Archive | Tháng Năm 2015

Nguyễn Đức Thanh (Đỗ Anh Thơ) : Nhớ lại lần nuôi thả thành công chích choè than

Hồi những năm 90 ở đường Nguyễn Khang Cầu Giấy nhiều nhà còn vườn rộng. Vườn sau nhà kề bên Docago có một cây vú sưã to. Một lần đi chợ Bưởi bắt gặp người bán đôi chích choè than còn rất non chưa mọc lông báo, Docago đã mua về. Ngày ngày Docago cho ăn bằng cám trứng hoà nhão nước, cho thêm cào cào tươi nghiền nhỏ.  Mỗi lần thò chiếc đũa vót như cái mỏ chim có ít cám vào lồng chúng há miệng đòi ăn như mẹ chúng đút mồi vậy . Qua hai tuần chúng mọc long báo, con có chân long trắng sau thành chim trống, con chân long đen sau  la chim mái màu mốc mốc. Khi chúng biết bay, một buổi chiều đưa chúng lên sân thượng để tắm, vô ý để một con sổng lồng bay lên cây vú sữa. Tưởng mất, Docago tiếc vô cùng. Nhưng khi nghe con chim trong lồng kêu, con ở ngoài trời kêu theo và gần tối bay về.   Rút kinh nghiệm Docago đã cắt cụt bớt long cánh bên trong chỉ để ba cái ở ngoài nên nhìn chúng vẫn như chim đã ra ràng. Chiều hôm sau,  lần này Docago chủ động thả ra một con . Nó lại bay lên cây vú sữa , rồi tối bay về. Hôm sau thả con khác.

Dần dà chúng quen với môi trường nuôi thả, nhảy nhót quanh sân và bắt đầu tập hót. Nhà lúc này không có chó meo nen chúng cứ quấn quýt bên người. Khi vợ Docago băm thịt làm thức ăn, hoặc dọn bếp bắt được con gián chúng tranh nhau trông thật vui mắt . Ngày ngày chúng thường đậu trên hòn đa non bộ nhỏ hoặc cây thấp thi nhau hót đối đáp. Tối bay về chuồng để sẵn thức ăn.

Chúng sống yên binh với người như vây dễ thường được nửa năm. Rồi một hôm bị mèo nhà hàng xóm rình và vồ trượt. Thế là chúng bay mất không quay trở về nưa.

Docago nhớ chúng và mất ngủ nhiều đêm liền. Mùa chim chích choè non năm sau , Docago lại ra chợ Buổi mua một tổ bốn con nuôi như lần trước, nhưng không sống được con nào. Docago cảm thấy hối hận như phạm phải tội ác

Rồi chơt nhớ tới bài học “ không nên phá tổ chim” lúc còn ấu thơ Docago đã không dám thí nghiêm lại một lần thứ ba trong đời.

Đỗ Anh Thơ

Advertisements

Docago(Bài viết nhiều kỳ ) : Trao đổi kinh nghiệm bước đầu chăm sóc hoa cây bónsai và chim cảnh

chậu phong lan 5 cành hồ điệp trắng hồng
Chậu

Lan Hồ Điệp

1.-   Lan Hồ điệp

        Những bông lan hồ điệp Phalaenopsis Blume  đẹp mê hồn trình bày nơi phòng khách hằng năm trong dịp Tết, . Đó là loài hoa   bản địa của khu vực Đông Nam Á đến vùng núi Himalaya và các đảo PolilloPalawanZamboanga del Nortecủa Mindanao thuộc Philippines và bắc Úc. Nay được người làm vườn nuôi trồng bằng mầm có thuốc kích thích nên sau tết rất ít ai nuôi giữ được thành công.  Tìm hiểu nó  là loại phong lan ít ưa nướcđược phân thành hai nhóm:

  • Nhóm có cành hoa dài (đến 1 m), phân nhánh, lớn, hầu hết hoa có viền màu hồng hoặc trắng.
  • Nhóm có thân ngắn và không tròn, hoa có nhiều màu sắc.
Dựa trên bằng chứng về DNA, các chi Doritis Lindl. và Kingidium P.F.Hunt hiện cũng được xếp vào chi Phalaenopsis, theo World Checklist of Monocotyledons, Royal Botanical Gardens, Kew) (Xem tài liệu tham khảo số 1). Tuy nhiên các chuyên gia về hoa lan chưa chấp nhận việc phân loại này.
  • Hồng hoặc trắng.
  • Nhóm có thân ngắn và không tròn, hoa có nhiều màu sắc.
Dựa trên bằng chứng về DNA, các chi Doritis Lindl. và Kingidium P.F.Hunt hiện cũng được xếp vào chi Phalaenopsis, theo World Checklist of Monocotyledons, Royal Botanical Gardens, Kew) (Xem tài liệu tham khảo số 1). Tuy nhiên các chuyên gia về hoa lan chưa chấp nhận việc phân loại này.
           Moi năm chơi hết hoa là Docago vứt bỏ hoặc treo ngoài vườn và tưới như phong lan. Chúng đều bị sên an hoặc chết dần . Năm nay ( 2015) thấy tiếc Docago đã đem treo cao dưới dàn cây mành mành trong dâm đề phòng ốc sên ăn lá chứ không để ngoài vườn, để suốt cả mùa khô. Trước khi treo có nhúng ngập rễ chúng vào nước vo gao và hàng ngày không tưới tắm gì . Một thang  nhúng lại một lần  Đến nay có 10 dò đã ra thêm được hai lá. Docago hy vong Tết năm tới nó sẽ ra hoa cũng giống như những bông hồ điệp treo ở nhà 347/11 Nguyễn Khang (HN) cả năm Docago không ra , không được chăm sóc. Thỉnh thoảng chỉ có chú em nhà ở bên cạnh thương hại ghé vòi nước tưới qua cho đôi chút../.

Nguyen Duc Thanh ( Đỗ Anh Thơ) :Truyện kể bên chân Cầu Giấy 1.-Cái cổng cổ mang tên Nguyễn Đức trai (*)

 

                    1.-Cái cổng cổ mang tên Nguyễn Đức trai (*)

                        ở ngõ 347 Nguyễn Khang Quận Cầu Giấy 

Năm 1992 khi Docago mua một mảnh đất trong ngõ ở xóm Yên Hoà B cạnh nhà hàng thịt chó Sơn Hải để làm nhà thì song Tô Lịch nơi này chưa được kè chắn . Trời nắng song bốc lên nồng nặc mùi nước thải của Nhà máy da Thuỵ Khuê cọng với mùi lợm tanh nước giết mổ chó của quán Sơn Hải.

Làng chưa có nước máy, điện của một số nhà còn phải câu nhờ của khu tập thể quân đội. Tuy nhiên Docago cùng cậu em đã dám tự đặt tên hẻm là Ngõ Hướng Dương để tiện giao dịch thư từ sách báo.

Với một khoản tiền ít ỏi là 4 cây vàng Docago đã mua đươc hơn 80 m2 đất với một cái cổng cổ của một ông cụ họ Tô. Trên cuốn thư có một bài thơ chữ Hán  .Docago cùng Huỳnh Công Bá nghiên cưu sinh tiến sĩ khoa Sử ĐHSP Huế luận mãi mà vẫn không đọc được vì chữ tháu và tróc vôi.

Hai bên là câu đối :

Tô thuỷ trừng thanh khai bảo giám

                               Mã sơn ủng bạch ngật …( mất hai chữ)

Nghĩa là :

Nước song Tô mở ra gương báu

Núi Mã ( ngựa ) nâng (mây) trắng cao ngất ……

Khi làm một căn nhà hai tang nhỏ ở đó, Docago đã xác định đây sẽ là nơi viết lách cuối đời của mình nên đã giữ cái cổng đó chi thay mấy chữ :

Ở cuốn thư xoá bài thơ đã mờ và thay vào ba chữ :

Nguyễn Đức Trai ( nghĩa là thư phòng, nơi chay tịnh tu dưỡng đạo đức của ông già họ Nguyễn Đức)

Nên vế 1 câu đối thay hai chữ cuối thành khai Nguyễn nghiệp

Vế 2  ba chữ cuối thành ngật Đức danh , thành hai vế hoàn chỉnh như sau :

Tô thuỷ trừng thanh khai Nguyễn nghiệp

                                   Mã sơn ủng bạch ngật  Đức danh .(*)

Nguyên văn chữ Hán

德  ( chú ý : Đọc từ trái sang phải rồi vào giữa)  

苏 水澄 清 开 阮 业

马 山 拥 白 屹 德 名

Nghĩa là : Nước song Tô lắng trong khai mở sự nghiệp họ Nguyễn

Núi Mã nâng cao mây trắng rạng tỏ cái tiếng Đức độ

(*) Núi Mã Docago chưa tra cứu được. Phải chăng đây là Núi Chùa Thày  nơi Từ Đạo Hạnh vốn người làng này đã tu hành đắc đạo vì từ đây phóng tầm mắt nhìn sang qua cánh đồng là núi này./.

( còn nhiều kỳ tiếp

như bài về Chùa Nền , Đi xay bột nơi nhà con Tú Mỡ , Cùng TTCh đi ăn thịt chó Sơn Hải…)

,

 

Nguyễn Đức Thanh(Đỗ Anh Thơ) : Nhớ nắm xôi giỗ tổ quê hương

Con cháu họ Nguyễn Đức hiên đang tụ tâp về giỗ tổ ở một vùng xưa kia đạm đặc văn hoá tôn giáó : xã Nghi Trung Nghi lộc cách Vinh – Nghệ An 12 km về phía bắc. Nơi đây trước cách mạng tháng 8 từng nổi tiếng với Đền Hôi thi nay đã trở thành một cây xăng. Cũng may là

năm 1942 cụ cử nhân Quang lộc tự thiếu Khanh Nguyễn Đức Đôn cùng với người cháu ho trưởng tộc là Nguyễn Đức Tụ – khoá sinh hỏng tú tai đã chủ trương hợp tự nên nhà thờ họ mới tôn tai đến ngày nay tính ra gần 80 năm mà không bị CCRĐ xoá sổ. Cụ tổ họ Nguyễn  Đức tên là Nguyễn Đức Thược là nghĩa quân Tây Sơn khi phong trào này thất bại đã chạy về làng Phương Lịch ẩn cư sau lại chuyển về làng Hoàng Xá ( xã Kim Cẩm). Làng Hoàng Xá xưa gồm hai thôn Đông Đoài phía đông đường sắt vơi thôn  Hoàng xá phía Tây. Khi Pháp xây dựng đường quốc lộ và đường sắt mới bị chia cắt giữa mộ tổ với nhà thờ như hiện nay.

Docago nhơ nhà thờ hợp tự ( tính đến nay được12 đời) khơỉ công năm 1941 và xong vào khoảng cuối 1942 đâu năm 43. Trước đó nơi đây đã có một ngôi nhà thờ nhỏ của chi trưởng.   Thượng điện được cuôn bằng gạch trông hơi giống mái vòm nhà thờ Hồi giáo. Bái đường bằng gỗ được dỡ từ nhà thờ cụ  cử nhân Nguyễn Đức Tân (là bố đẻ Nguyễn Đưc Đàm, Nguyễn Đưc Đôn và là bố vợ tiến sĩ Nguyễn Huy Nhu…) từ bên làng đưa lên. Để làm nhà thờ, cụ Đôn cho đắp một lò gạch ở bên trại . Tại đất sét pha cát hay thợ thiếu kinh nghiệm hay tại gạch nung non lửa mà bị loại đi rất nhiều. Nhưng đến nay mái vòm cuốn không có sắt vẫn vững chãi cùng năm tháng. Lúc đó bái đương thấp nên đã phảỉ xây gach đôn cao cột lên thêm gần môt met và được trát xi măng có trộn tro lá chuối trông đen nhức. Bái đường này bị con cháu bán trong hoặc sau CCRĐ vì sợ mang tieng nhà thờ họ phong kiến địa chủ. Nhũng hoành phi câu đối không biết tản mác đâu hết, hiên nay chỉ còn lai bức hoành tróc sơn nham nhở là Khoan Đức Dụ ( nghĩa là rông tay áo mà khoan dung – ôm lấy  cái Đức) nhờ lúc đó có cháu nào đó tuy không biết chữ hán nhưng đã có sang kiến trở mặt sau ghi tên tổ tiên , đặt trong thượng điện như một cái am nhỏ mới còn.

Hồi làm nhà thơ Docago mới gần 10 tuổi được bố đèo về cúng giỗ tổ mấy lần . Trong đầu óc thơ ngây vẫn còn nhớ như in vị ngọt bùi của những nắm xôi lạc chấm nước mắm ăn cùng với thịt lợn luộc được bày lên những tấm cót trước sân nhà thờ cho trẻ con.

Nhà thờ quay về hướng tây .Ngoài cổng vào có một cây vông to mà Docago đã mô tả trong bài : Cây vông nhà thờ hay là cây Xư của Trang từ. Từ nhà thờ nhìn qua cánh đồng là nghĩa trang- nơi yên nghỉ của bố mẹ các chú mư các anh chi của Docago.

… Lúc này đây chắc đã thắp hương khấn tế xong , các cháu từ HN về cùng các cháu ở quê đang nâng những cốc bia chúc mừng nhau. Con cháu ở SG chiu thiệt thòi không về được và không biết có cháu nào biết nhắc đến những câu dặn dò của người xưa đã thành diễn ca từ  mấy tram năm nay :

Đức thuỷ tổ vốn làng Phượng Lịch

                       Tới làng hoàng mới thích đất cư.

                       Cùng bà Phạm thị duyên ưa

Và những đôi câu đối trươc thượng điện.

Đó là những câu đối của cụ Nguyễn Đức Tụ :

Kỳ lai viễn hĩ băng tiên trạch

                          Vĩnh viết kiên hồ di hậu nhân.

( nghĩa là: Từ xưa đây là quê cha đất tổ

                        Nói cho cháu con để lại mãi cho con cháu đời sau

                 mà 1992 Docago cùng Nguyễn Đức Uẩn về trùng tu lai nhà thờ đã làm them nhiều câu đối mới và tóm tắt hai câu trên thành 4 chữ đắp thành cuốn thư trước sân để con cháu dễ nhớ :

Bằng tiên, di hâu

( Đây là đất tổ, để mãi đời sau)

 

Viết tại SG nhân ngày giỗ tổ

5/4 AL( tức 21/5/2015)

Đỗ Anh Thơ

TVK & DAT : Thơ Chán và Ngán


Lốc (Blog) ta ca:

Xắn tay mở khóa Gu- Gồn (Google)

Xem đâu có lốc ra hồn như ta (*) :

Lốc ta ngoài cũng hơi già (U 80)

Nhưng trong sức bật còn là thanh niên

Khi đọc, này sách Thánh hiền (Trí tuệ Khổng Tử) (**)

Khi vui, này sẵn một miền riêng hoa ( Các loài hoa tiêu biểu)

Trên giá : Trí tuệ Lão, Gia (Trí tuệ Lão Tử, Trí tuệ Gia Cát Lượng…)

Dười bàn : Kinh Dịch thiên la quẻ, hào (Quẻ, hào trong Kinh Dịch)

Triết học khoa học  thế nào

Các dòng sông đã đi vào Văn minh (Văn minh các dòng sông)

Văn hóa tôn giáo sắp trình

Bách khoa (Từ điển Bách khoa toàn thư) chưa dễ hơn mình chút xiu

Hằng ngày xem lại pây-viu (Pageviewers)

Mấy trăm mấy chục, đủ chiều đông tây

Thơ, ca, bình luận dở, hay

Tào lao nhưng vốn cây ngay, chẳng cần…

Cho dù “chọc, quấy” rân rân

Nhưng mà ngày một canh tân : được rồi !

TVK

—-

(*) Doanhtho.blogspot,com

(**) Các chữ in đậm là các tên sách do DOANHTHO sưu tầm, biên soạn, chú giải, bình luận (nhưng chưa kể hết).





Vịnh Dê cụ

( tang TTCh, NXT, HB. TVK…)

Vứt cái T đi hắn thành DÊ

Trên đồi thơ mộng bướm  bay về.

Cành sim sai quả sáo non đậu,

Hắn dái đu đưa …háng lặc lè.

5/5/2015

ĐAT

ĐỖ ANH THƠ – Bai dang lai nhan ngay 30/4: Con niềng niễng khóc cha khóc mẹ… rồi bay đi .Chú bọ rầy ở lại, quay tít cùng quả cà!

ĐỖ ANH THƠ – NHỮNG MẨU CHUYỆN KỂ BÊN GIẾNG NƯỚC 

1. Con niềng niễng khóc cha khóc mẹ… rồi bay đi

Không hiểu tại sao nhà tôi lại có tới ba cái giếng. Cái giếng cỗ (cũ) ở góc vườn là giếng đất. Khi tôi lớn lên, nó chỉ còn là một vũng nước thối, mùa mưa tụ tập cơ man nào là nòng nọc, cóc con, chão chàng và ễnh ương. Chúng kêu vang suốt đêm. Giữa sân sau, có một cái giếng tròn khá sâu, nhưng nước không ăn được. Nơi đây, từ tuổi lên hai đến năm, sáu… mỗi khi tôi không chịu ăn, ngậm cơm lại trong miệng là anh Thẩn thường vác xốc tôi lên, ghé tới sát thành giếng và dọa thả xuống. Tôi khóc lạy, nuốt ực miếng cơm trong miệng. Tới miếng cơm thứ hai, cảnh đó lại lặp lại. Vì vậy, tôi có ác cảm với cái giếng này. Hình như khi tôi lên bảy, thì nó bị lấp mất, chỉ còn lại cái giếng thùng ở vườn ngoài. Giếng này cha tôi xây vuông, mỗi cạnh bằng chiều dài của một tấm bê tông đúc bằng gạch vụn. Nó sâu chỉ khoảng 2m, nhưng mạch nước lại rất trong và rất mát. Mùa hè mỗi ngày nó hiến dâng cho gia đình tôi, bà con lối xóm tôi khoảng vài chục gánh nước. Gặp đại hạn, anh tôi cùng bạn bè thường phải nhảy xuống, vét hết cát bồi, cho mạch nước sủi lên. Mỗi lần như thế, anh tôi lại đốt rơm thành than, thêm vào một vốc muối to cho nổ tách tách rồi đổ xuống nước để giết mạch. Hôm sau, nước của nó trong vắt trở lại. Quanh giếng có mấy cây cau và phi lao. Chiều tối, khi gió Lào thổi mạnh, chúng tôi thường tụ tập quanh giếng để chờ bắt niềng niễng và bọ rầy.

Niềng niễng là loại bọ cánh cứng, sống dưới nước, nhưng lại có thể bay được như cà cuống. Nó khá hiếm. Mỗi lần bắt được, chúng tôi thường thả nó vào trong nón, lắc tròn… rồi ca một bài ca kể lể công ơn cha mẹ, cho nó nghe. Hình như nó cảm động, nó buồn, nó nhớ, nó thương… Chúng tôi thấy nó bò lên miệng nón, kêu… rên… khóc… một hồi lâu. Đôi chân nhỏ xíu của nó vuốt vuốt đầu, như muốn lau khô những giọt nước mắt… Mấy phút sau, nó cất cánh bay đi. Bóng của nó qua trước mặt chúng tôi như một chấm đen, một dấu hỏi, để lại trong lòng chúng tôi một nỗi buồn bâng quơ, chốc lát.

Những năm cuối 50, trong cải cách, đất vườn nhà tôi bị tịch thu. Bạn thiếu thời của tôi tố mẹ tôi. Đứa con nuôi mà mẹ đã cứu khỏi chết đói năm 45, nghe lời người ngoài xúi giục, còn tát cả bà. Sau sửa sai, vườn nhà được trả lại. Nhưng tôi ở nước ngoài về, tôi chỉ ngủ lại ở đó đúng hai hôm rồi đón mẹ ra Nam Định. Tôi có ra giếng tắm một lần cuối cùng. Mẹ tôi cho anh tôi dỡ nhà về quê nội và giao đất vườn ở quê ngoại lại cho ông cậu, em ruột của bà.

Đến nay, thành phố Vinh đã ra đến đây. Tấc đất tấc vàng. Đất vườn nhà tôi đã bị con của cậu chia lô ra bán. Không rõ cái giếng nước này có còn nữa không, hay đã bị lấp đi để làm nhà, làm chợ?

Con niềng niễng trong ký ức tôi có còn về đó nữa không? Nó có còn  nghe lũ trẻ ca mà bò lên vành nón, khóc cha… nhớ mẹ… rồi bay đi tới một chân trời vô định nữa hay không?

2. Chú bọ rầy ở lại, quay tít cùng quả cà!

Vườn sát giếng nước rộng khoảng hai sào mẹ tôi trồng cà. Kỹ thuật thâm canh cà của bà cao nhất làng. Phân trâu bò cùng phân lợn đựơc ủ gần nửa năm, tơi như đất mùn, bà dùng để bón lót. Cà mọc lên như thổi. Năm ngày một lần, bà lại gánh nước thiếc[1] ra tưới. Chúng tôi chơi quanh giếng thường phải bịt mũi vì mùi khai. Bà chăm sóc, làm cỏ, tưới cho cà đến khi nó ra hoa, đậu quả thì thôi. Đã tới lúc thu hoạch quả. Khoảng bảy ngày, vườn cà cho bà một lứa được một gánh quả. Kẻ Vịnh[2] ra tranh nhau mua, vì cà của bà vừa nhỏ vừa trắng lại rất ít hạt. Cũng từ đó, rãnh giữa hai luống cà bà nuôi cỏ. Khi cà đã tàn thì cả vườn thành một bãi cỏ cao gần lút đầu chúng tôi. Nó được cắt về phơi cùng rơm làm thức ăn khô cho trâu bò.

Từ năm 46 trở về sau, công việc trồng cà bà giao cho con dâu, vợ anh thứ ba, con mẹ cả của tôi đã mất. Chị vốn là cháu cụ Quang lộc tự thiếu khanh ở Đông Phái Diễn Châu. Chị chỉ quen nghề dệt vải. Nay theo chồng về Nghi Lộc, chịu cảnh cơm độn khoai với cà, nhưng chị không phàn nàn bao giờ. Chị thường lụi hụi chăm sóc vườn cà một mình. Mẹ tôi bắt đầu tham gia hoạt động phụ nữ và mẹ chiến sĩ xã rồi huyện. Bà đi suốt ngày. Vì thế, đứa con gái mới sinh, vừa biết bò, chị đã phải cho nó ngồi trên ghế thấp giữa luống cà để chị làm lụng. Nó rất ngoan, chẳng khóc bao giờ.

Đúng vụ cà, trời thường nổi gió tây nam (gió Lào) nóng và khô. Quê tôi quen gọi là gió Nam, phân biệt với gió Nồm (gió đông nam) thổi từ biển vào. Chiều chiều, trên ngọn phi lao, bọ rầy về đậu trĩu cành. Chúng cùng nhau giao duyên. Chúng tôi chỉ cần rung mạnh cây là chúng rơi xuống như sung rụng. Từng đôi đang ôm nhau. Mấy đứa bạn tôi thường đem nướng ăn và khoe với nhau là bụng chúng đầy xôi, ngon lắm. Là đứa trẻ hay mè hè, tôi không đụng đến món này bao giờ. Chúng tôi thường chọn những con to, bẻ cụt đoạn chân có lông đi rồi cột từng con vào một sợi dây với một quả cà. Chỉ cần giật dây vài ba cái là nó vù vù bay quanh sợi dây cùng quả cà như một cái chong chóng. Chúng tôi thi nhau xem, chong chóng đứa nào quay khỏe hơn, lâu hơn và tiếng vù vù kêu to hơn.

Chơi chán, chúng tôi thường gỡ nó ra khỏi sợi dây và cho chúng bay đi. Chúng lại đi tìm bạn tình mới. Nhưng vì không còn đoạn chân có lông nên chúng không còn có thể bấu víu được lên trên lưng con cái hoặc cành phi lao để ăn nữa. Vì vậy, sáng ra, chúng tôi thấy nhiều con rơi xuống chết dưới gốc cây. Lũ kiến đang hò nhau tha đi.

Nay quê tôi bọ rầy cũng hiếm rồi. Tôi nghĩ, phải chăng vì chúng chỉ biết đắm đuối chuyện tình nên dễ bị chúng tôi bắt, đưa ra làm trò cùng quả cà “quay đi… quay lại… quay mãi… vòng quanh” đến gần tuyệt chủng. Sao chúng không biết khóc cha, thương mẹ… rồi gạt lệ mà bay đi bốn phương trời, tìm tự do, như con niềng niễng?