Archive | Tháng Tám 2014

Đỗ Anh Thơ: Cháu tôi

 

(Ghi chú : Vào những năm 90,  tôi thường cộng tác với rất nhiều báo tuân , báo tháng. Thường xuyên nhất là  báo Gia đình ngày nay và Phụ nữ Thủ đô.  Phần lớn những truyện thời đó đã được tập hợp lại in trong “Nước mắt mẹ”. Nhưng vẫn còn khá nhiều bài được photo, cắt rời và lưu trong  phong bì rồi để quên không đề ngày tháng. Nay rỗi rãi tìm lại và xin công bố tiếp trên mạng)

 

Chiều thu tiết trời se lạnh. Mới hơn 6 giờ mà nhìn ra sân đã nhá nhem tối. Tôi và Loan – đứa cháu gái- đang ngồi chơi ngoài thềm. Bỗng từ trên trời phía tây chái nhà vọng lại tiếng chim đi ăn đêm, kêu “Vác…Vác”. Cháu tôi chạy lại ôm lấy cổ tôi:

-Vạc lại đi ăn đêm rồi, ông ơi. Khổ thân chúng…

-Đúng rồi đó!

Cháu tôi chép miệng: -Ai bảo nó đi đánh bạc, bán hết ruộng cho cò ông nhỉ!

Tôi vuốt ve mái tóc mềm mại của cháu, rồi vô cớ  buông ra một tiếng thở dài. Ngay lúc đó có tiếng chuông . Loan xăng xải ra mở cổng. Nó dẫn vào nhà một người đàn bà luống tuổi cùng với một em bé gái trạc mười lăm, mười sáu.

Chị ta đon đả:

-Bác lâu nay có khỏe không?Rồi quay sang cô bé , chị bảo:

-Chào ông đi con!

Tôi che mắt nhìn cho rõ, rồi reo lên:

-Kìa ả Chúc! Có việc gì mà đánh đường ra tận Hà Nội thế này. Cơm nước gì chưa?

-Dạ chưa ! cháu đưa con Hoa ra giúp việc cho bác Bân bác ạ.

-À ra thế!

Nhà tôi cạnh bến xe phía Nam, nên thường là trạm dừng chân của bà con trong quê, mỗi lần ra thủ đô. Những năm trước, gặp phải cảnh này tôi thường lo sốt vó. Mặc dù cơm khách lúc đó, chỉ có rau muống và đậu phụ rán mà thôi. Nay thì đàng hoàng hơn. Bữa tối hôm đó, vợ tôi mua đãi khách cả một đĩa thịt quay, lại thêm một đĩa gò lụa. Mẹ con chị Chúc ăn nhỏn nhẻn. Tôi cứ phải gắp thức ăn vào bát cho chị .

Bé Loan cũng tinh ý lắm.Nó học theo tôi, gắp thức ăn cho Hoa và nói:

-Tối nay chị ngủ với em  nhé phòng của em có ti vi, có cả đàn nữa.

Mà ở quê chị cũng đang xem phim Tam Quốc phải không?

Hoa đã hơi quen. Hai chị em vui vẻ chuyện trò. Ăn xong chúng giành nhau rửa bát. Tôi nghe Loan lý sự:

-Chị cứ để em. Chị là khách cơ mà…

Sáng hôm sau, tôi thuê xe ôm cho hai mẹ con chị Chúc đến nhà bác Bân mà không đi cùng. Vì tuy là họ hàng gần, nhưng họ là “quan” cho nên tôi ngại.

Mấy tháng sau, một hôm tôi hơi ngạc nhiên, khi nhận được giấy mời đến dự lễ chẵn tháng cháu đích tôn của ông Bận.

Loan đòi đi theo để gặp chị Hoa. Khi hai ông cháu tôi đến nơi thì ba bốn tầng lầu nhà họ đã đông nghịt khách. Ô tô, xe máy đỗ thành một hàng dài trước cửa.

Vốn quen với tục lệ quê, tôi chưa ngồi vào mâm vội, mà kéo bé Loan lên lầu thăm cháu bé. Người con dâu ông Bận đang nằm quay mặt vào tường. Cô ta gọi:

-Hoa đâu, em khóc kìa!

Nghe một tiếng “dạ” rồi Hoa rón rén đi vào. Thấy tôi nó chỉ chào khẽ:

-Ông ạ!

Rồi cũng không kịp nhìn Loan, nó quỳ xuống bên giường em bé, làm nhiệm vụ.

Tôi đang trong tình thế khó xử, thì môt bé gái khác cũng trạc tuổi Hoa mời tôi xuống nhà. Tôi vội đút cái phong bì vào giữa những thứ quà đắt tiền của thực khách khác rồi mới ngồi vào bàn. Nhìn những món ăn thịnh soạn mà miệng tôi thì mặn chát . Cháu tôi bưng lấy bát, im lặng.

Hai ông cháu tôi chìm đi trong tiếng chạm cốc và những lời chúc tụng mời chào. Im lặng ăn cho xong bữa. Loan buồn thiu vì không nói chuyện được với Hoa.

Mãi tới khi về tới nhà cháu tôi mới vui vẻ trở lại . Nó hỏi tôi:

–         Ông có biết ông Bân có mấy osin không?

–         Hai chứ mấy.

Nó cười to:

–         Ông nhầm rồi: những bốn cơ! Còn hai người nữa : một đang nấu cơm, một chị nữa đang quét dọn. Mà đâu cũng là bà con trong quê mình cả.

Tôi buồn rầu :

Tại các chị ấy lười học nên mới phải đi ở. Cháu của ông nếu không chăm học , nay mai rồi cũng thế mà thôi!

Đang ngồi trong lòng tôi, nó nũng nịu:

-Cháu không dám đâu. Rồi nó nói tiếp :

– Mà các chị ấy cũng không phải vì lười. Tại bố các chị ấy cờ bạc đó.

-Thì bố Xuân của cháu nay cũng bia bọt suốt ngày có khác gi đâu! Tới lúc đó thì ông bà đã chết . Nhưng nằm dưới mồ nhìn lên thấy cháu tôi đang đi nhặt ve chai hay đang đi ở. Ông thương lắm !

Cháu giằng khỏi tay tôi, vùng đứng dậy :

–         Ứ cháu không chơi với ông nữa đâu.

Rồi nó khóc to …từng cơn, từng cơn …nức nở. Tôi dỗ suốt buổi nó mới chịu nín. Cả ngày hôm đó cháu tôi như muốn lánh mặt tôi. Tôi hối hân mãi về câu nói đùa không đúng chỗ với đứa cháu cưng khiến tâm hồn hay đa cảm của nó chạnh lòng suy nghĩ./.

–                                                                               Đ;A;T

 

PHÙNG THỊ HỒNG VÂN: MỪNG TUỔI TÁM SÁU!

(Nhớ  tuổi niên hoa 1/1/1928-1/1/2014)

Giáp Ngọ – Bước sang tám sáu rồi!
Tuổi xưa nhớ lại, luống bồi hồi…
Nhảy dây, chuyền, chắt, sao mà khéo
Bơi lội, kéo co, cũng chẳng tồi.

Ngày nghỉ, tót lên rừng kiếm củi
Chẳng quên hái đẫy nón sim tươi.
Chị cho đôi guốc cao phi mã
Chẹo gót bước đi, đến nực cười.

Tắm suối, áo quần phơi bụi mua
Xong xuôi, khô ráo mặc là vừa.
Một ngày hai buổi vui đi học.
Tiểu thuyết lén xem lúc nghỉ trưa.

Anh nuôi ăn học đỗ “xép phi”*
Đã chọn cho mình một hướng đi.
Cách mạng về, đổi đời phụ  nữ
Tham gia quân ngũ, tuổi xuân  thì.

Tám sáu bây giờ khác tuổi xưa:
Lướt tay  bàn phím, viết vần thơ.
Tăng gô nhịp nhảy theo chân bạn.
Máy tính, máy quay vẫn đợi chờ!

Cuộc đời như một cuốn phim
Tua đi xem lại – con tim bồi hồi…!

* Bằng bậc tiểu học thời Pháp thuộc.

Đỗ Anh Thơ : Tức sự

Đỗ Anh Thơ : Tức sự

Suốt ngày thui thủi trên lầu,
Nhớ lão câu cá : đã chầu Diêm Vương.
Bạn bè dở dở ương ương
Meo đi meo lại …càng thương thân già !Rạch Chiếc  25/8/2014
Đỗ Anh Thơ

Phan hoi :

Nhà cao cửa rộng bốn lầu

Khách xa ngỡ tưởng vào chầu thiên vương

Đồ già lúc dở lúc ương

Nhưng bà phật lão vẫn thương đồ già

Hieu Nguyen :

Đỗ Anh Thơ : Những mẩu chuyên kể bên đường cái quan 5.- Đàn ong mật

Trước cách mạng tháng 8 nhà tôi có nuôi 2 tổ ong , mỗi năm cha tôi vắt được khoảng 4 lít mật . Số mật đó ông để dành để hoàn thuốc tễ cho tôi,vì tôi lúc nhỏ được cha cưng, lai  biếng ăn, thường ốm đau luôn.

Hai tổ ong đó được làm bằng thân cây dừa to , khoét rỗng ruột, một treo áp mái nhà, môt được kê trên giá .Chúng đều được đăt theo hướng nam để tránh nắng tây với gió Lào. Hai mặt tổ bịt kín có khi còn được trát vôi cẩn thận. chỉ trừ một số lỗ nhỏ cho ong chiu ra chui vào, đề phòng bìm bìm (1) vào hút mât hoặc thạch sùng rình bắt ong non.  Các lỗ cha tôi còn sơn son , bôi vôi…cho ong thích thú, mến  không bỏ tổ bay đi. Vì vây nhìn nó khá sặc sỡ.

Mùa mùa hè trời gió tây nam rất nóng, nhưng lại là mùa lạc mùa ngô nên ong cần cù tích trử mật và sinh sản. Đàn ong làm việc vất vả suốt từ sáng sớm đén tối. Lúc này cha tôi phải mở rộng cửa cho tổ ong.  Sợ ong đốt nên chẳng mấy khi tôi dám đến gần mà chỉ đứng xa quan sát. Những chú ong thợ bay đi rồi bay về tổ liên tục . Chân deo phấn hoa vàng . Trước cửa tổ tôi còn thấy có những chú ong đứng canh, hình như để kiểm tra cả đàn. Chúng làm cả nhiệm vụ vẫy cánh để quạt thổi bơt khí nóng trong tổ.  Lúc này các lạp (2) đã đầy mật được ong bịt sáp kín. Một số lạp khác thì đang đúc ong non.

Những com bìm bìm đậu ngoài cửa tổ đập cánh xua ong dể thò vòi vào ăn trộm mât. Cha tôi phải giúp ong lùng diệt khi thấy chúng xuất hiện. Thạch sùng cũng là kẻ thù nguy hiểm của ong. Mỗi tổ ong có tới ba bốn con bám gần cửa , thừa lúc con ong mới bay về chưa kịp chui vào tổ là đớp liền.  Tổ ong treo cao tôi không quan sát được kỹ nhưng với tổ để   ngoài thềm thì bốn chân giá cha tôi kê bốn bát nước để phòng chúng và kiến.

Khoảng tháng ba , hai tổ ong đầy mật. Với tổ không cho san đàn,

anh cùng cha tôi tiến hành lấy mật. Ngày xưa phải cắt cả tảng lạp do đàn ong tự xây xuống dùng tay để vắt.   Trước tiên cha tôi quấn một nùi giẻ rách châm lửa quạt cho khói bay vào tổ. Ong sợ, một số bay ra còn chúa và phần lớn  ong sắt  (3) dạt vào trong sâu. Cha tôi cắt đi khoảng hai phần ba lạp mật và lạp ong non. Lạp mật vắt riêng, mật có ong non vắt riêng. Mật vắt ra vàng nâu đặc sóng sánh. Chúng tôi mỗi đứa được cha cắt cho một miếng lạp mât bằng cỡ hai ngón tay . Chúng tôi thường để dành ăn sau, còn lúc đó chủ yếu là tận dụng nhai sáp mât và sáp ong non. Bữa ăn mật như vâychúng tôi thường bị lâng lâng như say rượu.

Với tổ ong định cho san đàn  thì từ lâu cha đã soi tìm vú ong chúa. Thường chúng đúc hai hoặc ba vú ong chúa. Cha tôi lấy gai mây châm những vú ong chúa thừa cho ấu trùng trong đó chết đi, chỉ để lai một mà thôi. Cha tôi chuẩn bị tổ mới và một cái rọ . Rọ là một cành trúc đan cài như cái trúm đơm lươn tí hon .

Tới ngày ong san đàn, cha tôi đã có kinh nghiêm nên biết trước. Chúng thương rộn rip chia quân. Tờ mờ sáng chúng bay ra bay vào nhiều hơn như tập dượt vậy . Anh tôi gánh nước chứa đầy một bể can và bung (4)  to với ống thụt để sẵn ngoài sân. Lúc đàn ong san bay ra là anh tôi thụt nước lên ngay cho ong ướt cánh. Cha và chúng tôi thi nhau ném cát lên trời như đánh trận giả. Vì vậy đàn ong chỉ bay được một quãng ngắn là mỏi cánh đậu lại tai một nhánh cây trong vườn. Cha tôi trùm cái te(5) lên đầu, leo lên cây  đã bị ong bâu kín lấy tay rẽ bầy ong  để tìm ong chúa. Con ong chúa dài hơn ong mật, vàng hơn, có vành đen rõ hơn, nên cha tôi au nhanh chóng bắt được nó và cho vào rọ  đặt vào tổ mới. Một lúc sau, ong thấy  mất chúa , lại bay xao xác . Một lúc sau rồi mới bay vào tổ mới . Thế là chúng đã có nhà riêng do con người sắp  đặt sẵn.

Những con ong sắt hiền lành sau khi san thường bị ong thợ cắn chết nằm đầy dưới đất la liệt. Nhiều con khác thì bị đuổi không cho vào tổ nên bay bơ vơ đậu khắp nhà. Chúng tôi thường cứu nuôi chúng trong những cái bao diêm. Mấy ngày sau cũng chết nôt. Lúc đó tôi không rõ nguyên nhân. Tại sao lai có ong sắt và tại sao chúng xuất hiện trong mùa ong san đàn và rồi cuối cùng phải chịu số phận hẩm hiu như vậy ? (6)

20/8/2014

Đỗ Anh Thơ

(1) Một loại bướm bà chuyên hút mật ong

 (2) Bìa sáp do ong tự đúc lấy.

 (3) Ong đực màu đen không có noc

(4) Nồi đồng to dùng để luộc bánh chưng ngày tết

(5)  Lưới to mắt rất dày dùng để cất tép

 (6) Các chuyên gia nuôi ong nói rằng ong chúa chỉ giao phối có một lần trong đời ngay khi san đàn. Chúng đúc gần đến một trăm con ong đực. Khi san đàn, ong đực bay theo ong chúa  Con  nào khỏe nhất, bay cao nhất, theo kịp chúa thì được hưởng phút ái ân chỉ có một lần . Sau đó rơi xuống đất chết. Sự chon giống đó cũng như loài bọ ngưa. Bọ ngựa sau giao hoan còn bị ngay người tình quay lại ăn thịt . Nay tôi vẫn thắc mắc : khi đó cha và anh tôi phụn nước cho chúa mỏi cánh rồi  bắt nhốt vào rọ thì làm sao chúa còn kịp làm tình nó có thoải mái đelàm nhiệm vụ đẻ suốt đời không?               

  

ĐỒNG ĐỨC BỐN: CÁI ĐÊM EM Ở VỚI CHỒNG ( Nguyễn Chân và TMCS dịch sang Hán Phap , Nga, Anh)

Cái đêm em ở với chồng

Để ai hóa đá bên sông đợi chờ.

Cái đêm hôm ấy gió mùa

Tơ nhện giăng đến cổng chùa thì tan.

Cái đêm lành lạnh gió mùa

Em trong chăn ấm có đùa với ai…

Ngang trời tiếng vạc mảnh mai,

Chén trăng đã đứt làm hai mảnh rồi.

Mảnh nào em để cho tôi

Khi buồn chỉ để lên môi làm kèn.

THAT NIGHT

(Poem by Đông đức Bổn-Translation by TMCS)

When you and your husband together spent that night,

On the river bank, someone awaiting you was petrified.

That night, when the monsoon blew coldly,

The thread stretched by a spider

Till the temple gate was broken suddenly.

That night, when the chilly monsoon was blowing,

Under the warm blanket, had you a frolic with someone?

In the midair, a bittern cried weakly,

The full moon was broken into two parts

I didn’t know which one of them you gave me

So that I can put it on my lips as a flute to play sadly

CETTE NUIT-LÀ

Cette nuit-là, lorsque tu et ton mari ont ensemble passé,

Sur la berge de la rivière,

En attendant ton arrivée un jeune homme était pétrifié.

Cette nuit-là, lorsque la mousson soufflait,

Le fil étiré jusqu’à la porte de la pagode par une araignée

A été soudainement brisé.

Lorsque la frisquette mousson soufflait toute cette nuit,

Sous la couverture, folâtrais-tu avec lui ?

Du ciel, un butor jetait ses cris fragiles.

La pleine lune a été brisée en deux moitiés

Je ne savais pas quelle partie que tu m’as donné

Pour que quand je serai malheureux

Je pourrai la mettre sur mes lèvres  comme une flute pour jouer.

那夜裡..

( 相挴居士譯)

當你跟郞君在一起

某一人江邊上化石了

那夜裡

當季風吹來

寺門前一條蛛絲

拉到那就断了

那夜裡,

微冷季風吹時

暖被裡你與他是否歡戲

天空中夜鹭軽聲響著

圓月已分两片

你送我何片?

當憂煩

放在脣上為笛來吹.

 

NA DẠ LÍ

(Tương mai cư sĩ dịch)

Na dạ lí

Đương nhĩ cân lang quân tại nhất khởi

Mỗ nhất nhân giang biên thượng hóa thạch liễu.

Na dạ lí

Đương quý phong xuy lai

Tự môn tiền nhất điều thù ti

Lạp đáo na tựu đoạn liễu.

Na dạ lí,

Vi lãnh quý phong xuy thì,

Noãn bị lí, nhĩ dữ tha thị phủ hoan hí ?

Thiên không trung, dạ lộ khinh thanh hưởng trước.

Viên nguyệt dĩ phân lưỡng phiến.

Nhĩ tống ngã hà phiến?

Đương ưu phiền,

Phóng tại thần thượng vi địch lai xuy.

CETTE NUIT, QUAND TU ÉTAIS À CÔTÉ DE TON MARI

DONG DUC BON

Cette nuit, quand tu étais ensemble avec ton mari

Laissant quelqu’un qui se pétrifiait

sur la rive en t’attendant

Cette nuit soufflait la mousson qui a brisé

Porté à l’ẻntrée de la pagode un fil d’arraignée

Lorsque la frisquette mousson soufflait cette nuit

Sous la couverture tu batifolais avec lui?

Du ciet parvenaient les cris grêles du hiboreau

La lune pleine en deux moitiés était divisée

Laquelle m’as-tu réservée?

Pour que je la mette sur les lèvres pour souffler

Quand serai-je attristé

КОГДА ТЫ НОЧЕВАЛА  С МУЖЕМ

ДОНГ ДЫК БОН

Эту ночью, когда была ты рядом с мужей

Оставлаясь кого, который превратилcя в камень

Ожидаясь тебе на берегу реки

Эту ночью дул муссон, вовлекающий

с собой нить паука до входа погоды,

где она распалась

Эту ночью холодноватый муссон

Забавлялась ли ты с ним под тёплым одеалом

На небе тихонькие крики выпи

Луна сломалась на два осколка

Какой из них ты мне отставила

Чтоб я его упротреблал б как свисток на губах

Когда грущу.

此 夜 床 妳 共 夫

同 德 奔

共 夫 此 夜 妳 同 床

化 石 誰 人 待 岸 傍

夜 裡 金 風 吹 始 起

蜘 蛛 絲 到 寺 門殘

夜 裡 季 風 微 冷 漸

被 中 戲 弄 妳 同 誰

鷺 輕 聲 響 天 穹 自

天 穹 回 響 輕 聲 鷺

圓 月 仿 分 二 片 隨

積 蓄 當 時 何 片 我

憂 時 為 管 我 將 吹

 

 

THỬ DẠ ĐỒNG SÀNG NHĨ CỘNG PHU

ĐỒNG ĐỨC BỐN

Cộng phu thử dạ nhĩ đồng sàng

Hóa thạch thùy nhân đãi ngạn bàng

Dạ lí kim phong xuy thủy khởi

Tri thù ti đáo tự môn tàn

Dạ lí quí phong vi lãnh tiệm

Bị trung hí lộng nhĩ đồng thùy

Lộ khinh thanh hưởng thiên khung tự

Viên nguyệt phảng phân nhị phiến tùy

Tích súc đương thời hà phiến ngã

Ưu thì vi quản ngã tương xuy

NGUYỄN CHÂN dịch sang Phap, Nga, Hán-Việt 14.08.2014

Đố Anh Thơ Những mẩu chuyện kể bên đường cái quan (4) Chiếc cày chìa vôi

 

 

Tại sao chiếc cày vùng Nghi lộc chúng tôi  lại được đặt tên là  cày chìa vôi?

Chìa vôi là con dao têm trầu của các mẹ. Hình của nó ra sao? Nó là cái dao có chức năng đặc biệt vừa để rọc lá trầu, vừa có cái cần để thò vào miệng bình vôi, vừa có cái dùi ở đuôi dao để têm trầu. Binh vôi thường  bị vôi lấp gần kín miệng nên cần của dao phải đủ dài mới cho vào tận bụng của ông được . Ngày xưa vôi khá hiếm. Các mẹ phải mua từng cục vôi sống ở chợ cho vào bụng bình vôi rồi cho nước vào tôi  thành vôi chín, để ăn trầu quanh năm. Bình vôi các mẹ gọi bằng ông . Nó được để một nơi trang trọng trong nhà, thậm chí ông bình vôi sứt, cũ …còn được đặt ngoài sân để thờ. Mẹ tôi têm trầu thường dè xẻn,  ngoáy ra từng ít vôi tôi dẻo quẹo, quẹt lên lá trầu. xong cuộn lại thành miếng .Mẹ quay cái dùi ở đàng cán  dao, dùi lỗ rồi dùng cuống lá trầu găm lại. Mỗi ngày bà têm chừng hai chục miếng trầu vừa để ăn, vừa để mời bạn bè.

Còn tại sao cày ở Nghi lộc lại được người ta gọi  là cày chìa vôi? Vì hình dạng nó cũng gần như cái chìa vôi vôi têm trầu . Nó chỉ cần một bò kéo, không nặng nề như cái cày đất sét . Đường cày của nó chỉ sâu khoảng hai mươi phân, đủ cho ta vun luống khoai, trỉa lạc, trỉa vừng hoặc trỉa ló (*)

Tháng  năm khi mùa gió Lào thổi mạnh nhất cũng là nhừng ngày mẹ và anh chi tôi vất vả nhất. Đầu hôm, Mẹ anh chi tôi lo bào khoai, trẩy lạc, tỉa  ngô…hoặc sàng phân,  …tận đến mười hai , một giờ sáng . Thóc đã được bỏ trong những cái bồ nhỏ , ngâm ngoài hộc (**) mọc mầm đã mấy ngày . Tờ mờ sáng, anh tôi đem trộn với phân mục, thật hoai đã được sàng mịn ,rồi gánh ra đồng.. Mẹ phải đi  làm sớm để tránh nắng gắt ban trưa . Nắng oi,.gọi rôm sảy về cắn …ngứa ngáy mà tay bà thì bận bịu không gãi được nên rất khó chịu .

Anh tôi đi phía trước cày vạch rãnh, mẹ tôi theo sau, khệ nệ  ôm một rổ phân đã trộn thóc, nhón từng nhum phân nhỏ, bỏ xuống đường cày. Động tác này quê tôi gọi là trỉa, khác với cách vãi ở những nơi khác như ở miền nam hiện nay  là  lúa không cần theo hàng lối nào.

Sau một tuần lễ cây lúa mọc lên xanh, nhưng chỉ mấy hôm sau thì bị cát nóng với gió Lào đốt chấy cho xơ xác, sống lay lắt cả tháng, đợi mưa đầu tháng bảy.. Nhưng diệu kỳ thay những giống lúa quê tôi như ló lôc, ló dâu…Chỉ cần gặp mưa có một vài hôm là nó gượng dậy . Những khóm bị chết hẳn, người ta nhổ  chỗ khác dăm vào rồi tiến hành cày xới gốc mà không cần bón thêm một chút phân nào nữa. Họ phó mặc cho trời! Bởi vì mỗi năm họ chỉ nhờ vào phế thải của một vài con trâu bò và  lơn đói ăn , nên phân cũng có nhiều đâu.!

Trừ những thửa ruộng trước cửa làng, lúa mọc tốt, còn lại một sào ruộng  quê tôi chỉ cho hơn hai gánh lúa, trục ra được khoảng 30 kg thóc. Với bốn mẫu ruông (ma đã bị quy là địa chủ!) như nhà tôi , vụ mùa mẹ tôi cũng chỉ thu được 80 gánh lúa . Một năm ngót nghét hai tấn thóc , nuôi tám miệng ăn cả nhà. Bởi thế nhà tôi quanh năm vẫn phải ăn cơm độn khoai .

Cơm trắng chỉ ưu tiên dành cho cha tôi và tôi mà thôi .

…Nay về thăm lại quê hương, bùi ngùi đứng bên mộ cha mẹ, tôi vẫn thỉnh thoảng nhìn thấy những chiếc cày chìa vôi…Cay lúa tuy đã  xanh hơn, tốt và mẩy hạt hơn nhờ có phân hóa học. Con trâu con bò tuy không còn phải thức khuya dậy sớm kéo cái cày chìa vôi nữa , nhưng chúng lại đang trở thành những con vật hiến tế cho con người.nhiều hơn.

Phải chăng nếu chúng biết nói thì chúng đã kêu thấu trời,  xin mãi mãi  kéo cái  cày chìa vôi  , tuy vất vả sơm chiều nhưng gắn bó với con người, cùng người vui ca :

Cấy cày vốn nghiệp nông gia,

                Ta đây trâu đấy ai mà quản công.

              Bao giờ cây lúa còn bông

Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.  

18/8/2014

Đỗ Anh Thơ

(*) lúa
(*) khoảnh ruông bị đào thành hố sâu

 

.   ;

 

Nguyễn Chân( Thơ 4 ngữ Việt- Hán-Pháp- Nga) : NHỮNG LINH HỒN BƠ VƠ

Chập chờn, leo lét lửa ma trơi,

Vất vưởng hồn oan những kiếp người.

Cõi thế lang thang cùng dựa dẫm,

Về âm quờ quạng kiếm nhau hoài.

孤 魂

糢 糊 閃 動 群 燐 火

浪 蕩 冤 魂 劫 劫 人

流 浪 陽 間 相 倚 賴

共 同 摸 索 覓 陰 間

CÔ HỒN

Mô hồ thiểm động quần lân hoả,

Lãng đãng oan hồn kiếp kiếp nhân.

Lưu lãng dương gian tương ỷ lại,

Cộng đồng mô sách mịch âm gian

LES ÂMES ERRANTES

Les feux follets vaccillants

Incarnent des âmes errantes

Des victimes des temps jadis

Imméritées cherchant appuis.

Dans l’empire des ombres maintenant

Cherchent leurs amies par tâtonnements.

БЕСПРИЮТНЫЕ ДУШИ

Теплятся меркающие болотные огни

Это все невинно убиженного души

Как бродяги прожили на взаимной помощи

На ощупь ищут друг друга в загробном мире.

NGUYỄN CHÂN 05.10.1998