiên niên cựu kính minh kim cổ

Đối cảnh thời nhân dục đoạn trường

REGRETS DE LA VIEILLE CAPITALE THANG LONG

LA SOUS-PRÉFÈTE DE THANH QUAN

Pourquoi Dieu monte cette scène de badinage

Qui se déroule des siècles jusqu’à présent

Les herbes étiolées hantent les chemins d’antan

Où défilaient tant de chevaux et équipages

Les fondements des palais d’autrefois s’étalent

Actuellement sous la clarté vespérale

Les pierres persistent mois et années durant

Les eaux se renfrognent devant ces changements

Le miroir du jadis depuis toujours éclaire

Sans distinctions les évènements millénaires

Oh! Qu’on souffre devant ce spectacle déchirant

NGUYỄN CHÂN dịch 17.04.2009

QUA ĐÈO NGANG BÀ HUYÊN THANH QUAN
Qua đỉnh Đèo Ngang bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
Lom khom dưới núi, tiều vài chú,
Lác đác bên sông, rợ mấy nhà.(*)
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.(**)
Dừng chân đứng lại : trời, non, nước,(***)
Một mảnh tình riêng ta với ta!過 橫 巔
青 關 縣 尹 夫 人
步 到 橫 巔 日 已 斜
石 侵 草 樹 葉 侵 花
俯 身 山 下 樵 三 倆
疏 落 江 邊 俗 數 窩
杜 鵡 懷 邦 鳴 國 國
鷓 鴣 傷 眷 叫 家 家
迴 頭 停 步 天 山 水
一 片 私 情 獨 自 嗟

QUÁ HOÀNH ĐIÊN THANH QUAN HUYỆN DOÃN PHU NHÂN
Bộ đáo Hoành Điên nhật dĩ tà.
Thạch xâm thảo thụ, diệp xâm hoa.
Phủ thân sơn hạ, tiều tam lưỡng,
Sơ lạc giang biên, tục sổ oa.
Đỗ vũ hoài bang minh “quốc quốc”,
Giá cô thương quyến khiếu “gia gia”.
Hồi đầu, đình bộ : thiên, sơn, thủy,
Nhất phiến tư tình, độc tự ta! AU COL DEO NGANG LA SOUS – PRÉFÈTE DE THANH QUAN
On arrive au col Deo Ngang juste au crépuscule.
Buissons et pierres, feuilles et fleurs se bousculent.
Dans la vallée deux-trois gens cherchent les bûchettes.
De loin s’entrevoient quelques gîtes riverains.
Se lamente de sa patrie la marouette,
Chiale de sa famille le francolin.
On s’arrête, monts, eaux et cieux innondent les yeux,
Garder sa confidence en soi, seul ce qu’on peut!
—————— (*)Đã từ lâu người ta tranh lụân mãi “chợ mấy nhà” hay “rợ mấy nhà. “Chợ” thì chẳng ăn nhập gì cả. Còn “rợ” thì bảo là phân biệt chủng tộc, coi thường người dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, cần  nhớ đây là vào thời của tác giả. Ngay những năm 1943-1944, ở quê tôi (Thị Cầu-Bắc Ninh), Pháp đưa một số lính người Tây Nguyên ra để “chống Nhật”, dân vẫn gọi là “lính Mọi”. Hơn nữa nếu là “chợ” thì sao “đối” được với “tiều”? Vì vậy tôi cho”rợ” có lí hơn.
(**)” Quốc quốc, gia gia” cũng tranh luận mãi. Quốc quốc thì ổn, nhưng “gia gia”, có người cho là “da da” lại có người bảo phải là “đa đa”. Riêng tôi cho đây la từ chỉ có nghĩa “đối” với “quốc
quốc”, vì vậy “gia gia”, đúng hơn. “Quốc quốc” là tương thanh nhưng”gia gia” thì không, mà “đa đa” cũng không phải. Nó là chim đa đa, nhưng lại kêu”bắt tép kho cà”, còn có tên là con gà gô.
(***) Câu 7 các sách xưa nay viết như trên, nhưng khi chuyển ngữ, tôi thấy “dừng chân” thì đương nhiên là “đứng lại” rồi, vì vậy trong bản Hán văn, tôi thêm “hồi đầu-ngoảnh lại”, còn trong bản Pháp văn tôi chỉ để một chữ “On s’arrête” thôi.

NGUYỄN CHÂN 20,05..2009

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s