Archive | Tháng Ba 2015

Nguyen Chân ( dịch sang Hán Phap Nga) : Ngày xưa trái đat thất tình của Bùi Hoàng Mạnh

Em đi đường nấy với ai
Để hồng anh héo, để mai anh tàn
Niềm vui theo gió lên ngàn
Nỗi buồn theo tóc ngút ngàn em xanh…

Ngày xưa trái đất thất tình
Lòng sôi sùng sục mà thành núi non
Dối nhau câu “trái đất tròn”
Để bao đôi lứa mỏi mòn chờ nhau
Anh không chờ đến kiếp sau
Yêu nhau thì hãy cho nhau kiếp này…

Em về với nắng gió tây
Áo em anh đắp ấm ngày không em…

JADIS LE GLOBE TERRESTRE A DEÇU EN AMOUR

BUI HOANG TAM

Tu t’en es allée avec qui sur ce chemin

Pour que mes roses et abricotiers dépérissent

La joie a suivi le vent aux forêts si lointains

À traver tes cheveux à perte de vue, je m’attriste

Jadis le globe terrestre a déçu en amour

Son noyau buoillonnait, transformant sa croûte en cordillères

On s’est trompé qu’il est tout à fait comme une sphère

Pour combien de couples s’attendaient longuement

Je ne t’attendrai pas au prochain karma, à mon tour

Si nous nous aimions, associerons-nous maintenant

Tu t’accordes avec le mistral au soleil couchant

Je me couvre par ta robe lorsque tu t’absentes

ВСТАРЬ ГЛОБУС СТРАДАЛ

ОТ НЕСЧАСТНОЙ ЛЮБВИ

БУЙ ХОАНГ ТАМ

C кем ты шагала вместе по этому пути

Чтоб мои розы и абрисосы увяннули

Радость последовала ветер на лесостепь

А грусь-волосы твои на полную зелень

Встарь глобус страдал от несчастной любви

Его ядро вскипило, создавая горы на коре

“Земной глобус-шаровидный”-Это ложь

Которая провела четов к ожиданию лруг друга

Я до следующей жизни не дожду тебя

Если влюбившись, то нужно типерь сочитаться

Ты уже с ветром на закате ушла

Я накрываюсь твоим платьем нет тебя когда

往日地球情恨  VÃNG NHẬT ĐỊA CẦU TINH HẬN

裴黃三            BÙI HOÀNG TAM

此路與誰君散步     Thử lộ dữ thùy quân tản bộ

紅梅園裏轉萎枯     Hồng, mai viên lí chuyển nuy khô

隨風歡喜林泉去     Tùy phong hoan hỉ lâm tuyền khứ

煩悶青林妳髮乎     Phiền muộn thanh lâm nhĩ phát hồ

昔日地球已失情  Tích nhật địa cầu dĩ thất tình

心中滾熱遣山生  Tâm trung cổn nhiệt khiển sơn sinh

說謊此地為球體  Thuyết hoang thử địa vi cầu thể

伴侶疲勞相等程   Bạn lữ bì lao tương đẳng trình

我不可能待後劫   Ngã bất khả năng đãi  hậu kiếp

生時相愛決交情   Sinh thời tương ái quyết giao tình

君歸與秋風殘午    Quân qui dữ thu phong tàn ngọ

我用君袍蓋孤零    Ngã dụng quân bào cái cô linh

NGUYỄN CHÂN 19.03.2015

 

Advertisements

Lai Q Nam(gt) : Hòn vọng phu Quảng Nam

Bài này là một phần của loạt bài Cảm Hoài của Đặng Dung.Trong bài

Cảm Hoài, Đặng Dung, có đoạn Đặng Dung nhớ lại cuộc hội ngộ kỳ thú với

dân làng chài từ khi Đặng Dung ngâm bài thơ Vọng Phu Thạch của Vương

Kiến.

-o0o0o-

I-Cuộc hội ngộ bất ngờ của cha con Đặng Tất _ Đặng Dung tại Cù Lao

Chàm đất QuảngNôm trên đường phục quốc . Xin đọc lại đoạn sử sau :

Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị đã có một vài trận thắng lớn trước hai kẻ

thù là Trương Phụ và Mộc Thạnh. Trong đó có trận đánh lớn vào tháng

9 nămQuý Tị (1413) ở khu vực Thái Gia. Theo Minh Sử của Trương Đĩnh

Ngọc (người Trung Quốc) thì trận đánh này xảy ra tại Ái Tử, nay thuộc

huyện Triệu Phong, Quảng Trị (dẫn lại từ vi-Wikipedia , theo Nguyễn Khắc

Thuần, sách đã dẫn, tr. 235).Tuy thắng trận hôm nay nhưng lại là điềù khơi

mào cho sự bại trận chung cuộc của họ mai sau. Vì sao?. Một là Nhà Minh

đã tăng bổ sung cho Trương Phụ 50.000 quân. Mặt khác, sau khi thắng nhà

Hồ, bọn Trương Phụ đang làm chủ đất nước mình, y đã bòn rút tài nguyên,

bóc lột người Việt tại chỗ làm phu phen, làm dân công nấu cơm, tải thương

cho lính láp bọn họ trong các trận đánh nhau chống lại Nghĩa quân . Bọn họ

đã gom được khối tài sản khổng lồ do Nhà Hồ vơ vét trong đợt đổi tiền

trước đó. Đổi tiền là vụ cướp cạn tài sản trắng trợn của nhân dân được dấu

dưới chiêu bài rất tinh vi. Cha con Hồ cho in tiền giấy, thứ tiền âm phủ, thay

cho tiền bằng bạc nén vốn đã dùng từ ngàn năm trước. Nhà Hồ khốn nạn đã

vét tài sản sạch của nhân dân trong đợt đổi tiền này. Hai là, sau mỗi trận

thắng, Đặng Dung lại hao quân mất tướng. Lực lượng hao hụt đến phân nữa

mà không sao có nguồn lực bổ sung. Đặng Dung muốn huy động sức dân

cũng không còn mấy người yêu nước giàu có dấu lén tiền cung cấp. Là

người tướng tư lệnh, Đại tư mã, đã hình dung sự “thất bại của mình”. Quý

Tị (1413), bấy giờ quân nhà Trần ít lắm.Trương Phụ vào đến Nghệ An, quan

2

Thái Phó (chức quan văn tương đương với thủ tướng bây giờ) của nhà Hậu

Trần là Phan Quý Hữu ra hàng. Con Quý Hữu là Liêu được Trương Phụ

cho làm tri phủ Nghệ An. Phan Liêu tâng công. Y Khai báo về tình hình nội

bộ bởi cha y là người điều hành việc hành chánh cho vương triều. Y khai

nhà vua Quý Khoách hiện có bao nhiêu tướng tá , người nào giỏi, người

nào dở, quân số nhiều ít, núi sông địa hình chổ nào hiểm, chỗ nào không

nhất nhất khai cả cho Trương Phụ biết. Nghe xong, Trương Phụ bèn quyết ý

vào Hóa Châu, và hội chư tướng lại để bàn kế tiến binh. Đặng Dung lấy làm

lo lắng kể từ khi cha con Phan Quý Hữu ra hàng giặc. Ông bàn với tướng

Nguyễn Cảnh Dị về việc tổ chức cuộc tấn công cảm tử lên thuyền Trương

Phụ, dù thế nào cũng còn hơn là để tình hình khốn cùng này kéo dài như cá

nằm trong đìa khi bị tát nước. Nguyễn Cảnh Dị ủng hộ ý kiến này và dành đi

thay ông. Cảm động lắm, Đặng Dung ôm lấy Nguyễn Cảnh Dị, nhưng là

tổng tư lệnh ông phải làm gương. Nhớ năm xưa nghe cha giảng, “Ta thường

tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, Ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; Chỉ

giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; Dẫu cho Trăm

thân ta phơi ngoài nội cỏ, Nghìn thây ta bọc trong da ngựa, Cũng nguyện

xin làm! ” (HTS), Đặng Dung lặp lại. Nguyễn Cảnh Dị làm thinh , biết tiên

sinh đã quyết theo lời dạy của người xưa. Nguyễn Cảnh Dị hỏi, liệu Tướng

quân mệnh hệ gì thì tôi phải làm sao?. Đặng Dung bảo hãy tin nơi ông.

Nguyễn Cảnh Dị suy nghĩ một hồi rồi nói rằng, xưa hai ông cha mình đã

từng làm quan tại đất QuảngNôm nên có lẽ Huynh và tôi cũng hơi rành

thuôc tính và tài năng của họ. Quan Tư Mã nay thử xem xét trong nghĩa

quân có ai là dân làng chài Cửa Đợi, cù lao Chàm không?. Nghe Nguyễn

Cảnh Dị nhắc dân làng chài Cửa Đợi, Đặng Dung bồi hồi nhớ lại. Ông nhớ

như in năm xưa theo cha đến vùng đất này đi tìm lại chủ tướng của cha mình

năm xưa là Hoàng Hối Khanh (1) để bàn việc phục quốc kháng Minh. Đặng

Dung không sao quên được tại hải đảo này có địa hình giống như Vương

Kiến mô tả trong bài Vọng Phu Thạch. Nhìn thấy cảnh huyên náo khi dân

làng chài đón cha con ông nam có, nữ có tại bãi biển này. lòng đày cảm

động, bất giác ông ngâm đôi câu trong bài Vọng Phu Thạch vì cảm khái

chợt về trong ông khi người chiến binh ra đi mà không hẹn ngày về. Người

vợ ngày ngày ra đứng đầu núi bên sóng biển thét gầm ngóng đợi. Cảm mến

vì đại nghĩa ngày xưa của Cha ông và danh tướng Nguyễn Cảnh Chân,

người dân ở đây tình nguyện xin theo kháng chiến. Lần đó, Cha ông chỉ

chọn người nhẹ gánh gia đình, còn trẻ, còn những người khác tuy nặng lòng

yêu nước, nhưng họ còn mẹ già, con thơ nên đành khuyên họ hãy dành lòng

yêu tổ quốc đó vào một công việc khác nhẹ nhàng hơn. Nay điểm lại, quả

thật các cận tướng của cha ông đa phần là dân Thuận Quảng theo cha

ôngngay ngày đầu tham gia trong các trận đánh, đặc biệt là trận tấn công tại

3

Bô Cô khiến nhiều đại tướng Tàu Hán vong mạng và nay trong số các chiến

binh dũng cảm ấy vẫn còn nhiều người theo hầu dưới trướng ông.

II- Trận đánh quyết tử, tác giả là người anh hùng

Chuyện khó tin trong binh sử thế giới, trường hợp hy hữu này duy chỉ có

trong quân sử Đại Việt. Khi vị tướng tư lệnh lại là cầm đầu toán người nhái

cảm tử rất gọn nhẹ dánh thẳng vào sào huyệt kẻ tử thù .

Việc tổ chức đã xong đợi ngày G sẽ đến. Cơ hội đến, vào tháng 9 được biết

quân Trương Phụ vào đến Thuận Hóa, và kéo binh tập kết vào ngã ba sông

này để tổ chức cuộc săn đuổi vua quan Hậu Trần đang đóng quân ở trên bờ .

Quan thái phó Nguyễn Súy và quan đại tư mã Đặng Dung nửa đêm chia

quân đến đánh Trương Phụ. Quan thái phó Nguyễn Súy dùng thuyền nhẹ

đánh nghi binh, giặc Minh trào về phía Nguyễn Suý, và thừa lúc đó Quan tư

mã Đặng Dung lao mình xuống nước trước, hơn mươi chiến sĩ cảm tử quân

người nhái được tổ chức theo mô thức Yết Kiêu năm xưa lao theo. Họ bơi

nhanh về phía thuyền lớn nhất, sáng nhất trên sông. Từ dấu hiệu của Đặng

Dung, bọn họ leo lên được thuyền của Trương Phụ, dùng đoản đao thịt lẹ

các tên lính đại Minh trên sàn. Họ nhào vào tên mập mạp nhất, phương phi

nhất và đã bắt sống tên này, lôi y xuống nước. Y la lên. Trương Phụ giật

mình. Do vì không biết thường ngày tên Trương Phụ mặc quần áo gì, do

chưa hề thấy mặt kẻ thù lần nào thật rõ nên họ đã bắt lầm. Thừa cơ, Trương

Phụ lập tức nhảy xuống sông lấy cái thuyền con mà chạy thoát. Bấy giờ

quân nhà Trần ít lắm nên khi Trương Phụ nhận ra họ chỉ là toán cảm tử nên

đã huy động binh sĩ phản công. Đặng Dung và binh sĩ địch không nổi phải

bỏ chạy. Từ khi thua trận ấy rồi, Trần Quý Khoách thế yếu quá không thể

chống với quân giặc được nữa, phải vào ẩn núp ở trong rừng núi. Cuộc tấn

công mạo hiểm đã thất bại. Vài chiến binh dũng cảm đã hy sinh. Máu dân

tộc nay lại loang vào biển Đông theo dòng thuỷ triều trôi dạt về quê nhà.

Không biết đêm nay tại quê nhà mẹ cha họ có được điềm báo mộng là họ đã

mĩm cười vì trách nhiệm với con em, vì nghĩa vụ đối với đất nước này đã

được thực hiện.

III- Và đây là bài Vọng Phu Thạch của Vương Kiến

望夫石

Vọng phu thạch

王建

Vương Kiến–

4

Nguyên tác và Phiên Âm

望夫石

Vọng phu thạch

望夫處,

Vọng phu xứ

江悠悠。

Giang du du…

化為石,

Hóa vi thạch

不回頭。

Bất hồi đầu.

上頭日日風和雨,

Sơn đầu nhật nhật phong hòa vũ,

行人歸來石應語。

Hành nhân quy lai thạch ưng ngữ.

Dịch thơ quốc âm .

Hòn/hồn vọng phu.

Kìa ! kìa !

_đất vọng phu,

Sóng cuồng,

_ nước mịt mù .

_Hóa đá ?,

_”thà, như thế !’

_Quay đầu ?

_“thẹn trăng thu !”

Đầu non, gió giật mưa mù,

Người đi trở lại, Đá chừ mở môi.

Laiquangnam dịch

Chú thích vài từ

5

Thạch ưng nhủ ==> ,đá mới nói . Nói gì ? ,từ gì đầu tiên khi gặp lại người

chồng hay chỉ là tiếng bật khóc.Chỉ khi dùng chữ quốc ngữ thì Đá [viết hoa

] đã biến thành người chinh phụ .Chữ Việt quốc ngữ tinh tế hơn hơn tiếng

Tàu hình vuông là vậy.

IV- Và đây là cảnh quan dưới mắt Đặng Dung ngày ấy

Hòn (hồn) vọng phu Quảng Nam quê tôi ở đâu?. Tại nơi đây năm xưa

Đặng Dung cùng cha là Đặng Tất giong thuyền đến đây tìm lại chủ tướng

Hoàng Hối Khanh. Sóng đã đánh nát tàu của Hoàng Hối Khanh. Và Hoàng

Hối Khanh tự sát để khỏi sa vào tay giặc Truong Phụ. Cũng nơi đây là nơi

các mẹ, các chị tiển con mình, em mình ra đi theo mệnh lệnh trái tim.

Từ trái qua phải H1 & H2.

H1 Hòn vọng phu Quảng Nam quê tôi, toàn cảnh

H2 Màu máu trên tảng đá, đó là màu đá tự nhiên nằm chung quanh chân

tượng và rãi rác đó đây trên bãi biển bên dưới chân tượng thiên nhiên. Hình

này màu sắc mờ vì lấy lại từ một đoạn video khá mờ vào lúc trời không

được tốt . Màu mà bạn hiền thấy tim tím đo đỏ thật ra nó là màu đỏ máu bầm

khá rõ, nó bị phản xạ bởi ánh sáng qua màu nước nên trở nên tím tái. Rất

tiếc là laiquangnam đã lấy lại hình này từ một đoạn phim video quay vội

vàng, không khí lúc đó hơi âm u.

Dáng đá màu đá có vân màu đỏ bầm bên dưới và cạnh pho tượng, đan chen,

nằm rãi rác từ tượng đến các cụm đá rãi rác trên bãi. Dân làng chài kể

lại, từ khi Đặng Dung thất trận, sau trận đột kích thất bại, đầu thế kỷ thứ

15, một trận cuồng phong dữ dội, cát chạy đá bay, và đã có một cơn địa

6

chấn, tiếp đó là một trận mưa máu. Sáng ra tiền nhân họ thấy bỗng thấy

hình tượng naỳ. Họ lập đàn chay cầu nguyện cho người chiến binh đi theo

cha con Đặng Tất được bình an. Họ lấy làm lạ là các tảng đá đan xen với

màu máu chưa bao giời xuất hiện tại đây. Linh tính, họ đã khóc oà và cuộc

chiến dành độc lập đang đi vào bước cuối. Người dân nơi đây nhất mực cho

rằng đây là điềm trời báo của đất trời khi muốn chia buồn cũng như nhắc

nhở cùng dân tộc này. Các vết chém của bọn Đại Hán lên con cái họ trong

cuộc chiến tranh vệ quốc khắc nghiệt ngày ấy tuy họ không tận mắt trông

thấy, nhưng nay bên pho tượng này, bên tảng đá này có màu đỏ tươi khiến

họ đã hiểu điều gì đã xảy ra. Ngày nay, họ hiểu nguồn gốc các vệt máu, mà

nay đã phai nhạc dần theo thời gian và thời tiết, đan chen trên nền đá là

vết chém từ bàn tay Đại Hán trên dân tộc tộc Việt trong các trận hải chiến,

hay các sự cướp bóc của Đại Hán đối với ngư dân Việt Nam hàng ngày trên

biển Đông . Dân làng chài cũng tin rằng mỗi vết máu bầm đan chen lớn dần

với nền đá cẩm thạch đang ngày đêm thay đổi, tăng dần theo số lượng người

Việt đã hy sinh trên biển Đông . Tin hay không tuỳ bạn. Máu kêu trả máu

đầu kêu trả đầu . Người ngư dân làng chài nguyện sẽ là các chiến binh dũng

cảm như tiền nhân họ xưa đã theo người anh hùng Đặng Dung tham gia

trận đột kích lên thuyền Trương Phụ năm xưa.

“Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, Ruột đau như cắt, nước

mắt đầm đìa; Chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân

thù; Dẫu cho Trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, Nghìn thây ta bọc trong da

ngựa, Cũng nguyện xin làm! ”(HTS)

Câu gối đầu giường trong lòng người Tráng sĩ chỉ huy thì lòng mẹ

cha nào mà không được an ủi ít nhiều.

V-Chú thích và tham khảo

*Mời đọc Vọng phu thạch do Sử gia Trần Trọng Kim dịch

Chổ vọng phu

Sông chảy mau

Hóa ra đá

Không ngẩng đầu

Ngày ngày đỉnh núi mưa cùng gió

Người đi có về đá mới nói.

Trần Trọng Kim

7

(1)Hoàng Hối Khanh là ai ?

Trước kia QuảngNôm là đất của Chiêm Thành, vào năm 1306 thì

thuộc Đại Việt theo thỏa ước giữa vua Chế Mân (Chiêm Thành) và vua Trần

Nhân Tông (Đại Việt) .Chế Mân dâng hai châu Ô tức Thuận Châu (nam

Quảng Trị, Huế) và châu Rí tức Hóa Châu (một phần Huế, bắc sông Thu

Bồn) làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân, con gái vua Trần Nhân Tông.

Năm 1402, nhà Hồ thay thế nhà Trần. Nhà Hồ chia Hóa Châu thành 4 châu

nhỏ hơn là Thăng Châu, Hóa Châu, Tư Châu và Nghĩa Châu và đặt An Phủ

Sứ cai trị. Hai viên quan cai trị Thuận Quảng vào thời ấy là Đặng Tất ở Hóa

Châu (Huế) và, Nguyễn Cảnh Chân làm An phủ sứ lộ Thăng Hoa, đất Quảng

Nam quê tôi ngày nay có diện tích lớn trong địa danh QuảngNôm xa xưa đó

Năm 1391, Hồ Quý Ly phong Đặng Tất làm Đại tri châu Hoá châu

dưới quyền của Hoàng Hối Khanh, làm Tuyên uý sứ trấn thủ cả vùng

Thăng Hoa. Hối Khanh chọn Đặng Tất, Phạm Thế Căng (sau là Việt gian)

và Nguyễn Lỗ (sau là Việt gian) giúp việc cho mình. Nhà Minh đem quân

sang xâm chiếm nước Đại Ngu, Cha con Hồ Quý Ly thua chạy vào nam, bị

quân Minh đuổi gấp. Hồ Quý Ly bèn viết thư cho Hoàng Hối Khanh, sai lấy

dân Việt mới đến khẩn hoang ở đây, Thăng Hoa và dân bản địa cũ làm

quân “cần vương” /( cứu vua Hồ). Được bao nhiêu quân thì giao hết cho

Nguyễn Lộ. Tháng 6 năm 1407 cha con Hồ Quý Ly bị quân Minh bắt. Quân

Minh tiến vào “bình định” Hoá châu. Phạm Thế Căng (Việt gian) nhanh

chóng đón đầu quân Minh ở Nghệ An xin hàng. Chiêm Thành nhân đó

mang quân cố đánh chiếm lại đất Thăng Hoa. Dân di cư mới đến vùng đất

mới trở thành rắn mất đầu. Trăm bề đau khổ. Hoàng Hối Khanh phân các

cánh quân rút về Hoá châu. Đặng Tất bằng đường thuỷ đi trước, Nguyễn Lỗ

đường bộ đi sau. Trấn phủ sứ Thuận Hoá là Nguyễn Phong được Nguyễn Lỗ

nói sao đó, ngăn không cho Đặng Tất vào thành. Tất nổi giận bèn đánh

thành. Giết được Phong. Nguyễn Lỗ lộ chân tướng Việt gian chạy sang

Chiêm đầu hàng và được người Champa trọng dụng. Lính “Cần Vương”

người “Thuận Quảng “ năm xưa nay tất cả đều theo về Đặng Tất. Tính

nuốt xong dân Đại Việt thì sẽ nuốt Chiêm Thành, Minh triều gai mắt nhân

vật mưu sĩ mới của vua Chiêm là Nguyễn Lỗ, họ bèn dụ y sang Yên Kinh

làm quan và sống vinh hiển tại đó cùng gia đình. Tin lời, Nguyễn Lỗ sang

Tàu, vua Minh bèn đem giết đi. Tại quê nhà, cả gia đình việt gian Nguyễn

Lộ bị Hoàng Hối Khanh thịt sạch . Nói về Hoàng Hối Khanh và Đặng Tất.

Trương Phụ biết Hoàng Hối Khanh là hiền tài của nhà Hồ bèn sai Đỗ Tử

Trung đi chiêu dụ họ. Hối Khanh không ra cộng tác với giặc Minh xâm

lược, ông bỏ trốn. Tướng quân Đặng Tất bị lâm vào thế kẹp thịt, nằm giữa

8

hai kẻ địch. Phía Nam thì quân Chiêm như bầy hổ đói ,nậng lòng căm thù ,

họ đánh ra đòi lại đất, dân mới di cư đến lập nghiệp, lớp bị giết, lớp bị hãm

hiếp, dân tình đói khổ trăm bề. Phía Bắc thì quân Minh đang cực kỳ tàn bạo

với dân Đại Việt, đốt sạch phá sạch lăng miếu quốc gia theo lệnh của Minh

Thành Tổ. Đặng Tất bèn chọn quyết định khó khăn nhất trong đời làm

tướng của mình, đầu hàng quân Minh cốt để cứu dân. Thị phi? , mặc!.

Phải chận ngay cánh quân Chiêm như bầy hổ đói kia trước. Sau đó, sẽ tính

đến quân nhà Minh bởi binh sĩ Tàu Hán chuyên nghiệp, tiềm lực hơn, phải

có cách tập hợp binh lực khác thường. Nay là lúc thế nước như lửa cháy, ta

chưa đủ sức trực diện với bọn họ. Đặng Tất xin hàng, quân Minh xem như

đã tạm yên phía Nam, nhẹ tay với dân Đại Việt trong vùng đất cai trị của

ông. Dân Thuận Quảng tạm thời được yên, họ hết sức biết ơn ông. Trương

Phụ cho ông giữ chức Đại tri châu Hoá châu như cũ. Tạm yên mắt phía Bắc,

Đặng Tất dồn sức chống đở Chiêm Thành phía Nam. Với tài thao lược của

mình, quân Chiêm không đánh nổi phải lui quân. Đặng Tất ngày đêm lo việc

phục quốc. Phải đi tìm Hoàng Hối Khanh bàn mưu chống quân Minh. Nghe

tin Hoàng Hối Khanh đang ở Cù Lao Chàm ( tức vùng biển Cửa Đợi ,Hội

An bây giờ), mừng quá, nhưng đến nơi thì được dân ở đây cho biết: “Tháng

7 năm 1407, Hối Khanh về đến cửa Hội, gặp gió to đánh vỡ thuyền, binh sĩ

không còn, bị tay sai của giặc Minh vây tứ bề, Hối Khanh tự sát. Trương

Phụ bèn cho người đem thủ cấp của Hối Khanh ra bêu ở chợ Đông Đô để

thị chúng” . Thói giết người, rồi cắt đầu người mang về báo công với vua

Hán, hay treo tại nơi thị tứ để răn đe, là phong cách hành xử xưa nay của

bọn Tàu Hán xâm lược có từ hàng ngàn năm trước đối với dân tộc ta. Người

Tàu Hán tin rằng, một khi người bị mất đầu, thì do thân và đầu không liền

nhau họ sẽ không bao giờ được đi đầu thai trở lại thành người để báo thù họ.

Quả thật, bọn Tàu Hán từ vua đến quan luôn sợ lòng căm thù dai dẳng của

người Việt, nên luôn cắt đầu tướng Việt bại trận. Đặng Tất đau buồn.

Thương tiếc. Thề báo thù cho chủ tướng. và ông đã thực hiện và đã chém

đầu trả thù không biết bao nhiêu danh tướng Tàu đi theo Mộc Thạnh tại trận

Bô Cô sau đó không lâu .

2- vài giòng ưu tư .

Đành rằng Vọng phu thạch là Đá vọng phu. Tàu gọi là thạch ,ta dịch

là đá . Quảng Nam quê tôi thì gọi đúng là hòn. Âm Quảng Nam quê tôi, hòn

hay hồn họ đều đọc như nhau.

Bài thơ được dịch theo tinh thần thế đất ,thế tượng đài trên biển ngày

ngày trông ra Hoàng sa và Trường sa của Việt Nam, nơi đó có chồng họ ,

con trai họ ngày đêm bám biển làm kế sinh nhai và làm nhiệm vụ do tổ quốc

giao cho.

9

Nhớ câu nói của TT Putin ,khi ông đến thị sát vụ nổ chìm tàu ngầm

nguyên tử tại biển Bắc năm xưa

Lợi dụng lòng yêu nước mà trao võ khí tồi cho người chiến binh là kẻ

sát nhân, kẻ ráp tâm bán nước. gây khổ đau biết bao nhiêu người mẹ người

cha ,người vợ người con ,lý ra họ đã sống sót và đã chiến thắng với võ khi

có tương đối trên tay (PUTIN) .

Đông Dạ Văn Trùng.

3-

Cù lao chàm ngày nay chụp lại từ trang báo trong nước.

4-laiquangnam có xử dụng tài liệu lịch sử của Sử gia Trần Trọng Kim,

ĐVSKTT, và nguồn vi-wikipedia và các nguồn khác trên mạng toàn cầu.

Quê người ngày cuối đông , lạnh quá !

NGÀY 8 THÁNG BA, và Nhớ ông Ngoại kính yêu

Laiquangnam

Laiquangnam giới thiệu :Cảm Hoài của Đặng Dung,

Laiquangnam giới thiệu :Cảm Hoài của Đặng Dung,

Bạn có nghe từ trời xanh vọng lại giọng ngâm của Người tráng sĩ cất lên

từ vần trăng treo sáng vằng vặc trên đầu chúng ta trong bầu trời lộng gió đêm

nguyên tiêu này không?.

-o0o0o-
Laiquangnam giới thiệu

thi nhân tráng sĩ Đặng Dung

LUẬN ANH HÙNG.

Đoạn I, phía người Việt.

Vận khứ anh hùng ẩm hận đa ( Đặng Dung)

Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay. (Phan Kế Bính dịch )

Dẫn nhập

Ai trong chúng ta tin rằng hai câu trong bài Cảm Hoài của Đặng Dung

Thời lai đồ điếu thành công dị,

Vận khứ anh hùng ẩm hận đa. (Đặng Dung)

là hai câu than vãn?, là hai câu tự an ủi cho sự thành bại của người tráng sĩ tự

chống chế cho đở quê độ?. Tôi không tin nay lại còn có ai đó trong chúng ta lại

nghĩ như thế. Một Đặng Dung với nhân cách cao thượng không bao giờ lại viết

đẫm tinh thần AQ như thế.Than vãn hay tự an ủi không phải là tính cách của người

tráng sĩ. Do một thuộc tính có tính cách bẩm sinh. Thi nhân Việt xưa, họ rất tài

tình khi viết các dòng thơ nén, rất ngắn gọn và đầy ẩn dụ. Chắc chắn một người

thi nhân Lạc Việt đã chọn cho mình là cuộc chiến đấu lâu dài đến cả ngàn năm đối

với bọn Phương Bắc, họ không bao giờ tự vỗ về an ủi mình như thế. Ích gì. Ngã

xuống?,_ đứng lên!, _cầm gươm rồi xông tới. Tuổi cao nay bó tay làm không được

2

việc, qua thế giới bên kia ngồi mài thanh kiếm báu cho đến khi thế giới nhân sinh

này vĩnh viễn mất đi. Bạn có nghe từ trời xanh vọng lại giọng ngâm của Người

tráng sĩ . Bạn có nghe từ trời xanh vọng lại giọng ngâm của Người tráng sĩ cất

lên từ vần trăng treo sáng vằng vặc trên đầu chúng ta trong bầu trời lộng gió đêm

nguyên tiêu này không?. Hành động và thái độ của người Tráng sĩ truyền niềm

tin đến cho Đàn Chim Việt đang ở khắp bốn phương trời vào những đêm rằm rực

sáng, nhất là vào đêm nguyên tiêu rằm tháng giêng đầu năm. Ai thiền thì cứ thiền,

ai muốn gặp tiền nhân Tráng sĩ thì hãy nhìn lên trời.

Ngày nào mà còn có người Việt chịu ngước nhìn mình, suy ngẫm chia sẻ

cùng mình thì ngày ấy người tráng sĩ vẫn còn kê thanh kiếm báu đầy ẩn dụ, thứ

võ khí sát thương vô địch mà người Việt ngày nay khắp năm châu phải cố tìm cho

được để bảo vệ người mẹ, người chị người vợ người con trước con sói phương

Bắc .

Quốc thù vị báo đầu tiên bạch

Kỷ độ Long Tuyền đái nguyệt ma.

Đặng Dung

=> Quốc thù canh cánh đầu tiên bạc!

Gối nguyệt… mài gươm… mấy độ qua!

Nhớ xưa khi cha Tráng sĩ thường dạy ông bổn phận của một làm

tướng, cầm quân vệ quốc tại nhà, hay là lúc mà cha con họ trên đường đi giong

thuyền tới Cù Lao Chàm, Cửa Đợi, tức địa phận Hội An ngày nay, cố tìm ra chủ

tướng cũ, Hoàng Hối Khanh, nghe đâu là nơi trú ẩn, “Ta thường tới bữa quên ăn,

nửa đêm vỗ gối, Ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; Chỉ giận chưa thể xả thịt,

lột da, ăn gan, uống máu quân thù; Dẫu cho Trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ,

Nghìn thây ta bọc trong da ngựa, Cũng nguyện xin làm! ” Hịch tướng sĩ” . Trần

Quốc Tuấn. Từ đó Hưng Đạo Đại Vương và danh tướng chỉ huy đoàn cảm tử quân

người nhái Yết Kiêu, anh hùng Phạm Ngũ Lão luôn là các vị anh hùng ám lấy tuổi

thiếu niên của ông. Ngài truyền cho chúng ta đôi điều khôn dại trong việc vận

động quần chúng trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm sau này nếu đất

nước này phải cam chịu một lần nữa. Lời dạy thư nhất chính là lời dạy của tiền

nhân ta, đức Thánh Trần. Đất nước ta luôn bị họa Phương Bắc xâm lược từ thời lập

quốc, nay lại tiếp tục bị xâm lăng càng lúc càng khốc liệt hơn với muôn hình thái

ngày càng tinh vi hơn. Người lãnh đạo của ta và tướng lãnh của ta phải có “ nương

3

sức dân mà lập kế lâu bền “ , hai là người đại tướng cầm quân phải học ngay bài

học này “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, Ruột đau như cắt, nước mắt

đầm đìa; Chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; Dẫu cho

Trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, Nghìn thây ta bọc trong da ngựa, Cũng nguyện

xin làm! ” ; ba là “khi minh chủ đoạt được chính quyền, tướng lãnh phải mau mau

tránh xa các Minh chủ có hành xử theo kiểu Lưu Bang, hãy chống lại Minh Chủ

ấy, bởi nay cốt cách Y đã khác xưa rồi, nếu không thì vượng khí quốc gia sẽ tàn

lụi,cháu con mình mãi mãi tàn lụi” .

Cả ba lời dạy này, Đặng Dung đều theo rất sát. Do bối cảnh xuất xứ bài thơ

rất ngặt nghèo, tráng sĩ Đặng Dung buộc phải nén ý, chúng ta ngày nay may mắn

được đọc ý Ngài, buộc lòng phải giải mã cho được, bởi vai trò người sĩ quan đề

lôt cho lớp 1,5 mai sau. Laiquangnam, tôi tin rằng tiền nhân ta đã gởi gấm vào đấy

một bài học khôn dại, một lời dạy kín đáo. Tìm không ra, giải không tới là do tôi

quá kém trí năng, các bạn hãy tiếp tay. Xưa thế hệ Đặng Dung không làm được

nhưng mai sau người Việt ở khắp năm châu sẽ rút ra được bài học từ sự thất bại

này của ông mà tránh đi vết xe cũ. Lại một lần nói điều “ Rất tiếc!”. Cha ông là

Đặng Tất đã thờ lầm một Minh chủ khốn nạn nên đã mạng vong. Cuộc chiến đang

trên đà thắng lợi bổng nhiên phải ngừng,tan bầy xẻ nghé, dân tộc ta đã rước thêm

lắm điều bất hạnh. Đánh giá một nhân vật mà mình tưởng là người minh chủ như

Lưu Bang của Hàn Tín, hay Trần Giản Định Đế của cha mình ( Đặng Dung) đều

là tai nạn cho đất nước này.

Quan niệm về hai chữ anh hùng của tiền nhân ta

Dưới mắt chúng ta cuôc đời họ (Đặng Dung và đồng đội) đều là những tấm gương

anh hùng,cho dù thi nhân không tự kể ra. “ Vua tôi họ vui vẻ đón nhận cái chết,

không lời ta thán. Họ cùng nhảy xuống biển tuẩn tiết không để cho địch làm nhục.

Họ đã chết thay đồng bào Đại Việt chúng ta ngày ấy, chết để khí phách Việt Nam

kết tinh vào cuộc khởi nghĩa tiếp theo của Lê Lợi.” Người anh hùng luôn luôn đón

nhận chết một cách thật bình tỉnh. Trong các người anh hùng đương thời,thì cách

chọn cái chết của Đặng Dung là quá đỗi anh hùng . Thật khó mà hình dung các

hành động cực kỳ anh hùng của Đặng Dung bàng bạc trong từng từ trong thơ, nay

soi lại trong lịch sử dân tộc mình chúng ta không khỏi cảm thấy mình đã sai trái do

vì đọc quá lẹ, nên không hiểu hết hành động của Tráng sĩ và của từng đồng đội của

tiên sinh. Khi sáng tác bài thơ này từ trong khoang hầm tàu ngục thất tối om, các

gương anh hùng vị quốc vong thân, mỗi người thể hiện mỗi cách. Người thì không

chết trận nhưng vị bách hại bởi chính vì vua của mình như cha mình là Đặng Tất.

Người tự sát khi sa vào tay giặc như Nguyễn Hy Chu,Nguỵ Thức. Người tự sát khi

4

bị săn đuổi như Hoàng Hối Khanh. Người đang là chiến binh dũng cảm bị thương,

giặc mang ra hành hình bởi nghĩ rầng khi bị thương thì người không được mấy

tỉnh táo khôn ngoan nên đó là lúc hỏi cung khai thác ,dụ không được hành hình

bằng cách lóc từng tấc da thịt họ nhưng họ vẫn không hề khiếp sợ, để có thể bị

mua chuộc, khai báo nơi trú ẩn của đồng đội vua tôi, như danh tướng Nguyễn Cảnh

Dị . Còn ông thì sao? Sao tiên sinh không tự sát ngay khi bị bắt? hay tiên sinh tỏ

khí phách mình bằng cách chửi te tát như danh tướng Nguyễn Cảnh Dị?.Không.

Trí chúa hữu hoài phù địa trục. Người chiến binh phải bảo vệ nhà vua, bởi vua

hiện thân của danh dự quốc gia. Chỉ khi họ đã chết thì mình mới được chết sau.

Họ sống mình phải săn sóc chu đáo cho dù lúc này họ cũng là tù binh như mình. Dĩ

nhiên một khi chấp nhận áp sát theo vua, họ phải sống trong vòng tay địch, là họ

sẳn sàng chấp nhận bị tra tấn, bị cực hình, nhất là khi là tù binh của bọn Tàu Hán

thời Minh, qua tay gian ác Trương Phụ. Trong không gian đó, qua nhiều suy ngẫm

tiên sinh đã hạ bút viết hai câu xuất thần

Thời lai đồ điếu thành công dị

Vận khứ anh hùng ẩm hận đa (Đặng Dung )

Và Phan Kế Bính nhà dân tộc học đầu thế kỷ 20,đã am hiểu lịch sử, đã dịch ra

thơ quốc âm với dòng thơ như có quỷ thần nhập vào. Nhờ vậy mà lớp học sinh

chúng tôi ngay từ lớp nhỏ khi đọc sử của Sử gia Trần Trọng Kim đã hiểu và rất yêu

thích câu thơ dịch này. Thuở đó mới học thất lục làm sao mà thuộc nỗi hai câu chữ

nguyên tác chữ Hán âm u trên. Thời lai đồ điếu thành công dị, Vận khứ anh hùng

ẩm hận đa. (Đặng Dung),

=> Bần tiện gặp thời lên cũng dễ,

Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay. (Phan Kế Bính)

Khi hạ bút viết hai câu này, thì anh hùng đương thời dưới mặt Tráng sĩ Đặng

Dung là ai?. Bản thân ông có là người anh hùng hay không? .Cụ thể ra sao? Chúng

ta cũng cần biết qua, có như thế thì ta hiểu thì Đặng Dung và Phan Kế Bính miệt

thị đối với hai nhân vật lừng danh trong binh sử Tàu Hán trong bài là đúng người

đúng tội.

1-Xuất xứ bài thơ và Về cái chết của “Nhà vua và nội các” .

Sử kể rằng “sau khi vua tôi Họ gồm nhà vua Trần quý Khoách, Đặng

Dung, Nguyễn Súy … tất cả cùng giặc Minh bắt. Tất cả họ bị trói gom lại ngồi trên

hầm thuyền trên đường giải về Yên kinh (tức Bắc Kinh ), kinh đô Tàu thời Minh.

Trong một khoang thuyền ẩm thấp, tối om luôn ngập nước, hôi hám và ngột ngạt,

5

Kẻ Sĩ Đặng Dung kiên trì viết lên vỏ thuyền từng từ một trong bài thơ thất ngôn

bát cú của mình như là cách để quên thời gian trong ngục thất. Tráng sĩ đồ đi đồ

lại bằng những chiếc đủa ăn cơm. Sau khi được chém đầu Liễu Thăng tại Ải Chí

Lăng, và cuối cùng chơi đẹp bằng việc cho hàng binh nhà Minh được toàn mạng ra

khỏi đất nước ta, Vua Lê Lợi cho lập đoàn sứ đi cống nạp người vàng Liễu Thăng

cho yên chuyện. Nhà Minh dẫn đoàn sứ giả người Việt đi xem lại khoang tàu năm

xưa đã giam giữ vua quan nhà Hậu Trần. Mục đích là “hăm doạ và gieo sắc sự sợ

hãi” cho đoàn sứ giả Việt. Do vì kính yêu người đã khuất, đoàn sứ có người ở lại

rất lâu trong khoang này, săm soi từng góc như để cùng chia sẽ nỗi khổ đau, nhọc

nhằn của tiền nhân mình gần hai mươi năm trước. Họ đã may mắn thấy dòng chữ

lờ mờ mà năm xưa Đặng Dung đã khắc trên ván thuyền. Lặng lẽ chép lại, lặng lẽ

học thuộc và lặng lẽ lén mang về nước, nhờ vậy mà chúng ta có bài thơ hay duy

nhất này của Kẻ Sĩ Tráng sĩ Đặng Dung. Bài thơ đúc kết tâm tư của người Tráng sĩ

về thế nước, luận về các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì tổ quốc , và vai trò người

tướng lãnh phải làm gì để đất nước này còn có thể tồn tại được bên cạnh kẻ thù

truyền kiếp ngày càng lớn mạnh.

Sử kể rằng, Đặng Dung vốn coi cái chết nhẹ như lông hồng, ông thường

ngâm vang cho các chiến hữu cùng nghe bài thơ này. “Nhóm quý Ông” cùng nhau

gõ ván thuyền giữ nhịp. Lính canh xem Họ khác gì như cá nằm trên thớt, nay cam

đành số phận. Họ không còn mấy ngày trên thế gian. Bọn lính canh lơ là và trở nên

dễ chịu là lúc Quý Ông lập mưu, xin lính canh đựợc chút không khí để thở do bởi

có người đang ốm. Bất ngờ, kẻ trước người sau cùng nhào xuống biễn từ trầm qua

ô cửa vừa mở ra.

Một thiên anh hùng ca lẫm liệt, một cái chết của một tập thể kiêu hùng trong

dòng sử Việt. Đặng Dung xứng đáng là tiền hiền của dân xứ Quảng nam, phần đất

chính trong phủ Thăng Hoa thời Trần,thế kỷ thứ 14 đầu thế kỷ thứ 15. Google

search ” địa danh Quảng Nam “ , tức QuảngNôm vào đời vua Trần Nhân Tôn.

Luận anh hùng, mà tác giả Đặng Dung thể hiện qua hai câu

Thời lai đồ điếu thành công dị

Vận khứ anh hùng ẩm hận đa (Đặng Dung )

Câu thơ chứa quá nhiều bí mật nằm khuất sau dòng chính sử .Trong khoang tàu

ẩm thấp, tối tăm, ý thơ cô đọng từ trong tâm thức trào ra, Đặng Dung ghi lại điều

khôn dại của một người đại tướng cầm quân phò vua phục quốc . Thơ hay khi là

thơ nénÝ. Khi người sáng tác thân trong tù, không giấy bút, dòng thơ được sửa đi

sửa lại trong đầu cho đến khi ưng ý nhất. Thơ trong tù bao giờ cũng hay, cũng sâu

là vậy. Nó hoàn toàn khác với thơ tình, dòng thơ tình khi trào ra là thi nhân có sẳn

6

giấy bút ghi ngay, nên ai cũng làm được cho chính đôi câu thơ tình. Dẫn đến việc

thơ tình của tôi là nhất là vậy.

Anh hùng dưới mắt Đặng Dung họ là ai ?. Dùng đối tượng nào để so sánh?. Không

có gì làm bật nét tương phản rõ ràng và khôn ngoan bằng cách dùng ngay những

người được chính sử Tàu ngợi ca họ là anh hùng như Hàn Tín và Phàn Khoái . Tại

sao Đặng Dung lại chọn hai nhân vât này, dễ hiểu bởi bọn họ được giới học trò

của ta biết tường tận. Tiền nhân ta kinh thật!

Anh hùng Việt đương thời dưới mắt Đặng Dung, họ là ai ?, sống chết thế nào?.

Toàn là người thật việc thật. Không sao không cúi đầu trước họ. Mãi đến 600 năm

sau, như một sự hiển linh, nhà dân tộc học đã có phút xuất thần sau khi suy ngẫm

câu từ của tiền nhân, Cụ Phan Kế Bính đã dịch như vầy, mới đầu ta tưởng dịch

thoát ý thơ. Không đâu, dòng thơ dịch này là một sự nối kết huyền diệu giữa người

nay với tiền nhân .

=> Bần tiện gặp thời lên cũng dễ,

Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay. (PKB)

Để làm sáng tỏ điều này, để cùng hưởng lấy cái hay nhất trong câu thơ, chúng ta

hãy cùng đọc lại lịch sử. Anh hùng có thật mà cuộc đời Đặng Dung đã từng chứng

kiến khi còn sống.Vua Lê Thánh Tông ban chiếu tặng cha con Ngài hai câu đối:

Quốc sĩ vô song, song quốc sĩ

Anh hùng bất nhị, nhị anh hùng

Lê Thánh Tông

1-Hoàng Hối Khanh là anh hùng .

Trước kia QuảngNôm là đất của Chiêm Thành, vào năm 1306 thì

thuộc Đại Việt theo thỏa ước giữa vua Chế Mân (Chiêm Thành) và vua Trần Nhân

Tông (Đại Việt) .Chế Mân dâng hai châu Ô tức Thuận Châu (nam Quảng Trị, Huế)

và châu Rí tức Hóa Châu (một phần Huế, bắc sông Thu Bồn) làm sính lễ cưới công

chúa Huyền Trân, con gái vua Trần Nhân Tông. Năm 1402, nhà Hồ thay thế nhà

Trần. Nhà Hồ chia Hóa Châu thành 4 châu nhỏ hơn là Thăng Châu, Hóa Châu, Tư

Châu và Nghĩa Châu và đặt An Phủ Sứ cai trị. Hai viên quan cai trị Thuận Quảng

vào thời ấy là Đặng Tất ở Hóa Châu (Huế) và, Nguyễn Cảnh Chân làm An phủ sứ

lộ Thăng Hoa, đất Quảng Nam quê tôi ngày nay có diện tích lớn trong địa danh

QuảngNôm xa xưa đó.Năm 1391, Hồ Quý Ly phong Đặng Tất làm Đại tri châu

7

Hoá châu dưới quyền của Hoàng Hối Khanh, làm Tuyên uý sứ trấn thủ cả vùng

Thăng Hoa. Hối Khanh chọn Đặng Tất, Phạm Thế Căng (sau là Việt gian) và

Nguyễn Lỗ (sau là Việt gian) giúp việc cho mình. Nhà Minh đem quân sang xâm

chiếm nước Đại Ngu, Cha con Hồ Quý Ly thua chạy vào nam, bị quân Minh đuổi

gấp. Hồ Quý Ly bèn viết thư cho Hoàng Hối Khanh, sai lấy dân Việt mới đến

khẩn hoang ở đây, Thăng Hoa và dân bản địa cũ làm quân “cần vương” /( cứu vua

Hồ). Được bao nhiêu quân thì giao hết cho Nguyễn Lộ. Tháng 6 năm 1407 cha

con Hồ Quý Ly bị quân Minh bắt. Quân Minh tiến vào “bình định” Hoá châu.

Phạm Thế Căng (Việt gian) nhanh chóng đón đầu quân Minh ở Nghệ An xin hàng.

Chiêm Thành nhân đó mang quân cố đánh chiếm lại đất Thăng Hoa. Dân di cư

mới đến vùng đất mới trở thành rắn mất đầu. Trăm bề đau khổ. Hoàng Hối Khanh

phân các cánh quân rút về Hoá châu. Đặng Tất bằng đường thuỷ đi trước, Nguyễn

Lỗ đường bộ đi sau. Trấn phủ sứ Thuận Hoá là Nguyễn Phong được Nguyễn Lỗ

nói sao đó, ngăn không cho Đặng Tất vào thành. Tất nổi giận bèn đánh thành. Giết

được Phong. Nguyễn Lỗ lộ chân tướng Việt gian chạy sang Chiêm đầu hàng và

được người Champa trọng dụng. Lính “Cần Vương” người “Thuận Quảng “ năm

xưa nay tất cả đều theo về Đặng Tất. Tính nuốt xong dân Đại Việt thì sẽ nuốt

Chiêm Thành, Minh triều gai mắt nhân vật mưu sĩ mới của vua Chiêm là Nguyễn

Lỗ, họ bèn dụ y sang Yên Kinh làm quan và sống vinh hiển tại đó cùng gia đình.

Tin lời, Nguyễn Lỗ sang Tàu, vua Minh bèn đem giết đi. Tại quê nhà, cả gia đình

việt gian Nguyễn Lộ bị Hoàng Hối Khanh thịt sạch . Nói về Hoàng Hối Khanh và

Đặng Tất. Trương Phụ biết Hoàng Hối Khanh là hiền tài của nhà Hồ bèn sai Đỗ

Tử Trung đi chiêu dụ họ. Hối Khanh không ra cộng tác với giặc Minh xâm lược,

ông bỏ trốn. Tướng quân Đặng Tất bị lâm vào thế kẹp thịt, nằm giữa hai kẻ địch.

Phía Nam thì quân Chiêm như bầy hổ đói ,nậng lòng căm thù , họ đánh ra đòi lại

đất, dân mới di cư đến lập nghiệp, lớp bị giết, lớp bị hãm hiếp, dân tình đói khổ

trăm bề. Phía Bắc thì quân Minh đang cực kỳ tàn bạo với dân Đại Việt, đốt sạch

phá sạch lăng miếu quốc gia theo lệnh của Minh Thành Tổ. Đặng Tất bèn chọn

quyết định khó khăn nhất trong đời làm tướng của mình, đầu hàng quân Minh cốt

để cứu dân. Thị phi? , mặc!. Phải chận ngay cánh quân Chiêm như bầy hổ đói kia

trước. Sau đó, sẽ tính đến quân nhà Minh bởi binh sĩ Tàu Hán chuyên nghiệp,

tiềm lực hơn, phải có cách tập hợp binh lực khác thường. Nay là lúc thế nước như

lửa cháy, ta chưa đủ sức trực diện với bọn họ. Đặng Tất xin hàng, quân Minh xem

như đã tạm yên phía Nam, nhẹ tay với dân Đại Việt trong vùng đất cai trị của ông.

Dân Thuận Quảng tạm thời được yên, họ hết sức biết ơn ông. Trương Phụ cho ông

giữ chức Đại tri châu Hoá châu như cũ. Tạm yên mắt phía Bắc, Đặng Tất dồn sức

chống đở Chiêm Thành phía Nam. Với tài thao lược của mình, quân Chiêm không

đánh nổi phải lui quân. Đặng Tất ngày đêm lo việc phục quốc. Phải đi tìm Hoàng

Hối Khanh bàn mưu chống quân Minh. Nghe tin Hoàng Hối Khanh đang ở Cù Lao

Chàm ( tức vùng biển Cửa Đợi ,Hội An bây giờ), mừng quá, nhưng đến nơi thì

8

được dân ở đây cho biết: “Tháng 7 năm 1407, Hối Khanh về đến cửa Hội, gặp gió

to đánh vỡ thuyền, binh sĩ không còn, bị tay sai của giặc Minh vây tứ bề, Hối

Khanh tự sát. Trương Phụ bèn cho người đem thủ cấp của Hối Khanh ra bêu ở

chợ Đông Đô để thị chúng” . Thói giết người, rồi cắt đầu người mang về báo công

với vua Hán, hay treo tại nơi thị tứ để răn đe, là phong cách hành xử xưa nay của

bọn Tàu Hán xâm lược có từ hàng ngàn năm trước đối với dân tộc ta. Người Tàu

Hán tin rằng, một khi người bị mất đầu, thì do thân và đầu không liền nhau họ sẽ

không bao giờ được đi đầu thai trở lại thành người để báo thù họ. Quả thật, bọn

Tàu Hán từ vua đến quan luôn sợ lòng căm thù dai dẳng của người Việt, nên luôn

cắt đầu tướng Việt bại trận. Đặng Tất đau buồn. Thương tiếc. Thề báo thù cho chủ

tướng. và ông đã thực hiện và đã chém đầu trả thù không biết bao nhiêu danh

tướng Tàu đi theo Mộc Thạnh tại trận Bô Cô sau đó không lâu .

Hoàng Hối Khanh là anh hùng dưới mắt Tráng sĩ Đặng Dung.

Phẩm chất thứ nhất :

Phận làm tướng cần khí tiết, chọn tự sát không để sa vào tay địch khi sa cơ.

2-Đặng Tất cha mình(Đặng Dung) là một anh hùng .

Trương Phụ cùng tướng người Việt là Mạc Thuý vào cướp nước Đại

Việt năm 1408), Mạc Thuý đã lấy một người phụ nữ Việt . Bà con ai?, Họ gì ?

Sinh ra ông nội của Mạc Đăng Dung. Mạc Thuý là tổ bốn (4) đời của Mạc Đăng

Dung (Dung sinh ngày 23 tháng 11, 1483 ) mang quân vào đánh Diễn châu. Quân

Hậu Trần ít không chống nổi, rút vào Hoá châu. Khi Trương Phụ đuổi đến

cửa sông Gianh, Phạm Thế Căng ra đón, được Phụ cho làm Tri phủ Tân Bình. http:/

/vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%B7ng_T%E1%BA%A5t (nguồn này

đáng tin cậy nhất về thân thế Mạc Đăng Dung). Vậy nhá, rõ ràng Mạc Đăng Dung

vốn là anh Việt gian nhà nòi. Cái đuôi gốc Tàu quá rõ. Người Việt đã dại dột nuôi

ong tay áo nhiều lần khi xử dụng người Tàu trong “nội các” của mình. Biết bao giờ

người lãnh đạo quốc gia chúng ta học được cái ngu này?, Thấm và đau quá cho

dân tộc Việt!. Mạc Đăng Dung phá nát đất nước này là vậy. Mạc Đăng Dung nhờ

ông có ông cố nội gốc Minh Tàu Hán 100%, nên trong nhà có đồng ra đồng vào.

Xuất phát điểm của Mạc Đăng Dung tốt hơn với các bạn trẻ người Việt cùng trang

lứa, nên y đã có điều kiện học hành tốt hơn và đậu tiến sĩ thời Hậu Lê không có gì

phải ngợi khen y; vả lại tiếng Tàu vốn là tiếng nói của ông cố nội y. Y thử sinh ra

trong một gia đình người Việt,cơm không đủ ăn, sách không có mà học, nhà dột

cột xiêu thì biết đá biết vàng. Gốc Tàu Hán trong Mạc Đăng Dung quá rõ, sau Y

cướp ngôi lên làm vua và dâng đất Cao Bằng cho Tàu Hán. Danh dự gì mà nhận là

9

hậu duệ của y. Vài anh hùng từ dòng họ nhà y có do vì số người này quá mau mắn

khi họ được pha trộn qua quá nhiều đời. Từ máu họ ngoại người Việt, người mẹ

Việt Nam của họ đã rót vào họ giòng máu Việt, hát ru họ qua dòng ca dao, đẫm

tình thương và nhân cách Việt nên họ đã trở thành người Việt, nhưng đó là những

nhân vật vô cùng quý hiếm trong lịch sử. Không biết ai trong số các hậu duệ của y

sẽ đổi sang họ Tàu [莫],đọc theo âm Bắc Kinh là Mo. như lão Wu Khiêu đã làm

mới đây, 2014?. Chờ xem!. BaTau đời đời là vậy. Dễ gì thay đổi dòng máu Đại

Hán trong người bọn họ?. Lại nói về việc Trương Phụ và Mạc Thuý mang quân

vào đánh Diễn châu. Quân Hậu Trần ít không chống nổi, rút vào Hoá châu. Khi

Trương Phụ đuổi đến cửa sông Gianh, Phạm Thế Căng ra đón, được Phụ cho làm

Tri phủ Tân Bình. Coi như đã dẹp xong Giao Chỉ, Phụ rút về Đông Quan (Hà Nội)

rồi mang đại quân về nước. Tháng 5 năm 1408, Đặng Tất, sau khi giết tướng nhà

Minh, cướp thành, từ Hoá châu dẫn quân theo ra đánh chiếm lại Nghệ An ,về cùng

Trần Giản Định Đế, . Tân Bình vẫn do Phạm Thế Căng chiếm giữ. Thế Căng cậy

quyền hống hách, tự xưng là Duệ Vũ đại vương. Tháng 7 năm 1408, Đặng Tất

mang quân vào đánh Tân Bình, phá tan quân Thế Căng ở cửa Nhật Lệ, bắt giết

Căng và cháu là Đống Cao. Quân Hậu Trần làm chủ từ Nghệ An tới Thuận Hoá.

3-Chiến công điển hình của Đặng Tất, trận Đại chiến Bô Cô

Minh Thành Tổ sai Mộc Thạnh, Lưu Tuấn mang 4 vạn quân sang tiếp viện.

Thạnh họp với Lữ Nghị ở Đông Quan, tập trung ở bến Bô Cô (Nam Định). Ngày 9

tháng 1 năm 1409, dưới sự chỉ huy của Giản Định đế và Đặng Tất, quân Hậu Trần

đánh bại quân Minh một trận oanh liệt. Họ đã giết chết thượng thư bộ binh Lưu

Tuấn ( bộ trưởng bộ quốc phòng của Minh triều) , Đô đốc Lữ Nghị, tham chính ty

bố Giao Chỉ là Lưu Dục, đô chỉ huy sứ Liễu Tông và và đã đánh tan 10 vạn quân

Minh. Mộc Thạnh dẫn tàn quân chạy vào thành Cổ Lộng.Giản Định đế muốn thừa

cơ đánh ngay vào lấy Đông Quan, nhưng Đặng Tất lại chủ trương đánh xong số

quân địch còn sót lại rồi mới tiến. Ý Đặng Tất lẫn Nguyễn Cảnh Chân là tướng tài

họ quen điều binh nên nghĩ cần phải có một hậu phương vững trước nếu ham đánh

Đông Quan có khi bị Trương Phụ đánh chờ sẳn sẽ tấn công vào chỗ phòng thủ

mỏng của mình. Nhà vua không nghe, nghe lời hoạn quan, lập kế bắt giết cả hai

tướng như ta đã biết ở phần I.

Kết luận: Đặng Tất cha của ông là anh hùng, biết nuốt nhục vì an dân để xây

dựng lực lượng, đã giết được các tướng lãnh nhà Minh đi theo hổ trợ danh tướng

Mộc Thạnh. (Minh sử ghi binh nghiệp Mộc Thạnh rất dữ dội, vào Google search là

biết). Đặng Tất đã vượt qua nỗi khó khăn. Đầu hàng giặc, giặc cho hưởng vinh hoa

phú quý, biết thế giặc mạnh, không theo mà quyết tâm phục quốc , chịu nằm gai

nếm mật, biết trước con cháu mình chắc sẽ hy sinh, gia đình mình sẽ tan nát.

10

Không sao. Anh hùng là chỗ đấy.

Phẩm chất thứ hai:

“Phận làm tướng không để bị cám giỗ vì những quyền lợi mà kẻ bạo quyền đã

dành cho ta.”

Hạnh phúc thay cho những ai có tiền nhân đã vị quốc vong thân

3- Nguyễn Cảnh Dị (? – 1414) người tướng phụ tá ông là đại anh hùng

Nguyễn Cảnh Dị ( ? – 1414) con của danh tướng Nguyễn cảnh Chân

là một tướng văn võ song toàn, người Nghệ An. Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị

đã có một vài trận thắng lớn trước hai kẻ thù là Trương Phụ và Mộc Thạnh. Trong

đó có trận đánh lớn vào tháng 9 nămQuý Tị (1413) ở khu vực Thái

Gia. Theo Minh Sử của Trương Đĩnh Ngọc (người Trung Quốc) thì trận đánh này

xảy ra tại Ái Tử, nay thuộc huyện Triệu Phong, Quảng Trị (dẫn lại từ vi-
Wikipedia , theo Nguyễn Khắc Thuần, sách đã dẫn, tr. 235).Tuy thắng trận hôm

nay nhưng lại là điềù khơi mào cho sự bại trận chung cuộc của họ mai sau. Vì

sao?. Một là Nhà Minh đã tăng bổ sung cho Trương Phụ 50.000 quân. Mặt khác,

sau khi thắng nhà Hồ, bọn Trương Phụ đang làm chủ đất nước mình, y đã bòn rút

tài nguyên, bóc lột người Việt tại chỗ làm phu phen, làm dân công nấu cơm, tải

thương cho lính láp bọn họ trong các trận đánh nhau chống lại Nghĩa quân . Bọn

họ đã gom được khối tài sản khổng lồ do Nhà Hồ vơ vét trong đợt đổi tiền trước

đó. Đổi tiền là vụ cướp cạn tài sản trắng trợn của nhân dân được dấu dưới chiêu

bài rất tinh vi. Cha con Hồ cho in tiền giấy, thứ tiền âm phủ, thay cho tiền bằng

bạc nén vốn đã dùng từ ngàn năm trước. Nhà Hồ khốn nạn đã vét tài sản sạch của

nhân dân trong đợt đổi tiền này. Hai là, sau mỗi trận thắng, Đặng Dung lại hao

quân mất tướng. Lực lượng hao hụt đến phân nữa mà không sao có nguồn lực bổ

sung. Đặng Dung muốn huy động sức dân cũng không còn mấy người yêu nước

giàu có dấu lén tiền cung cấp. Là người tướng tư lệnh, Đại tư mã, đã hình dung sự

“thất bại của mình”. Quý Tị (1413), bấy giờ quân nhà Trần ít lắm.Trương Phụ vào

đến Nghệ An, quan Thái Phó (chức quan văn tương đương với thủ tướng bây giờ)

của nhà Hậu Trần là Phan Quý Hữu ra hàng. Con Quý Hữu là Liêu được Trương

Phụ cho làm tri phủ Nghệ An. Phan Liêu tâng công. Y Khai báo về tình hình nội

bộ bởi cha y là người điều hành việc hành chánh cho vương triều. Y khai nhà vua

Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, Ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa;

Chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; Dẫu cho Trăm thân

ta phơi ngoài nội cỏ, Nghìn thây ta bọc trong da ngựa, Cũng nguyện xin làm! ”

(HTS), Đặng Dung lặp lại. Nguyễn Cảnh Dị làm thinh , biết tiên sinh đã quyết làm

theo lời dạy của người xưa. Nên có dành cũng là vô ích. Nguyễn Cảnh Dị hỏi liệu

11

Tướng Quân mệnh hệ gì thì tôi phải làm sao?. Đặng Dung cười bảo hãy tin nơi ta.

Nguyễn Cảnh Dị suy nghĩ một hồi rồi nói rằng, xưa hai ông cha họ đã từng làm

quan tại đất QuảngNôm nên họ biết thuôc tính và tài năng của dân làng chài Cửa

Đợi, cù lao Chàm. Ông khuyên Đặng Dung nên chọn những người này trong đám

cảm tử quân cùng đi. Nghe Nguyễn Cảnh Dị nhắc dân làng chài Cửa Đợi, Đặng

Dung bồi hồi nhớ lại. Ông nhớ như in năm xưa theo cha đến vùng đất này đi tìm

lại chủ tướng của cha mình năm xưa là Hoàng Hối Khanh để bàn việc phục quốc

kháng Minh. Đặng Dung không sao quên được tại hải đảo này có địa hình giống

như Vương Kiến mô tả trong bài Vọng Phu Thạch. Lúc dân làng chài đón cha con

ông, bất giác ông ngâm lên bài Vọng Phu Thạch. Cảm khái cảnh người chiến binh

ra đi mà không hẹn ngày về. Người vợ ngày ngày ra đứng đầu núi bên sóng biển

thét gầm ngóng đợi. Cảm mến vì đại nghĩa ngày xưa của cha ông và tướng

Nguyễn Cảnh Chân, người dân ở đây xin theo kháng chiến khá đông. Lần đó,

Cha ông chỉ chọn người nhẹ gánh gia đình, còn trẻ, còn những người khác tuy

nặng lòng yêu nước, nhưng họ còn mẹ già, con thơ nên đành khuyên họ hãy dành

lòng yêu tổ quốc đó vào một công việc khác nhẹ nhàng hơn. Nay điểm lại, quả

thật các cận tướng của cha ông đa phần là dân Thuận Quảng theo cha ông tham gia

trong trận tấn công Bô Cô và nay theo hầu dưới trướng ông.

-Trận đánh quyết tử, tác giả là người anh hùng

Chuyện khó tin trong binh sử thế giới, trường hợp hy hữu này duy chỉ có trong

quân sử Đại Việt. Khi vị tướng tư lệnh lại là cầm đầu toán người nhái cảm tử rất

gọn nhẹ dánh thẳng vào sào huyệt kẻ tử thù . Việc tổ chức đã xong đợi ngày G

sẽ đến. Cơ hội đến, vào tháng 9 được biết quân Trương Phụ vào đến Thuận Hóa,

và kéo binh tập kết vào ngã ba sông này để tổ chức cuộc săn đuổi vua quan Hậu

Trần đang đóng quân ở trên bờ . Quan thái phó Nguyễn Súy và quan đại tư mã

Đặng Dung nửa đêm chia quân đến đánh Trương Phụ. Quan thái phó Nguyễn Súy

dùng thuyền nhẹ đánh nghi binh, giặc Minh trào về phía Nguyễn Suý, và thừa lúc

đó Quan tư mã Đặng Dung lao mình xuống nước trước, hơn mươi chiến sĩ cảm

tử quân lao theo sau. Họ bơi nhanh về phía thuyền lớn nhất, sáng nhất trên sông.

Từ dấu hiệu của Đặng Dung, bọn họ leo lên được thuyền của Trương Phụ, dùng

đoản đao thịt lẹ các tên lính trên sàn. Họ nhào vào tên mập mạp nhất, phương phi

nhất và đã bắt sống tên này, lôi y xuống nước. Y la lên. Do vì không biết thường

ngày tên Trương Phụ mặc quần áo gì, do chưa thấy mặt kẻ thù lần nào, nên họ đã

bắt lầm. Thừa cơ Trương Phụ lập tức nhảy xuống sông lấy cái thuyền con mà chạy

thoát. Bấy giờ quân nhà Trần ít lắm nên khi Trương Phụ nhận ra họ chỉ là toán cảm

tử nên đã huy động binh sĩ phản công. Đặng Dung và binh sĩ địch không nổi phải

bỏ chạy. Từ khi thua trận ấy rồi, Trần Quý Khoách thế yếu quá không thể chống

với quân giặc được nữa, phải vào ẩn núp ở trong rừng núi. Phần vì không có quân

12

lương tiếp viện , phần vì quân lính hao hụt mà không có nguồn bổ sung. Qua lời

khai của Việt gian tên là Phan Liêu, con quan thái phó (thái phó là chức gần gần

với chức phó thủ tướng nội các bây giờ) hàng đầu người Nghệ, nay được Trương

Phụ cho làm tri phủ Nghệ An,khai báo từng tận tình hình của vua quan nhà Hậu

Trần lúc ấy, nên quân Minh càng hết lòng truy kích mà không sợ phục binh. Trong

một trận đánh cuối cùng chống càn, Thái bảo Nguyễn Cảnh Dị nhận vai trò cản

hậu để Đại Tư Mã Đặng Dung, Thái phó Nguyễn Suý tập trung hộ giá nhà vua

Trần Quý Khoách, thoát thân trước. Thái bảo Nguyễn Cảnh Dị chẳng may bị trúng

tên của quân Minh, nên bị bắt. Giận vì bắt hụt vua tôi nhà Hậu Trần để lập công

với Minh đế, do sự kháng cự ngoan cường của Nguyễn Cảnh Dị, vừa sợ do nhớ lại

lần thoát chết một cách đầy may mắn vào mấy tháng trước từ cuộc tập kích , nên

y dùng mọi thủ đoạn lẫn tra tấn buộc Nguyễn Cảnh Dị cung khai, rằng bọn họ đã

trốn vào đâu .

Cái chết thảm khốc của vị tướng tham mưu, quan thái bảo Nguyễn Cảnh Dị.

Thái bảo Nguyễn Cảnh Dị bị giặc bắt vì bị trúng tên.Trương Phụ truyền

mang ông đến.Trương Phụ dụ hàng và vỗ về để Nguyễn Cảnh Dị khai ra chổ ẩn

núp cùng lực lượng còn lại quân binh Hậu Trần. Nguyễn Cảnh Dị đã mắng ngay

vào mặt Trương Phụ. Bọn Tàu Hán muôn đời nham hiểm. Xưa nay tiền nhân họ đã

Sau đó không bao nhiêu ngày vua Trùng Quang Đế, Đồng bình chương sự Đặng

Dung, Thái phó Nguyễn Suý đều bị bắt. Đặng Dung không tự sát vào lúc này vì

bổn phận của ông là hộ vệ nhà vua. Ông không thể chết trước vua để vua mình bị

nhục khi ở một mình. Và cơ hội đến họ đã cùng chết một cách oanh liệt như ta đã

biết.

Bạn đã đọc và đã hiểu khí phách của tiền nhân ta.

Họ là anh hùng không có gì phải tranh cãi. Bạn OK?

Vậy thì Hàn Tín, Phàn Khoái thì sao?

Xin đoạn đoạn tiếp, Luận Anh Hùng Tàu thời Đại Hán.

Chú thích và tham khảo .

* Xin đọc loạt bài cẩm hoài của Đặng Dung. Các bài này PII,d1, Thế Sự Du

Du,CẢM HOÀI,trước để hiểu phong cách mã thượng của danh nhân Đại Việt xưa

trên http://www.art2all.net hay trên trang

*http://chimviet.free.fr/vanco/laiquangnam/lqnt054.htm.

13

Hay là các trang mạng khác đã lấy về đăng lại .Của trời trăng gió kho vô tận.

Xin làm ơn phản hồi ý kiến nếu có, hay cho laiquangnam biết trang web của

mình có đăng lại bài của http://www.art2all.net hay của Chim Việt Cành Nam. Sai thì

laiquangnam chỉnh sửa viết lại,có sao đâu. laiquangnam cám ơn vô cùng.

** Sử gia Nguyễn Khắc Thuần kể tiếp: Dựa theo Minh Sử của Trương Đĩnh Ngọc

(người Trung Quốc) thì trận đánh này xảy ra tại Ái Tử, nay thuộc huyện Triệu

Phong, Quảng Trị

Tháng 11 năm 1413, Đặng Dung cùng Nguyễn Cảnh Dị bị Trương Phụ bắt sống

khi đang tìm đường tạm lánh sang Xiêm La để tính kế lâu dài. Vì liên tục lớn tiếng

chửi mắng nên Nguyễn Cảnh Dị đã bị Trương Phụ hạ lệnh giết ngay. Còn Đặng

Dung cùng Trần Quý Khoáng, Nguyễn Súy và một số tướng lãnh khác bị áp giải

về Yên Kinh (Trung Quốc). Dọc đường, Trần Quý Khoáng nhảy xuống biển tự tử,

Đặng Dung cũng lập tức nhảy xuống chết theo.[10]

*** Đọc lại chính sử Tàu, đoạn hành hạ danh tướng thái bảo Nguyễn Cảnh Dị.

Theo Minh Thực lục : Quan Tổng binh Anh quốc công Trương Phụ mang quân

đến trang Tra Hoàng, huyện Chính Hoà, châu Chính Bình (Quảng Bình); tướng

giặc là Hồ Đồng hàng. Nghe tin bọn Đặng Cảnh Dị, Đặng Dung, Long Hổ Tướng

quân nguỵ Lê Thiềm hơn 700 tên chạy đến sách Côn Bồ, Tiêm Man; bọn Phụ

tiến binh ngay đến sông La Mông. Phải theo đường núi vin cành lá mà leo lên

nên đành bỏ ngựa, tướng sĩ tiếp tục đi theo. Đến sách Côn Bồ, bọn Cảnh Dị đã

bỏ trốn; lại truy kích đến sách Tra Bồ Nại, bọn giặc và dân địa phương đều trốn,

không biết ở chốn nào, nên làm cuộc lục soát lớn. Vào canh tư, đi trên 20 dặm,

nghe tiếng trống điểm canh, Phụ sai Đô Chỉ huy Phương Chính mang quân lẳng

lặng đi, đến lúc trời sáng đến phía bắc sông, tại sách Tra Bồ Cán. Giặc lập trại

tại bờ phía nam, quan quân vượt sông vây đánh. Giặc chống không nổi, tên bắn

liên tiếp trúng, Cảnh Dị bị thương tại sườn, bắt được. Đặng Dung trốn, Phương

Chính mang quân truy lùng, bị bắt cùng với em là Đặng Nhuệ. Bắt hết bọn giặc Lê

Thiềm, tịch thu ấn nguỵ của Cảnh Dị. Cảnh Dị bị thương nặng, bị róc thịt lấy thủ

cấp, áp giải cùng anh em Đặng Dung đến kinh đô; tất cả đều bị xử chém để làm

răn. (Minh Thực Lục quyển 13, tr. 1727-1728; Thái Tông quyển 147, tr. 2a-3b) //

http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%B7ng_Dung

Có bao nhiêu phần trăm đứng sự thật trong Minh Thực lục bên trên ?

Tại Việt Nam có một lối viết sử đáng chê trách từ các người được

chúng ta gọi họ là sử gia. Thói xấu này và ấu trĩ của bọn sử gia này là gì ? Người

14

Việt hiện nay phải cần lên án họ thật nặng nề, nếu không thì ít nhất cũng đem ngay

sách của họ quẳng vào sọt rác, trừ sách của Sử gia Trần Trọng Kim. Đó là các vị

gọi là sử gia này khi xử dụng các nguồn sách từ bên Tàu đã không nhận định được

bắt dẫn về Yên kinh,bêu đầu thị chúng, cắt đầu mang thủ cấp về Yên Kinh” . Ta

hãy xem sử nhà Tống họ viết với văn phong tự sướng về quân mình (quân Tàu

Hán) khi họ bị thảm bại trước danh tướng Lý Thường Kiệt, có độ lệch rất lớn giữa

Tống sử và trang hồi ký của người trong cuộc ra sao. Từ đó suy ra, liệu các trang

sử khác của họ có đáng tin không ?. Thời điểm có thể đúng, nhưng chi tiết về kẻ

bại trận, viết về dân tộc Việt, anh hùng Việt, hầu như không họ viết không có chút

nào gọi là đúng cả, bởi chính người trong cuộc còn chưa thấy huống gì mãi đến

bốn năm trăm năm sau. Có lẽ nói không ngoa, nhiều người viết sử Việt bây giờ là

bọn người “ khờ bẩm sinh“ đôi khi cũng đúng. Đôi khi sự tường thuật của người

trong cuộc có khi đúng sự thật hơn nếu như ta biết tường tận vai trò của họ, bởi

nhiều người trong số ấy họ viết ra những điều nghe thấy cốt rút ra kinh nghiêm

cho con cháu họ khi tham chiến tại Đại Việt.

1- An Phủ Sứ Bắc Giang tên là Nguyễn Hy Chu bị quân Minh bắt được. Dụ

hàng ,ông không chịu hàng phải giết.

2- Ngụy Thức là Tướng giữ phần hộ giá cho cha con họ tức Hồ Quý Ly và Hồ Hán

Thương . Ngụy Thức thấy thế nguy cấp lắm, biết thế nào bọn ông cũng bị sa vào

tay giặc, liền bảo với Quý Ly rằng: ” Nước đã mất, là vua ông không nên để cho

người ta bắt được, xin Bệ Hạ tự đốt mà chết đi còn hay hơn !” . Quý Ly nén giận

hỏi lại , tại sao lại phải chết?. Ngụy Thức thưa ” bởi xưa nay trong lịch sử dân tộc

này chưa có vị vua nào bị giặc Tàu bắt. Đó là điều làm tổ quốc này đời đời ô

nhục. Con cháu họ sẽ bị nguyền rủa đến muôn đời sau . Sống thêm làm gì khi mà

tổ tông mình bị bêu rếu hàng ngày trong dòng chính sử mà người học trò học tập

hằng ngày.” . Quý Ly giận lắm, hét lớn lên, sai ngự lâm quân bắt Ngụy Thức chém

ngay tức khắc và truyền rằng, từ nay ai mà nói hai nói đến hai từ tự sát đều phải

chịu tội chết như Ngụy Thức. Chém xong, Cha con họ Hồ vội vã chạy vào Nghệ

An. Về sau Hồ Quý Ly bị lưu đày. Con trưởng là Hồ Nguyên Trừng tuy cúc cung

phục vụ tổ quốc gốc của hắn, nhưng vẫn bị Minh đế bắt thiến đi, cho ăn ba miếng,

cho chức phận. Ngay sau khi bị bắt giải về Tàu, vào khoảng năm 1407,thì Y dã

được Minh đế phong cho chức đại quan thuộc bộ Công ( gần gần như Bộ Công

Nghệ ngày nay). Cuôc chiến đấu của các vua Hậu Trần trong nước thì y liệu có

biết. Liệu y có tự hỏi việc ra sức chế tác vũ khí cho nhà Mình mang sang tham

chiến tại Đại Việt có khiến cho cuộc kháng chiến của nhà Hậu Trần và Lê Lợi

thêm thập phần phần khó khăn hơn không ?.Y đã có công trạng gì với vua nhà

Minh mà khi Y chết, 1447 thì vua Minh đã phong hàm cho Y chức Thượng thư Bộ

15

Công? . Nực cười, có ai đó cố kể cái thông mình tài hoa của y như là một người

Việt Nam xuất chúng, và xếp Hồ Nguyên Trừng vào hàng ngũ nhân tài của đất

nước này. Tại sao tại tỉnh Thừa thiên Huế ngày nay lại có con đường mang tên Hồ

Nguyên Trừng mà không đâu trên đất nước này có?. Liệu học giỏi ,thông minh

xuát chúng nhưng đem cái thông minh ấy chống lại dân tộc mình thì người ấy có

đáng ca ngợi?. Nếu ngày xưa ông bà ta đã hiểu sai ,thì nay thế hệ chúng ta nhất

định xét lại ,không chút do dự trù trừ.

Cái nhầm để đến việc đất nước này này mang thảm hoạ về tay cha con Hồ

Quý Ly là từ vua Trần đã ham gái Tàu, lấy con gái y làm thiếp yêu, át dòng chính

thất nên ra nông nỗi. Vua Trần cuối cùng sau này chính là cháu ngoại của y. Y

cướp ngôi của cháu ngoại bởi muốn từ nay vua phải là họ Hồ, họ nội của Y. Lãnh

đạo quốc gia mà có vợ Tàu là đất nước này trước sau cũng sớm bị diệt vong nếu

hên hơn thì điêu đứng vài chục năm, vài trăm năm. Kẻ Sĩ là người nghĩ “Đừng cho

cơ hội gì để bọn Tàu Hán lặp lại lịch sử ” . Suy cho cùng cái ngu cũng bắt đầu từ

cái học “ a đầu học” , thi thi, cử cử,gục đầu ăn, gục đầu ra làm quan của cái đám

gọi là giới Sĩ (士), nói trên. Đúng ra kẻ có ăn học, kẻ có tài giúp nước phải nêu

những lỗi lầm từ trang sử cũ và dùng vị thế của mình ra sức cản trở, nếu điều xấu

ấy có cơ hội lặp lại. Đừng làm cho nhân dân tiếp tục đau khổ hơn. Không làm

được điều ấy, họ chỉ là hiện thân của quan Bờm mà hình ảnh được tiền nhân ta vẽ

và gọi đích danh qua 10 nhân vật ăn hại đái nát làm tàn mạc đất nước này. Bộ bài

tới của Quảng Nam quê tôi đã mô tả rất kỹ chân dung và thuộc tính của họ trong lễ

hội bàiChòi hằng đêm tại Hội an hiện nay. – Theo vi-wikipedia và các nguồn sử

liệu qua Google search.

4- Theo VNSL của Sử gia Trần Trọng Kim.

5- Ta cùng đọc đoạn sử này :

Sách Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên chép:

Về trận tấn công cảm tử .

Đang khi đôi bên quân nam và quân bắc đang cầm cự nhau thì Đặng Dung bí

mật dùng bộ binh và tượng binh mai phục, đúng nửa đêm thì bất ngờ đánh úp vào

doanh trại của (Trương) Phụ. (Đặng) Dung đã nhảy lên thuyền của (Trương) Phụ

và định bắt sống (Trương) Phụ nhưng lại không biết mặt để có thể nhận ra hắn,

vì thế, (Trương) Phụ liền nhảy sang thuyền nhỏ chạy thoát. Quân Minh bị tan vỡ

đến quá nữa, thuyền bè, khí giới bị đốt phá gần hết, thế mà (Nguyễn) Súy không

biết hợp lực để cùng đánh. (Trương) Phụ biết quân của (Đặng) Dung ít nên lập tức

quay lại đánh. (Đặng) dung đành phải chịu thất bại, quân sĩ chạy tan tác hết.

Đại Việt sử ký toàn thư (Bản kỉ toàn thư, quyển 9, tờ 22-b). Khâm Định Việt Sử

Thông Giám Cương Mục chép tương tự và kèm theo lời bình là: Trời nuông tha

Trương Phụ (Chính biên, quyển 12, tờ 39).

16

6-Chữ màu đỏ, bạn xem như từ khoá vào Google search để đọc thẳng tư liệu.

7- Đoạn sử trên , laiquangnam lấy nguồn từ vi-wikipedia và các nguồn khác, nay

laiquangnam chỉ sửa lại vài câu chữ cho gọn. Xin thành thật cám ơn các tác giả và

chủ các trang website

8- Xin đọc bài Hòn Vọng Phu Quảng Nam để hình dung nơi đến của cha con

Đặng Tất-Đặng Dung

Laiquangnam .

Quê người ngày cuối đông lạnh quá. MARCH, 6

Thèm và nhớ cái ấm áp tại quê nhà vào ngày rằm tháng giêng.

Thèm đốt trên mộ mẹ, mộ cha một nén hương lòng,

Lòng bồi hồi, hồi hướng Cảm Hoài của Đặng Dung,

Bạn có nghe từ trời xanh vọng lại giọng ngâm của Người tráng sĩ cất lên

từ vần trăng treo sáng vằng vặc trên đầu chúng ta trong bầu trời lộng gió đêm

nguyên tiêu này không?.

-o0o0o-
Laiquangnam giới thiệu

thi nhân tráng sĩ Đặng Dung

LUẬN ANH HÙNG.

Đoạn I, phía người Việt.

Vận khứ anh hùng ẩm hận đa ( Đặng Dung)

Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay. (Phan Kế Bính dịch )

Dẫn nhập

Ai trong chúng ta tin rằng hai câu trong bài Cảm Hoài của Đặng Dung

Thời lai đồ điếu thành công dị,

Vận khứ anh hùng ẩm hận đa. (Đặng Dung)

là hai câu than vãn?, là hai câu tự an ủi cho sự thành bại của người tráng sĩ tự

chống chế cho đở quê độ?. Tôi không tin nay lại còn có ai đó trong chúng ta lại

nghĩ như thế. Một Đặng Dung với nhân cách cao thượng không bao giờ lại viết

đẫm tinh thần AQ như thế.Than vãn hay tự an ủi không phải là tính cách của người

tráng sĩ. Do một thuộc tính có tính cách bẩm sinh. Thi nhân Việt xưa, họ rất tài

tình khi viết các dòng thơ nén, rất ngắn gọn và đầy ẩn dụ. Chắc chắn một người

thi nhân Lạc Việt đã chọn cho mình là cuộc chiến đấu lâu dài đến cả ngàn năm đối

với bọn Phương Bắc, họ không bao giờ tự vỗ về an ủi mình như thế. Ích gì. Ngã

xuống?,_ đứng lên!, _cầm gươm rồi xông tới. Tuổi cao nay bó tay làm không được

2

việc, qua thế giới bên kia ngồi mài thanh kiếm báu cho đến khi thế giới nhân sinh

này vĩnh viễn mất đi. Bạn có nghe từ trời xanh vọng lại giọng ngâm của Người

tráng sĩ . Bạn có nghe từ trời xanh vọng lại giọng ngâm của Người tráng sĩ cất

lên từ vần trăng treo sáng vằng vặc trên đầu chúng ta trong bầu trời lộng gió đêm

nguyên tiêu này không?. Hành động và thái độ của người Tráng sĩ truyền niềm

tin đến cho Đàn Chim Việt đang ở khắp bốn phương trời vào những đêm rằm rực

sáng, nhất là vào đêm nguyên tiêu rằm tháng giêng đầu năm. Ai thiền thì cứ thiền,

ai muốn gặp tiền nhân Tráng sĩ thì hãy nhìn lên trời.

Ngày nào mà còn có người Việt chịu ngước nhìn mình, suy ngẫm chia sẻ

cùng mình thì ngày ấy người tráng sĩ vẫn còn kê thanh kiếm báu đầy ẩn dụ, thứ

võ khí sát thương vô địch mà người Việt ngày nay khắp năm châu phải cố tìm cho

được để bảo vệ người mẹ, người chị người vợ người con trước con sói phương

Bắc .

Quốc thù vị báo đầu tiên bạch

Kỷ độ Long Tuyền đái nguyệt ma.

Đặng Dung

=> Quốc thù canh cánh đầu tiên bạc!

Gối nguyệt… mài gươm… mấy độ qua!

Nhớ xưa khi cha Tráng sĩ thường dạy ông bổn phận của một làm

tướng, cầm quân vệ quốc tại nhà, hay là lúc mà cha con họ trên đường đi giong

thuyền tới Cù Lao Chàm, Cửa Đợi, tức địa phận Hội An ngày nay, cố tìm ra chủ

tướng cũ, Hoàng Hối Khanh, nghe đâu là nơi trú ẩn, “Ta thường tới bữa quên ăn,

nửa đêm vỗ gối, Ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; Chỉ giận chưa thể xả thịt,

lột da, ăn gan, uống máu quân thù; Dẫu cho Trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ,

Nghìn thây ta bọc trong da ngựa, Cũng nguyện xin làm! ” Hịch tướng sĩ” . Trần

Quốc Tuấn. Từ đó Hưng Đạo Đại Vương và danh tướng chỉ huy đoàn cảm tử quân

người nhái Yết Kiêu, anh hùng Phạm Ngũ Lão luôn là các vị anh hùng ám lấy tuổi

thiếu niên của ông. Ngài truyền cho chúng ta đôi điều khôn dại trong việc vận

động quần chúng trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm sau này nếu đất

nước này phải cam chịu một lần nữa. Lời dạy thư nhất chính là lời dạy của tiền

nhân ta, đức Thánh Trần. Đất nước ta luôn bị họa Phương Bắc xâm lược từ thời lập

quốc, nay lại tiếp tục bị xâm lăng càng lúc càng khốc liệt hơn với muôn hình thái

ngày càng tinh vi hơn. Người lãnh đạo của ta và tướng lãnh của ta phải có “ nương

3

sức dân mà lập kế lâu bền “ , hai là người đại tướng cầm quân phải học ngay bài

học này “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, Ruột đau như cắt, nước mắt

đầm đìa; Chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; Dẫu cho

Trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, Nghìn thây ta bọc trong da ngựa, Cũng nguyện

xin làm! ” ; ba là “khi minh chủ đoạt được chính quyền, tướng lãnh phải mau mau

tránh xa các Minh chủ có hành xử theo kiểu Lưu Bang, hãy chống lại Minh Chủ

ấy, bởi nay cốt cách Y đã khác xưa rồi, nếu không thì vượng khí quốc gia sẽ tàn

lụi,cháu con mình mãi mãi tàn lụi” .

Cả ba lời dạy này, Đặng Dung đều theo rất sát. Do bối cảnh xuất xứ bài thơ

rất ngặt nghèo, tráng sĩ Đặng Dung buộc phải nén ý, chúng ta ngày nay may mắn

được đọc ý Ngài, buộc lòng phải giải mã cho được, bởi vai trò người sĩ quan đề

lôt cho lớp 1,5 mai sau. Laiquangnam, tôi tin rằng tiền nhân ta đã gởi gấm vào đấy

một bài học khôn dại, một lời dạy kín đáo. Tìm không ra, giải không tới là do tôi

quá kém trí năng, các bạn hãy tiếp tay. Xưa thế hệ Đặng Dung không làm được

nhưng mai sau người Việt ở khắp năm châu sẽ rút ra được bài học từ sự thất bại

này của ông mà tránh đi vết xe cũ. Lại một lần nói điều “ Rất tiếc!”. Cha ông là

Đặng Tất đã thờ lầm một Minh chủ khốn nạn nên đã mạng vong. Cuộc chiến đang

trên đà thắng lợi bổng nhiên phải ngừng,tan bầy xẻ nghé, dân tộc ta đã rước thêm

lắm điều bất hạnh. Đánh giá một nhân vật mà mình tưởng là người minh chủ như

Lưu Bang của Hàn Tín, hay Trần Giản Định Đế của cha mình ( Đặng Dung) đều

là tai nạn cho đất nước này.

Quan niệm về hai chữ anh hùng của tiền nhân ta

Dưới mắt chúng ta cuôc đời họ (Đặng Dung và đồng đội) đều là những tấm gương

anh hùng,cho dù thi nhân không tự kể ra. “ Vua tôi họ vui vẻ đón nhận cái chết,

không lời ta thán. Họ cùng nhảy xuống biển tuẩn tiết không để cho địch làm nhục.

Họ đã chết thay đồng bào Đại Việt chúng ta ngày ấy, chết để khí phách Việt Nam

kết tinh vào cuộc khởi nghĩa tiếp theo của Lê Lợi.” Người anh hùng luôn luôn đón

nhận chết một cách thật bình tỉnh. Trong các người anh hùng đương thời,thì cách

chọn cái chết của Đặng Dung là quá đỗi anh hùng . Thật khó mà hình dung các

hành động cực kỳ anh hùng của Đặng Dung bàng bạc trong từng từ trong thơ, nay

soi lại trong lịch sử dân tộc mình chúng ta không khỏi cảm thấy mình đã sai trái do

vì đọc quá lẹ, nên không hiểu hết hành động của Tráng sĩ và của từng đồng đội của

tiên sinh. Khi sáng tác bài thơ này từ trong khoang hầm tàu ngục thất tối om, các

gương anh hùng vị quốc vong thân, mỗi người thể hiện mỗi cách. Người thì không

chết trận nhưng vị bách hại bởi chính vì vua của mình như cha mình là Đặng Tất.

Người tự sát khi sa vào tay giặc như Nguyễn Hy Chu,Nguỵ Thức. Người tự sát khi

4

bị săn đuổi như Hoàng Hối Khanh. Người đang là chiến binh dũng cảm bị thương,

giặc mang ra hành hình bởi nghĩ rầng khi bị thương thì người không được mấy

tỉnh táo khôn ngoan nên đó là lúc hỏi cung khai thác ,dụ không được hành hình

bằng cách lóc từng tấc da thịt họ nhưng họ vẫn không hề khiếp sợ, để có thể bị

mua chuộc, khai báo nơi trú ẩn của đồng đội vua tôi, như danh tướng Nguyễn Cảnh

Dị . Còn ông thì sao? Sao tiên sinh không tự sát ngay khi bị bắt? hay tiên sinh tỏ

khí phách mình bằng cách chửi te tát như danh tướng Nguyễn Cảnh Dị?.Không.

Trí chúa hữu hoài phù địa trục. Người chiến binh phải bảo vệ nhà vua, bởi vua

hiện thân của danh dự quốc gia. Chỉ khi họ đã chết thì mình mới được chết sau.

Họ sống mình phải săn sóc chu đáo cho dù lúc này họ cũng là tù binh như mình. Dĩ

nhiên một khi chấp nhận áp sát theo vua, họ phải sống trong vòng tay địch, là họ

sẳn sàng chấp nhận bị tra tấn, bị cực hình, nhất là khi là tù binh của bọn Tàu Hán

thời Minh, qua tay gian ác Trương Phụ. Trong không gian đó, qua nhiều suy ngẫm

tiên sinh đã hạ bút viết hai câu xuất thần

Thời lai đồ điếu thành công dị

Vận khứ anh hùng ẩm hận đa (Đặng Dung )

Và Phan Kế Bính nhà dân tộc học đầu thế kỷ 20,đã am hiểu lịch sử, đã dịch ra

thơ quốc âm với dòng thơ như có quỷ thần nhập vào. Nhờ vậy mà lớp học sinh

chúng tôi ngay từ lớp nhỏ khi đọc sử của Sử gia Trần Trọng Kim đã hiểu và rất yêu

thích câu thơ dịch này. Thuở đó mới học thất lục làm sao mà thuộc nỗi hai câu chữ

nguyên tác chữ Hán âm u trên. Thời lai đồ điếu thành công dị, Vận khứ anh hùng

ẩm hận đa. (Đặng Dung),

=> Bần tiện gặp thời lên cũng dễ,

Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay. (Phan Kế Bính)

Khi hạ bút viết hai câu này, thì anh hùng đương thời dưới mặt Tráng sĩ Đặng

Dung là ai?. Bản thân ông có là người anh hùng hay không? .Cụ thể ra sao? Chúng

ta cũng cần biết qua, có như thế thì ta hiểu thì Đặng Dung và Phan Kế Bính miệt

thị đối với hai nhân vật lừng danh trong binh sử Tàu Hán trong bài là đúng người

đúng tội.

1-Xuất xứ bài thơ và Về cái chết của “Nhà vua và nội các” .

Sử kể rằng “sau khi vua tôi Họ gồm nhà vua Trần quý Khoách, Đặng

Dung, Nguyễn Súy … tất cả cùng giặc Minh bắt. Tất cả họ bị trói gom lại ngồi trên

hầm thuyền trên đường giải về Yên kinh (tức Bắc Kinh ), kinh đô Tàu thời Minh.

Trong một khoang thuyền ẩm thấp, tối om luôn ngập nước, hôi hám và ngột ngạt,

5

Kẻ Sĩ Đặng Dung kiên trì viết lên vỏ thuyền từng từ một trong bài thơ thất ngôn

bát cú của mình như là cách để quên thời gian trong ngục thất. Tráng sĩ đồ đi đồ

lại bằng những chiếc đủa ăn cơm. Sau khi được chém đầu Liễu Thăng tại Ải Chí

Lăng, và cuối cùng chơi đẹp bằng việc cho hàng binh nhà Minh được toàn mạng ra

khỏi đất nước ta, Vua Lê Lợi cho lập đoàn sứ đi cống nạp người vàng Liễu Thăng

cho yên chuyện. Nhà Minh dẫn đoàn sứ giả người Việt đi xem lại khoang tàu năm

xưa đã giam giữ vua quan nhà Hậu Trần. Mục đích là “hăm doạ và gieo sắc sự sợ

hãi” cho đoàn sứ giả Việt. Do vì kính yêu người đã khuất, đoàn sứ có người ở lại

rất lâu trong khoang này, săm soi từng góc như để cùng chia sẽ nỗi khổ đau, nhọc

nhằn của tiền nhân mình gần hai mươi năm trước. Họ đã may mắn thấy dòng chữ

lờ mờ mà năm xưa Đặng Dung đã khắc trên ván thuyền. Lặng lẽ chép lại, lặng lẽ

học thuộc và lặng lẽ lén mang về nước, nhờ vậy mà chúng ta có bài thơ hay duy

nhất này của Kẻ Sĩ Tráng sĩ Đặng Dung. Bài thơ đúc kết tâm tư của người Tráng sĩ

về thế nước, luận về các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì tổ quốc , và vai trò người

tướng lãnh phải làm gì để đất nước này còn có thể tồn tại được bên cạnh kẻ thù

truyền kiếp ngày càng lớn mạnh.

Sử kể rằng, Đặng Dung vốn coi cái chết nhẹ như lông hồng, ông thường

ngâm vang cho các chiến hữu cùng nghe bài thơ này. “Nhóm quý Ông” cùng nhau

gõ ván thuyền giữ nhịp. Lính canh xem Họ khác gì như cá nằm trên thớt, nay cam

đành số phận. Họ không còn mấy ngày trên thế gian. Bọn lính canh lơ là và trở nên

dễ chịu là lúc Quý Ông lập mưu, xin lính canh đựợc chút không khí để thở do bởi

có người đang ốm. Bất ngờ, kẻ trước người sau cùng nhào xuống biễn từ trầm qua

ô cửa vừa mở ra.

Một thiên anh hùng ca lẫm liệt, một cái chết của một tập thể kiêu hùng trong

dòng sử Việt. Đặng Dung xứng đáng là tiền hiền của dân xứ Quảng nam, phần đất

chính trong phủ Thăng Hoa thời Trần,thế kỷ thứ 14 đầu thế kỷ thứ 15. Google

search ” địa danh Quảng Nam “ , tức QuảngNôm vào đời vua Trần Nhân Tôn.

Luận anh hùng, mà tác giả Đặng Dung thể hiện qua hai câu

Thời lai đồ điếu thành công dị

Vận khứ anh hùng ẩm hận đa (Đặng Dung )

Câu thơ chứa quá nhiều bí mật nằm khuất sau dòng chính sử .Trong khoang tàu

ẩm thấp, tối tăm, ý thơ cô đọng từ trong tâm thức trào ra, Đặng Dung ghi lại điều

khôn dại của một người đại tướng cầm quân phò vua phục quốc . Thơ hay khi là

thơ nénÝ. Khi người sáng tác thân trong tù, không giấy bút, dòng thơ được sửa đi

sửa lại trong đầu cho đến khi ưng ý nhất. Thơ trong tù bao giờ cũng hay, cũng sâu

là vậy. Nó hoàn toàn khác với thơ tình, dòng thơ tình khi trào ra là thi nhân có sẳn

6

giấy bút ghi ngay, nên ai cũng làm được cho chính đôi câu thơ tình. Dẫn đến việc

thơ tình của tôi là nhất là vậy.

Anh hùng dưới mắt Đặng Dung họ là ai ?. Dùng đối tượng nào để so sánh?. Không

có gì làm bật nét tương phản rõ ràng và khôn ngoan bằng cách dùng ngay những

người được chính sử Tàu ngợi ca họ là anh hùng như Hàn Tín và Phàn Khoái . Tại

sao Đặng Dung lại chọn hai nhân vât này, dễ hiểu bởi bọn họ được giới học trò

của ta biết tường tận. Tiền nhân ta kinh thật!

Anh hùng Việt đương thời dưới mắt Đặng Dung, họ là ai ?, sống chết thế nào?.

Toàn là người thật việc thật. Không sao không cúi đầu trước họ. Mãi đến 600 năm

sau, như một sự hiển linh, nhà dân tộc học đã có phút xuất thần sau khi suy ngẫm

câu từ của tiền nhân, Cụ Phan Kế Bính đã dịch như vầy, mới đầu ta tưởng dịch

thoát ý thơ. Không đâu, dòng thơ dịch này là một sự nối kết huyền diệu giữa người

nay với tiền nhân .

=> Bần tiện gặp thời lên cũng dễ,

Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay. (PKB)

Để làm sáng tỏ điều này, để cùng hưởng lấy cái hay nhất trong câu thơ, chúng ta

hãy cùng đọc lại lịch sử. Anh hùng có thật mà cuộc đời Đặng Dung đã từng chứng

kiến khi còn sống.Vua Lê Thánh Tông ban chiếu tặng cha con Ngài hai câu đối:

Quốc sĩ vô song, song quốc sĩ

Anh hùng bất nhị, nhị anh hùng

Lê Thánh Tông

1-Hoàng Hối Khanh là anh hùng .

Trước kia QuảngNôm là đất của Chiêm Thành, vào năm 1306 thì

thuộc Đại Việt theo thỏa ước giữa vua Chế Mân (Chiêm Thành) và vua Trần Nhân

Tông (Đại Việt) .Chế Mân dâng hai châu Ô tức Thuận Châu (nam Quảng Trị, Huế)

và châu Rí tức Hóa Châu (một phần Huế, bắc sông Thu Bồn) làm sính lễ cưới công

chúa Huyền Trân, con gái vua Trần Nhân Tông. Năm 1402, nhà Hồ thay thế nhà

Trần. Nhà Hồ chia Hóa Châu thành 4 châu nhỏ hơn là Thăng Châu, Hóa Châu, Tư

Châu và Nghĩa Châu và đặt An Phủ Sứ cai trị. Hai viên quan cai trị Thuận Quảng

vào thời ấy là Đặng Tất ở Hóa Châu (Huế) và, Nguyễn Cảnh Chân làm An phủ sứ

lộ Thăng Hoa, đất Quảng Nam quê tôi ngày nay có diện tích lớn trong địa danh

QuảngNôm xa xưa đó.Năm 1391, Hồ Quý Ly phong Đặng Tất làm Đại tri châu

7

Hoá châu dưới quyền của Hoàng Hối Khanh, làm Tuyên uý sứ trấn thủ cả vùng

Thăng Hoa. Hối Khanh chọn Đặng Tất, Phạm Thế Căng (sau là Việt gian) và

Nguyễn Lỗ (sau là Việt gian) giúp việc cho mình. Nhà Minh đem quân sang xâm

chiếm nước Đại Ngu, Cha con Hồ Quý Ly thua chạy vào nam, bị quân Minh đuổi

gấp. Hồ Quý Ly bèn viết thư cho Hoàng Hối Khanh, sai lấy dân Việt mới đến

khẩn hoang ở đây, Thăng Hoa và dân bản địa cũ làm quân “cần vương” /( cứu vua

Hồ). Được bao nhiêu quân thì giao hết cho Nguyễn Lộ. Tháng 6 năm 1407 cha

con Hồ Quý Ly bị quân Minh bắt. Quân Minh tiến vào “bình định” Hoá châu.

Phạm Thế Căng (Việt gian) nhanh chóng đón đầu quân Minh ở Nghệ An xin hàng.

Chiêm Thành nhân đó mang quân cố đánh chiếm lại đất Thăng Hoa. Dân di cư

mới đến vùng đất mới trở thành rắn mất đầu. Trăm bề đau khổ. Hoàng Hối Khanh

phân các cánh quân rút về Hoá châu. Đặng Tất bằng đường thuỷ đi trước, Nguyễn

Lỗ đường bộ đi sau. Trấn phủ sứ Thuận Hoá là Nguyễn Phong được Nguyễn Lỗ

nói sao đó, ngăn không cho Đặng Tất vào thành. Tất nổi giận bèn đánh thành. Giết

được Phong. Nguyễn Lỗ lộ chân tướng Việt gian chạy sang Chiêm đầu hàng và

được người Champa trọng dụng. Lính “Cần Vương” người “Thuận Quảng “ năm

xưa nay tất cả đều theo về Đặng Tất. Tính nuốt xong dân Đại Việt thì sẽ nuốt

Chiêm Thành, Minh triều gai mắt nhân vật mưu sĩ mới của vua Chiêm là Nguyễn

Lỗ, họ bèn dụ y sang Yên Kinh làm quan và sống vinh hiển tại đó cùng gia đình.

Tin lời, Nguyễn Lỗ sang Tàu, vua Minh bèn đem giết đi. Tại quê nhà, cả gia đình

việt gian Nguyễn Lộ bị Hoàng Hối Khanh thịt sạch . Nói về Hoàng Hối Khanh và

Đặng Tất. Trương Phụ biết Hoàng Hối Khanh là hiền tài của nhà Hồ bèn sai Đỗ

Tử Trung đi chiêu dụ họ. Hối Khanh không ra cộng tác với giặc Minh xâm lược,

ông bỏ trốn. Tướng quân Đặng Tất bị lâm vào thế kẹp thịt, nằm giữa hai kẻ địch.

Phía Nam thì quân Chiêm như bầy hổ đói ,nậng lòng căm thù , họ đánh ra đòi lại

đất, dân mới di cư đến lập nghiệp, lớp bị giết, lớp bị hãm hiếp, dân tình đói khổ

trăm bề. Phía Bắc thì quân Minh đang cực kỳ tàn bạo với dân Đại Việt, đốt sạch

phá sạch lăng miếu quốc gia theo lệnh của Minh Thành Tổ. Đặng Tất bèn chọn

quyết định khó khăn nhất trong đời làm tướng của mình, đầu hàng quân Minh cốt

để cứu dân. Thị phi? , mặc!. Phải chận ngay cánh quân Chiêm như bầy hổ đói kia

trước. Sau đó, sẽ tính đến quân nhà Minh bởi binh sĩ Tàu Hán chuyên nghiệp,

tiềm lực hơn, phải có cách tập hợp binh lực khác thường. Nay là lúc thế nước như

lửa cháy, ta chưa đủ sức trực diện với bọn họ. Đặng Tất xin hàng, quân Minh xem

như đã tạm yên phía Nam, nhẹ tay với dân Đại Việt trong vùng đất cai trị của ông.

Dân Thuận Quảng tạm thời được yên, họ hết sức biết ơn ông. Trương Phụ cho ông

giữ chức Đại tri châu Hoá châu như cũ. Tạm yên mắt phía Bắc, Đặng Tất dồn sức

chống đở Chiêm Thành phía Nam. Với tài thao lược của mình, quân Chiêm không

đánh nổi phải lui quân. Đặng Tất ngày đêm lo việc phục quốc. Phải đi tìm Hoàng

Hối Khanh bàn mưu chống quân Minh. Nghe tin Hoàng Hối Khanh đang ở Cù Lao

Chàm ( tức vùng biển Cửa Đợi ,Hội An bây giờ), mừng quá, nhưng đến nơi thì

8

được dân ở đây cho biết: “Tháng 7 năm 1407, Hối Khanh về đến cửa Hội, gặp gió

to đánh vỡ thuyền, binh sĩ không còn, bị tay sai của giặc Minh vây tứ bề, Hối

Khanh tự sát. Trương Phụ bèn cho người đem thủ cấp của Hối Khanh ra bêu ở

chợ Đông Đô để thị chúng” . Thói giết người, rồi cắt đầu người mang về báo công

với vua Hán, hay treo tại nơi thị tứ để răn đe, là phong cách hành xử xưa nay của

bọn Tàu Hán xâm lược có từ hàng ngàn năm trước đối với dân tộc ta. Người Tàu

Hán tin rằng, một khi người bị mất đầu, thì do thân và đầu không liền nhau họ sẽ

không bao giờ được đi đầu thai trở lại thành người để báo thù họ. Quả thật, bọn

Tàu Hán từ vua đến quan luôn sợ lòng căm thù dai dẳng của người Việt, nên luôn

cắt đầu tướng Việt bại trận. Đặng Tất đau buồn. Thương tiếc. Thề báo thù cho chủ

tướng. và ông đã thực hiện và đã chém đầu trả thù không biết bao nhiêu danh

tướng Tàu đi theo Mộc Thạnh tại trận Bô Cô sau đó không lâu .

Hoàng Hối Khanh là anh hùng dưới mắt Tráng sĩ Đặng Dung.

Phẩm chất thứ nhất :

Phận làm tướng cần khí tiết, chọn tự sát không để sa vào tay địch khi sa cơ.

2-Đặng Tất cha mình(Đặng Dung) là một anh hùng .

Trương Phụ cùng tướng người Việt là Mạc Thuý vào cướp nước Đại

Việt năm 1408), Mạc Thuý đã lấy một người phụ nữ Việt . Bà con ai?, Họ gì ?

Sinh ra ông nội của Mạc Đăng Dung. Mạc Thuý là tổ bốn (4) đời của Mạc Đăng

Dung (Dung sinh ngày 23 tháng 11, 1483 ) mang quân vào đánh Diễn châu. Quân

Hậu Trần ít không chống nổi, rút vào Hoá châu. Khi Trương Phụ đuổi đến

cửa sông Gianh, Phạm Thế Căng ra đón, được Phụ cho làm Tri phủ Tân Bình. http:/

/vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%B7ng_T%E1%BA%A5t (nguồn này

đáng tin cậy nhất về thân thế Mạc Đăng Dung). Vậy nhá, rõ ràng Mạc Đăng Dung

vốn là anh Việt gian nhà nòi. Cái đuôi gốc Tàu quá rõ. Người Việt đã dại dột nuôi

ong tay áo nhiều lần khi xử dụng người Tàu trong “nội các” của mình. Biết bao giờ

người lãnh đạo quốc gia chúng ta học được cái ngu này?, Thấm và đau quá cho

dân tộc Việt!. Mạc Đăng Dung phá nát đất nước này là vậy. Mạc Đăng Dung nhờ

ông có ông cố nội gốc Minh Tàu Hán 100%, nên trong nhà có đồng ra đồng vào.

Xuất phát điểm của Mạc Đăng Dung tốt hơn với các bạn trẻ người Việt cùng trang

lứa, nên y đã có điều kiện học hành tốt hơn và đậu tiến sĩ thời Hậu Lê không có gì

phải ngợi khen y; vả lại tiếng Tàu vốn là tiếng nói của ông cố nội y. Y thử sinh ra

trong một gia đình người Việt,cơm không đủ ăn, sách không có mà học, nhà dột

cột xiêu thì biết đá biết vàng. Gốc Tàu Hán trong Mạc Đăng Dung quá rõ, sau Y

cướp ngôi lên làm vua và dâng đất Cao Bằng cho Tàu Hán. Danh dự gì mà nhận là

9

hậu duệ của y. Vài anh hùng từ dòng họ nhà y có do vì số người này quá mau mắn

khi họ được pha trộn qua quá nhiều đời. Từ máu họ ngoại người Việt, người mẹ

Việt Nam của họ đã rót vào họ giòng máu Việt, hát ru họ qua dòng ca dao, đẫm

tình thương và nhân cách Việt nên họ đã trở thành người Việt, nhưng đó là những

nhân vật vô cùng quý hiếm trong lịch sử. Không biết ai trong số các hậu duệ của y

sẽ đổi sang họ Tàu [莫],đọc theo âm Bắc Kinh là Mo. như lão Wu Khiêu đã làm

mới đây, 2014?. Chờ xem!. BaTau đời đời là vậy. Dễ gì thay đổi dòng máu Đại

Hán trong người bọn họ?. Lại nói về việc Trương Phụ và Mạc Thuý mang quân

vào đánh Diễn châu. Quân Hậu Trần ít không chống nổi, rút vào Hoá châu. Khi

Trương Phụ đuổi đến cửa sông Gianh, Phạm Thế Căng ra đón, được Phụ cho làm

Tri phủ Tân Bình. Coi như đã dẹp xong Giao Chỉ, Phụ rút về Đông Quan (Hà Nội)

rồi mang đại quân về nước. Tháng 5 năm 1408, Đặng Tất, sau khi giết tướng nhà

Minh, cướp thành, từ Hoá châu dẫn quân theo ra đánh chiếm lại Nghệ An ,về cùng

Trần Giản Định Đế, . Tân Bình vẫn do Phạm Thế Căng chiếm giữ. Thế Căng cậy

quyền hống hách, tự xưng là Duệ Vũ đại vương. Tháng 7 năm 1408, Đặng Tất

mang quân vào đánh Tân Bình, phá tan quân Thế Căng ở cửa Nhật Lệ, bắt giết

Căng và cháu là Đống Cao. Quân Hậu Trần làm chủ từ Nghệ An tới Thuận Hoá.

3-Chiến công điển hình của Đặng Tất, trận Đại chiến Bô Cô

Minh Thành Tổ sai Mộc Thạnh, Lưu Tuấn mang 4 vạn quân sang tiếp viện.

Thạnh họp với Lữ Nghị ở Đông Quan, tập trung ở bến Bô Cô (Nam Định). Ngày 9

tháng 1 năm 1409, dưới sự chỉ huy của Giản Định đế và Đặng Tất, quân Hậu Trần

đánh bại quân Minh một trận oanh liệt. Họ đã giết chết thượng thư bộ binh Lưu

Tuấn ( bộ trưởng bộ quốc phòng của Minh triều) , Đô đốc Lữ Nghị, tham chính ty

bố Giao Chỉ là Lưu Dục, đô chỉ huy sứ Liễu Tông và và đã đánh tan 10 vạn quân

Minh. Mộc Thạnh dẫn tàn quân chạy vào thành Cổ Lộng.Giản Định đế muốn thừa

cơ đánh ngay vào lấy Đông Quan, nhưng Đặng Tất lại chủ trương đánh xong số

quân địch còn sót lại rồi mới tiến. Ý Đặng Tất lẫn Nguyễn Cảnh Chân là tướng tài

họ quen điều binh nên nghĩ cần phải có một hậu phương vững trước nếu ham đánh

Đông Quan có khi bị Trương Phụ đánh chờ sẳn sẽ tấn công vào chỗ phòng thủ

mỏng của mình. Nhà vua không nghe, nghe lời hoạn quan, lập kế bắt giết cả hai

tướng như ta đã biết ở phần I.

Kết luận: Đặng Tất cha của ông là anh hùng, biết nuốt nhục vì an dân để xây

dựng lực lượng, đã giết được các tướng lãnh nhà Minh đi theo hổ trợ danh tướng

Mộc Thạnh. (Minh sử ghi binh nghiệp Mộc Thạnh rất dữ dội, vào Google search là

biết). Đặng Tất đã vượt qua nỗi khó khăn. Đầu hàng giặc, giặc cho hưởng vinh hoa

phú quý, biết thế giặc mạnh, không theo mà quyết tâm phục quốc , chịu nằm gai

nếm mật, biết trước con cháu mình chắc sẽ hy sinh, gia đình mình sẽ tan nát.

10

Không sao. Anh hùng là chỗ đấy.

Phẩm chất thứ hai:

“Phận làm tướng không để bị cám giỗ vì những quyền lợi mà kẻ bạo quyền đã

dành cho ta.”

Hạnh phúc thay cho những ai có tiền nhân đã vị quốc vong thân

3- Nguyễn Cảnh Dị (? – 1414) người tướng phụ tá ông là đại anh hùng

Nguyễn Cảnh Dị ( ? – 1414) con của danh tướng Nguyễn cảnh Chân

là một tướng văn võ song toàn, người Nghệ An. Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị

đã có một vài trận thắng lớn trước hai kẻ thù là Trương Phụ và Mộc Thạnh. Trong

đó có trận đánh lớn vào tháng 9 nămQuý Tị (1413) ở khu vực Thái

Gia. Theo Minh Sử của Trương Đĩnh Ngọc (người Trung Quốc) thì trận đánh này

xảy ra tại Ái Tử, nay thuộc huyện Triệu Phong, Quảng Trị (dẫn lại từ vi-
Wikipedia , theo Nguyễn Khắc Thuần, sách đã dẫn, tr. 235).Tuy thắng trận hôm

nay nhưng lại là điềù khơi mào cho sự bại trận chung cuộc của họ mai sau. Vì

sao?. Một là Nhà Minh đã tăng bổ sung cho Trương Phụ 50.000 quân. Mặt khác,

sau khi thắng nhà Hồ, bọn Trương Phụ đang làm chủ đất nước mình, y đã bòn rút

tài nguyên, bóc lột người Việt tại chỗ làm phu phen, làm dân công nấu cơm, tải

thương cho lính láp bọn họ trong các trận đánh nhau chống lại Nghĩa quân . Bọn

họ đã gom được khối tài sản khổng lồ do Nhà Hồ vơ vét trong đợt đổi tiền trước

đó. Đổi tiền là vụ cướp cạn tài sản trắng trợn của nhân dân được dấu dưới chiêu

bài rất tinh vi. Cha con Hồ cho in tiền giấy, thứ tiền âm phủ, thay cho tiền bằng

bạc nén vốn đã dùng từ ngàn năm trước. Nhà Hồ khốn nạn đã vét tài sản sạch của

nhân dân trong đợt đổi tiền này. Hai là, sau mỗi trận thắng, Đặng Dung lại hao

quân mất tướng. Lực lượng hao hụt đến phân nữa mà không sao có nguồn lực bổ

sung. Đặng Dung muốn huy động sức dân cũng không còn mấy người yêu nước

giàu có dấu lén tiền cung cấp. Là người tướng tư lệnh, Đại tư mã, đã hình dung sự

“thất bại của mình”. Quý Tị (1413), bấy giờ quân nhà Trần ít lắm.Trương Phụ vào

đến Nghệ An, quan Thái Phó (chức quan văn tương đương với thủ tướng bây giờ)

của nhà Hậu Trần là Phan Quý Hữu ra hàng. Con Quý Hữu là Liêu được Trương

Phụ cho làm tri phủ Nghệ An. Phan Liêu tâng công. Y Khai báo về tình hình nội

bộ bởi cha y là người điều hành việc hành chánh cho vương triều. Y khai nhà vua

Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, Ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa;

Chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; Dẫu cho Trăm thân

ta phơi ngoài nội cỏ, Nghìn thây ta bọc trong da ngựa, Cũng nguyện xin làm! ”

(HTS), Đặng Dung lặp lại. Nguyễn Cảnh Dị làm thinh , biết tiên sinh đã quyết làm

theo lời dạy của người xưa. Nên có dành cũng là vô ích. Nguyễn Cảnh Dị hỏi liệu

11

Tướng Quân mệnh hệ gì thì tôi phải làm sao?. Đặng Dung cười bảo hãy tin nơi ta.

Nguyễn Cảnh Dị suy nghĩ một hồi rồi nói rằng, xưa hai ông cha họ đã từng làm

quan tại đất QuảngNôm nên họ biết thuôc tính và tài năng của dân làng chài Cửa

Đợi, cù lao Chàm. Ông khuyên Đặng Dung nên chọn những người này trong đám

cảm tử quân cùng đi. Nghe Nguyễn Cảnh Dị nhắc dân làng chài Cửa Đợi, Đặng

Dung bồi hồi nhớ lại. Ông nhớ như in năm xưa theo cha đến vùng đất này đi tìm

lại chủ tướng của cha mình năm xưa là Hoàng Hối Khanh để bàn việc phục quốc

kháng Minh. Đặng Dung không sao quên được tại hải đảo này có địa hình giống

như Vương Kiến mô tả trong bài Vọng Phu Thạch. Lúc dân làng chài đón cha con

ông, bất giác ông ngâm lên bài Vọng Phu Thạch. Cảm khái cảnh người chiến binh

ra đi mà không hẹn ngày về. Người vợ ngày ngày ra đứng đầu núi bên sóng biển

thét gầm ngóng đợi. Cảm mến vì đại nghĩa ngày xưa của cha ông và tướng

Nguyễn Cảnh Chân, người dân ở đây xin theo kháng chiến khá đông. Lần đó,

Cha ông chỉ chọn người nhẹ gánh gia đình, còn trẻ, còn những người khác tuy

nặng lòng yêu nước, nhưng họ còn mẹ già, con thơ nên đành khuyên họ hãy dành

lòng yêu tổ quốc đó vào một công việc khác nhẹ nhàng hơn. Nay điểm lại, quả

thật các cận tướng của cha ông đa phần là dân Thuận Quảng theo cha ông tham gia

trong trận tấn công Bô Cô và nay theo hầu dưới trướng ông.

-Trận đánh quyết tử, tác giả là người anh hùng

Chuyện khó tin trong binh sử thế giới, trường hợp hy hữu này duy chỉ có trong

quân sử Đại Việt. Khi vị tướng tư lệnh lại là cầm đầu toán người nhái cảm tử rất

gọn nhẹ dánh thẳng vào sào huyệt kẻ tử thù . Việc tổ chức đã xong đợi ngày G

sẽ đến. Cơ hội đến, vào tháng 9 được biết quân Trương Phụ vào đến Thuận Hóa,

và kéo binh tập kết vào ngã ba sông này để tổ chức cuộc săn đuổi vua quan Hậu

Trần đang đóng quân ở trên bờ . Quan thái phó Nguyễn Súy và quan đại tư mã

Đặng Dung nửa đêm chia quân đến đánh Trương Phụ. Quan thái phó Nguyễn Súy

dùng thuyền nhẹ đánh nghi binh, giặc Minh trào về phía Nguyễn Suý, và thừa lúc

đó Quan tư mã Đặng Dung lao mình xuống nước trước, hơn mươi chiến sĩ cảm

tử quân lao theo sau. Họ bơi nhanh về phía thuyền lớn nhất, sáng nhất trên sông.

Từ dấu hiệu của Đặng Dung, bọn họ leo lên được thuyền của Trương Phụ, dùng

đoản đao thịt lẹ các tên lính trên sàn. Họ nhào vào tên mập mạp nhất, phương phi

nhất và đã bắt sống tên này, lôi y xuống nước. Y la lên. Do vì không biết thường

ngày tên Trương Phụ mặc quần áo gì, do chưa thấy mặt kẻ thù lần nào, nên họ đã

bắt lầm. Thừa cơ Trương Phụ lập tức nhảy xuống sông lấy cái thuyền con mà chạy

thoát. Bấy giờ quân nhà Trần ít lắm nên khi Trương Phụ nhận ra họ chỉ là toán cảm

tử nên đã huy động binh sĩ phản công. Đặng Dung và binh sĩ địch không nổi phải

bỏ chạy. Từ khi thua trận ấy rồi, Trần Quý Khoách thế yếu quá không thể chống

với quân giặc được nữa, phải vào ẩn núp ở trong rừng núi. Phần vì không có quân

12

lương tiếp viện , phần vì quân lính hao hụt mà không có nguồn bổ sung. Qua lời

khai của Việt gian tên là Phan Liêu, con quan thái phó (thái phó là chức gần gần

với chức phó thủ tướng nội các bây giờ) hàng đầu người Nghệ, nay được Trương

Phụ cho làm tri phủ Nghệ An,khai báo từng tận tình hình của vua quan nhà Hậu

Trần lúc ấy, nên quân Minh càng hết lòng truy kích mà không sợ phục binh. Trong

một trận đánh cuối cùng chống càn, Thái bảo Nguyễn Cảnh Dị nhận vai trò cản

hậu để Đại Tư Mã Đặng Dung, Thái phó Nguyễn Suý tập trung hộ giá nhà vua

Trần Quý Khoách, thoát thân trước. Thái bảo Nguyễn Cảnh Dị chẳng may bị trúng

tên của quân Minh, nên bị bắt. Giận vì bắt hụt vua tôi nhà Hậu Trần để lập công

với Minh đế, do sự kháng cự ngoan cường của Nguyễn Cảnh Dị, vừa sợ do nhớ lại

lần thoát chết một cách đầy may mắn vào mấy tháng trước từ cuộc tập kích , nên

y dùng mọi thủ đoạn lẫn tra tấn buộc Nguyễn Cảnh Dị cung khai, rằng bọn họ đã

trốn vào đâu .

Cái chết thảm khốc của vị tướng tham mưu, quan thái bảo Nguyễn Cảnh Dị.

Thái bảo Nguyễn Cảnh Dị bị giặc bắt vì bị trúng tên.Trương Phụ truyền

mang ông đến.Trương Phụ dụ hàng và vỗ về để Nguyễn Cảnh Dị khai ra chổ ẩn

núp cùng lực lượng còn lại quân binh Hậu Trần. Nguyễn Cảnh Dị đã mắng ngay

vào mặt Trương Phụ. Bọn Tàu Hán muôn đời nham hiểm. Xưa nay tiền nhân họ đã

Sau đó không bao nhiêu ngày vua Trùng Quang Đế, Đồng bình chương sự Đặng

Dung, Thái phó Nguyễn Suý đều bị bắt. Đặng Dung không tự sát vào lúc này vì

bổn phận của ông là hộ vệ nhà vua. Ông không thể chết trước vua để vua mình bị

nhục khi ở một mình. Và cơ hội đến họ đã cùng chết một cách oanh liệt như ta đã

biết.

Bạn đã đọc và đã hiểu khí phách của tiền nhân ta.

Họ là anh hùng không có gì phải tranh cãi. Bạn OK?

Vậy thì Hàn Tín, Phàn Khoái thì sao?

Xin đoạn đoạn tiếp, Luận Anh Hùng Tàu thời Đại Hán.

Chú thích và tham khảo .

* Xin đọc loạt bài cẩm hoài của Đặng Dung. Các bài này PII,d1, Thế Sự Du

Du,CẢM HOÀI,trước để hiểu phong cách mã thượng của danh nhân Đại Việt xưa

trên http://www.art2all.net hay trên trang

*http://chimviet.free.fr/vanco/laiquangnam/lqnt054.htm.

13

Hay là các trang mạng khác đã lấy về đăng lại .Của trời trăng gió kho vô tận.

Xin làm ơn phản hồi ý kiến nếu có, hay cho laiquangnam biết trang web của

mình có đăng lại bài của http://www.art2all.net hay của Chim Việt Cành Nam. Sai thì

laiquangnam chỉnh sửa viết lại,có sao đâu. laiquangnam cám ơn vô cùng.

** Sử gia Nguyễn Khắc Thuần kể tiếp: Dựa theo Minh Sử của Trương Đĩnh Ngọc

(người Trung Quốc) thì trận đánh này xảy ra tại Ái Tử, nay thuộc huyện Triệu

Phong, Quảng Trị

Tháng 11 năm 1413, Đặng Dung cùng Nguyễn Cảnh Dị bị Trương Phụ bắt sống

khi đang tìm đường tạm lánh sang Xiêm La để tính kế lâu dài. Vì liên tục lớn tiếng

chửi mắng nên Nguyễn Cảnh Dị đã bị Trương Phụ hạ lệnh giết ngay. Còn Đặng

Dung cùng Trần Quý Khoáng, Nguyễn Súy và một số tướng lãnh khác bị áp giải

về Yên Kinh (Trung Quốc). Dọc đường, Trần Quý Khoáng nhảy xuống biển tự tử,

Đặng Dung cũng lập tức nhảy xuống chết theo.[10]

*** Đọc lại chính sử Tàu, đoạn hành hạ danh tướng thái bảo Nguyễn Cảnh Dị.

Theo Minh Thực lục : Quan Tổng binh Anh quốc công Trương Phụ mang quân

đến trang Tra Hoàng, huyện Chính Hoà, châu Chính Bình (Quảng Bình); tướng

giặc là Hồ Đồng hàng. Nghe tin bọn Đặng Cảnh Dị, Đặng Dung, Long Hổ Tướng

quân nguỵ Lê Thiềm hơn 700 tên chạy đến sách Côn Bồ, Tiêm Man; bọn Phụ

tiến binh ngay đến sông La Mông. Phải theo đường núi vin cành lá mà leo lên

nên đành bỏ ngựa, tướng sĩ tiếp tục đi theo. Đến sách Côn Bồ, bọn Cảnh Dị đã

bỏ trốn; lại truy kích đến sách Tra Bồ Nại, bọn giặc và dân địa phương đều trốn,

không biết ở chốn nào, nên làm cuộc lục soát lớn. Vào canh tư, đi trên 20 dặm,

nghe tiếng trống điểm canh, Phụ sai Đô Chỉ huy Phương Chính mang quân lẳng

lặng đi, đến lúc trời sáng đến phía bắc sông, tại sách Tra Bồ Cán. Giặc lập trại

tại bờ phía nam, quan quân vượt sông vây đánh. Giặc chống không nổi, tên bắn

liên tiếp trúng, Cảnh Dị bị thương tại sườn, bắt được. Đặng Dung trốn, Phương

Chính mang quân truy lùng, bị bắt cùng với em là Đặng Nhuệ. Bắt hết bọn giặc Lê

Thiềm, tịch thu ấn nguỵ của Cảnh Dị. Cảnh Dị bị thương nặng, bị róc thịt lấy thủ

cấp, áp giải cùng anh em Đặng Dung đến kinh đô; tất cả đều bị xử chém để làm

răn. (Minh Thực Lục quyển 13, tr. 1727-1728; Thái Tông quyển 147, tr. 2a-3b) //

http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%B7ng_Dung

Có bao nhiêu phần trăm đứng sự thật trong Minh Thực lục bên trên ?

Tại Việt Nam có một lối viết sử đáng chê trách từ các người được

chúng ta gọi họ là sử gia. Thói xấu này và ấu trĩ của bọn sử gia này là gì ? Người

14

Việt hiện nay phải cần lên án họ thật nặng nề, nếu không thì ít nhất cũng đem ngay

sách của họ quẳng vào sọt rác, trừ sách của Sử gia Trần Trọng Kim. Đó là các vị

gọi là sử gia này khi xử dụng các nguồn sách từ bên Tàu đã không nhận định được

bắt dẫn về Yên kinh,bêu đầu thị chúng, cắt đầu mang thủ cấp về Yên Kinh” . Ta

hãy xem sử nhà Tống họ viết với văn phong tự sướng về quân mình (quân Tàu

Hán) khi họ bị thảm bại trước danh tướng Lý Thường Kiệt, có độ lệch rất lớn giữa

Tống sử và trang hồi ký của người trong cuộc ra sao. Từ đó suy ra, liệu các trang

sử khác của họ có đáng tin không ?. Thời điểm có thể đúng, nhưng chi tiết về kẻ

bại trận, viết về dân tộc Việt, anh hùng Việt, hầu như không họ viết không có chút

nào gọi là đúng cả, bởi chính người trong cuộc còn chưa thấy huống gì mãi đến

bốn năm trăm năm sau. Có lẽ nói không ngoa, nhiều người viết sử Việt bây giờ là

bọn người “ khờ bẩm sinh“ đôi khi cũng đúng. Đôi khi sự tường thuật của người

trong cuộc có khi đúng sự thật hơn nếu như ta biết tường tận vai trò của họ, bởi

nhiều người trong số ấy họ viết ra những điều nghe thấy cốt rút ra kinh nghiêm

cho con cháu họ khi tham chiến tại Đại Việt.

1- An Phủ Sứ Bắc Giang tên là Nguyễn Hy Chu bị quân Minh bắt được. Dụ

hàng ,ông không chịu hàng phải giết.

2- Ngụy Thức là Tướng giữ phần hộ giá cho cha con họ tức Hồ Quý Ly và Hồ Hán

Thương . Ngụy Thức thấy thế nguy cấp lắm, biết thế nào bọn ông cũng bị sa vào

tay giặc, liền bảo với Quý Ly rằng: ” Nước đã mất, là vua ông không nên để cho

người ta bắt được, xin Bệ Hạ tự đốt mà chết đi còn hay hơn !” . Quý Ly nén giận

hỏi lại , tại sao lại phải chết?. Ngụy Thức thưa ” bởi xưa nay trong lịch sử dân tộc

này chưa có vị vua nào bị giặc Tàu bắt. Đó là điều làm tổ quốc này đời đời ô

nhục. Con cháu họ sẽ bị nguyền rủa đến muôn đời sau . Sống thêm làm gì khi mà

tổ tông mình bị bêu rếu hàng ngày trong dòng chính sử mà người học trò học tập

hằng ngày.” . Quý Ly giận lắm, hét lớn lên, sai ngự lâm quân bắt Ngụy Thức chém

ngay tức khắc và truyền rằng, từ nay ai mà nói hai nói đến hai từ tự sát đều phải

chịu tội chết như Ngụy Thức. Chém xong, Cha con họ Hồ vội vã chạy vào Nghệ

An. Về sau Hồ Quý Ly bị lưu đày. Con trưởng là Hồ Nguyên Trừng tuy cúc cung

phục vụ tổ quốc gốc của hắn, nhưng vẫn bị Minh đế bắt thiến đi, cho ăn ba miếng,

cho chức phận. Ngay sau khi bị bắt giải về Tàu, vào khoảng năm 1407,thì Y dã

được Minh đế phong cho chức đại quan thuộc bộ Công ( gần gần như Bộ Công

Nghệ ngày nay). Cuôc chiến đấu của các vua Hậu Trần trong nước thì y liệu có

biết. Liệu y có tự hỏi việc ra sức chế tác vũ khí cho nhà Mình mang sang tham

chiến tại Đại Việt có khiến cho cuộc kháng chiến của nhà Hậu Trần và Lê Lợi

thêm thập phần phần khó khăn hơn không ?.Y đã có công trạng gì với vua nhà

Minh mà khi Y chết, 1447 thì vua Minh đã phong hàm cho Y chức Thượng thư Bộ

15

Công? . Nực cười, có ai đó cố kể cái thông mình tài hoa của y như là một người

Việt Nam xuất chúng, và xếp Hồ Nguyên Trừng vào hàng ngũ nhân tài của đất

nước này. Tại sao tại tỉnh Thừa thiên Huế ngày nay lại có con đường mang tên Hồ

Nguyên Trừng mà không đâu trên đất nước này có?. Liệu học giỏi ,thông minh

xuát chúng nhưng đem cái thông minh ấy chống lại dân tộc mình thì người ấy có

đáng ca ngợi?. Nếu ngày xưa ông bà ta đã hiểu sai ,thì nay thế hệ chúng ta nhất

định xét lại ,không chút do dự trù trừ.

Cái nhầm để đến việc đất nước này này mang thảm hoạ về tay cha con Hồ

Quý Ly là từ vua Trần đã ham gái Tàu, lấy con gái y làm thiếp yêu, át dòng chính

thất nên ra nông nỗi. Vua Trần cuối cùng sau này chính là cháu ngoại của y. Y

cướp ngôi của cháu ngoại bởi muốn từ nay vua phải là họ Hồ, họ nội của Y. Lãnh

đạo quốc gia mà có vợ Tàu là đất nước này trước sau cũng sớm bị diệt vong nếu

hên hơn thì điêu đứng vài chục năm, vài trăm năm. Kẻ Sĩ là người nghĩ “Đừng cho

cơ hội gì để bọn Tàu Hán lặp lại lịch sử ” . Suy cho cùng cái ngu cũng bắt đầu từ

cái học “ a đầu học” , thi thi, cử cử,gục đầu ăn, gục đầu ra làm quan của cái đám

gọi là giới Sĩ (士), nói trên. Đúng ra kẻ có ăn học, kẻ có tài giúp nước phải nêu

những lỗi lầm từ trang sử cũ và dùng vị thế của mình ra sức cản trở, nếu điều xấu

ấy có cơ hội lặp lại. Đừng làm cho nhân dân tiếp tục đau khổ hơn. Không làm

được điều ấy, họ chỉ là hiện thân của quan Bờm mà hình ảnh được tiền nhân ta vẽ

và gọi đích danh qua 10 nhân vật ăn hại đái nát làm tàn mạc đất nước này. Bộ bài

tới của Quảng Nam quê tôi đã mô tả rất kỹ chân dung và thuộc tính của họ trong lễ

hội bàiChòi hằng đêm tại Hội an hiện nay. – Theo vi-wikipedia và các nguồn sử

liệu qua Google search.

4- Theo VNSL của Sử gia Trần Trọng Kim.

5- Ta cùng đọc đoạn sử này :

Sách Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên chép:

Về trận tấn công cảm tử .

Đang khi đôi bên quân nam và quân bắc đang cầm cự nhau thì Đặng Dung bí

mật dùng bộ binh và tượng binh mai phục, đúng nửa đêm thì bất ngờ đánh úp vào

doanh trại của (Trương) Phụ. (Đặng) Dung đã nhảy lên thuyền của (Trương) Phụ

và định bắt sống (Trương) Phụ nhưng lại không biết mặt để có thể nhận ra hắn,

vì thế, (Trương) Phụ liền nhảy sang thuyền nhỏ chạy thoát. Quân Minh bị tan vỡ

đến quá nữa, thuyền bè, khí giới bị đốt phá gần hết, thế mà (Nguyễn) Súy không

biết hợp lực để cùng đánh. (Trương) Phụ biết quân của (Đặng) Dung ít nên lập tức

quay lại đánh. (Đặng) dung đành phải chịu thất bại, quân sĩ chạy tan tác hết.

Đại Việt sử ký toàn thư (Bản kỉ toàn thư, quyển 9, tờ 22-b). Khâm Định Việt Sử

Thông Giám Cương Mục chép tương tự và kèm theo lời bình là: Trời nuông tha

Trương Phụ (Chính biên, quyển 12, tờ 39).

16

6-Chữ màu đỏ, bạn xem như từ khoá vào Google search để đọc thẳng tư liệu.

7- Đoạn sử trên , laiquangnam lấy nguồn từ vi-wikipedia và các nguồn khác, nay

laiquangnam chỉ sửa lại vài câu chữ cho gọn. Xin thành thật cám ơn các tác giả và

chủ các trang website

8- Xin đọc bài Hòn Vọng Phu Quảng Nam để hình dung nơi đến của cha con

Đặng Tất-Đặng Dung

Laiquangnam .

Quê người ngày cuối đông lạnh quá. MARCH, 6

Thèm và nhớ cái ấm áp tại quê nhà vào ngày rằm tháng giêng.

Thèm đốt trên mộ mẹ, mộ cha một nén hương lòng,

Lòng bồi hồi, hồi hướng tiền nhân .

Tran van Kinh : Toi nghe tieng cua toi

Tôi nghe tiếng của tôi

Không ríu rít như con chim chích

Khoe cái lồng nan  rất thích rất thích

Hơn bao nhiêu lồng khác trên đời

Cũng không như tiếng  gầm gừ  gầm gừ

Của con sư tử chưa chịu già nua kia

Đã bao năm được người hầu hạ

Vẫn nhớ tiếc một thời hoang dã

Cũng chẳng như mấy anh hát rong

Đàng hoàng quanh năm ngày tháng

Nghêu ngao một kiếp long đong

Để lại cho đời danh tiếng.

Cũng chẳng như những nhà hiền triết

Vẫn  ngọt ngào thánh thót bên tai

Dạy bảo những điều người đời chưa biết

Như thuở nào còn mực tím dính đầy tay

Sao cái tay tôi không chịu viết

Sao cái chân tôi không chịu bước

Nó cũng ì ra như cái thân tôi

Cái thân tôi trời xanh đã định trước.

Đừng trách ông trời

Đừng đổ tại người

Cách nhau thế kỷ

Chỉ tại cái đầu thôi

Nó đã già sớm rồi.

Tôi nghe tiếng của tôi

Chỉ như tiếng rung rung khe khẽ

Của lòng mình xôn xao xôn xao

Rồi tan đi trong tiếng gió gào

May chỉ có người yêu mình nghe được.

Thơ Quang Dũng : Cố quân ( Nguyễn Chân dich sang Pháp Nga Hán)

CỐ QUẬN

QUANG DŨNG

LA TERRE NATALE

QUANG DZUNG

Trăng sáng vẫn vờn đôi bóng cau

Ngồi đây mà gửi nhớ phương nào

Gió mát lung linh vầng Bắc Đẩu

Tiếng hè ếch nhái rộn bờ ao.

Ngồi đây năm năm miền li hương

Quê người đôi gót mải tha phương

Có những chiều chiều trăng đỉnh núi

Nhà ai chày gạo giã đêm sương

Tịch mịch sầu vơi bèo râm ran

Côn trùng im ỉm lối trăng tàn

Người ơi quê cũ đèn hoe ngọn

Tóc bạc trông chừng cổng héo hon

Ngõ trúc quanh quanh sầu bóng lá

Trăng vàng rơi rắc nẻo nào xưa

Ngõ cũ không mong người trở lại

Mà mùi hoa mộc vẫn thơm đưa

Đốt khói lên rồi hương viển vông

Dòng xanh thoáng biến cảnh hư không

U hiển liêu trai về quá khứ

Chuối vườn rũ lá đóm bay vòng

Em ơi! Em ơi! Đêm dần vơi

Trông về phương ấy ngóng trông người

Trăng có soi qua vầng tóc bạc

Nẻo về cố quận nhớ thương ôi!

Trăng sáng năm năm mùa lại mùa

Hạ này vơi lại nhớ thu xưa

Người đi người đi đường quạnh quạnh

Ngày tháng thương vay kẻ đợi chờ

Les ombres des deux aréquiers sous la lune s‘agitent

À quel endroit je pense, m’assoyant dans ce gite

Scintille l’Étoile Polaire, souffle le vent

Du bord de la mare font entendre des coassements

Je m’absorbe toujours par cette terre étrangère

Parfois à la soirée sous la lune sur la cordillère

Du pilonnage du riz dans la nuit brumeuse j’entends

Susurrent les lentilles, diminuent les chagrins

Les insectes se taisent sous la lune en déclin

Ma chère, au pays natal la flamme de la lampe roussit

Aux cheveux blancs, on regarde à la porche et se languit

Le hameau sinueux s’attriste par l’ombre des feuilles

Sur quels vieux endroits sa clarté la lune éparpille

L’ancien hameau n’attend pas le retour de l’aventurier

Mais la senteur d’osmanthus persiste à s’exhaler

Monte la fumée d’encens, se répand la senteur chimérique

Sa teinte bleue voile furtivement le paysage

Sombre, puis clair le passé devient maléfique

Flétrissent feuilles du bananier, planent lucioles

Ma mie! Oh, ma mie, la nuit est entrain en décadence

Regardant à ce côté, je t’attends impatiément

Éclaire-t-elle à travers la chevelure blanche

La voie au pays natal qu’on en pense affectueusement?

Cinq ans, d’une saison à l’autre la lune éclaire

À la fin de cet été on se rappelle de l’automne passé

On passe et repasse le sentier vide et désert

Et à compatir à celui dans l’attente on se met.

Loin de la terre natale déjà cinq ans

РОДНОЙ КРАЙ

КУАНГ ЗУНГ

Тени двух арековых пальм резвятся под луной

Сижу здесь но о каком месте же думаю

Дует ветерок, дрожает Полярная Звезда

Летом громко звучат квакания с берегов пруда

Будя здесь пять дет, ностальгией страдаю

Чужим краем постоянно увлекаю

Бывают вечера, когда на вершине гор луна

Слышатся в туманной ночи звуки очиски риса

Шелестят ряски, уединённо убывает тоска

Молчат насекомые под ущербной луной

Дорогая! На родном краю лампа порыжела

В седине приматривают на ворота с тоской

Грустят тени листов над извелистой аллей

На каких местах луна разбрасывает свой свет

Старые улочки не ждут возвращения жителей

Хотя постоянно пахнет ароматом цвет

Поднимается дым но аромат несбыточный

Голубой клуб его помутил вид сразу

То ясно, то тёмно, чортово прошедшее

Светлаки кружали, завянули листья бананновые

Любимая! Любимая! Ночь скоро кончится

Смотря на ту сторону, тебя всегда жду

Светит ли дуна через эту седину

Дорогу к родному краю! Тоска какая!

Пять лет светила луна время за времени

Постепенно уменшается то лето

Напоминают об осени прошедшей

Ходит человек на дороге тоскливой

Жалея за того, который ждёт родного

郡故 CỐ QUẬN

光勇 QUANG DŨNG

月明搖動雙榔影 Nguyệt minh dao động song lang ảnh

寄憶何邊自這邊 Kí ức hà biên tự giá biên

搖擺涼風明北斗 Dao bãi lương phong minh Bắc Đẩu

池塘蛙夏鬧纏綿 Trì đường oa hạ náo triền miên

他方人坐五年長 Tha phương nhàn tọa ngũ niên trường

雙腳奔波趁易鄉 Song cước bôn ba sấn dị hương

暮暮多時山嵿月 Mộ mộ đa thì sơn đính nguyệt

誰家舂米夜垂霜 Thùy gia thung mễ dạ thùy sương

淺愁寂寞苹咕唧 Thiển sầu tịch mịch bình cô tức

靜默昆虫下玉蟾 Tĩnh mặc côn trùng hạ ngọc thiềm

故里燈梢紅已轉 Cố li đăng sao hồng dĩ chuyển

望閭頭白似萎然 Vọng lư đầu bạch tự nuy nhiên

竹徑嬰迴愁葉影 Trúc kính oanh hồi sầu diệp ảnh

月明散映舊何方 Nguyệt minh tán ánh cựu hà phương

歸人故巷無期望 Qui nhân cố hạng vô kì vọng

但是木花馥郁香 Đãn thi mộc hoa phức úc hương 煙升香是

仍虛幻 Yên thăng hương thị nhưng hư ảo?

閃變碧流景化空 Thiểm biến bích lưu cảnh hóa không

幽顯聊齋歸過去 U hiển Liêu Trai qui quá khứ

芭霄垂葉翥螢虫 Ba tiêu thùy diệp chứ huỳnh trùng

啊妹夜消消已妹 A muội, dạ tiêu tiêu dĩ muội!

那方遠望待君嗟 Na phương viễn vọng đãi quân ta

白頭月照能過否 Bạch đầu nguyệt chiếu năng qua phủ

故郡歸途悼念呀 Cố quận qui đồ điệu niệm nha!

明月五年季接季 Minh nguyệt ngũ niên quí tiếp quí

今年夏減念經秋 Kim niên hạ giảm niệm kinh thu

寂寥途路人仍步 Tịch liêu đồ lộ nhân nhưng bộ

歲月愁傷等者乎 Tuế nguyệt sầu thương đãi giả hồ!

NGUYỄN CHÂN phỏng dịch 10.02.2015

NGUYỄN CHÂN (Адаптаця)