Archive | Tháng Mười Một 2015

Do Anh Tho: Kinh Dich voi cuoc song con nguoi – Khai quat ve am duong lich

 

 

Chương 2 .-

Khái quát về âm dương lịch

Dù cho người xưa do trình độ khoa học chưa phát triển ,đã cho rằng trời tròn đất vuông  thì cũng có một nửa cái lý của nó đó là thuyết địa tâm ,theo hệ quy chiếu trái đất ,giống như  ta ngồi trên tàu thấy ruộng đồng cây cối chạy vậy .Xét theo viên đồ ( 64 quẻ dịch sắp xếp theo hình tròn ) hoặc phương đồ ( sắp xếp theo hình vuông ) ta thấy rõ tính tương đốI chính xác của nó .Trước hết ,ta muốn chứng minh ,không thể không dùng kiến thức thiên văn hiện đạI kết hợp vớI nghiên cứu về chu kỳ thời tiết của Dịch  mà chủ yếu là nghiên cứu về tần suất ,về sự cộng hưởng ,sự giao thoa giữa các chu kỳ năm tháng âm dương lịch hay nói khác đi là vị trí tương đốI giữa mặt trăng mặt trờI và quả đất .

 

 

 

 

 

 

1.- Tần suất xuất hiện các quẻ

trong tháng âm lịch :

 

Tháng 11 ( tháng tý ):

Từ Khôn ( tháng 10 )hoàn toàn âm (000000 ) có một sự đột biến ,thời tiết chuyển sang tháng tý   :nhất dương sinh , ta có quẻ Phục (100000 ) ,ta có một hào dương thứ nhất ( sơ cửu ) . Thuật ngữ dịch học chữ “ cửu ” này  có nghĩa là dương ,không phải là số 9 .Theo Chu Dịch đồ thuyết khoảng thờI gian này là đông chí tức là ngày 22 tháng 12 dương lịch ,đường xích vĩ ( đường tưởng tượng của  bầu trời  tạo thành một mặt phẳng nằm ngang  đi qua tâm quả đất ) so với  quả đất  do nó quay nghiêng nên lệch với xích đạo quả đất một góc là – 23,57  .Ở bắc bán cầu ,ta có đêm dài nhất . Tiếp sau đó  có đến  15 quẻ xuất hiện thêm một hào dương ( ở ngoại quái ) nhưng ở thế tranh chấp để ổn định ở vị trí thứ 2  ( nội quái )là Di 1000001 ,Truân (100010) ,    Ích (100011)                    Chấn (100100)Phệ hạp (100101) Tùy (100110) Vô vọng (100111 )Minh Di (101000 ) ,Bí (101001) ,Ký tế( 101010 ), Gia nhân (101011 ) ,Phong (101100 ) ,Ly (101101 ) ,Cách (101110 ) , Đồng nhân (101111 ) cuối cùng đi đến quẻ Lâm 110000 ( tháng 12 ) . Rõ ràng con người ở vùng Bắc bộ Viết nam và một phần nam Trung hoa cảm thấy rất rõ tần suất  tranh chấp rất lớn ,không ngừng của nhiệt độ ,độ ẩm …giữa ngày với ngày ,giữa ngày và đêm  ( tính ra 16 lần trong tháng ) hay hai ngày có một biến dịch . Có hôm trưa nóng vã mồ hôi nhưng đêm là gíó mùa tới . Cha ông ta xưa kia chưa dự báo được gió phơn ( front )  từ sa mạc Gobi  tràn về như sóng triều (寒 潮 ) này  nhưng sắp xếp các quẻ đã tỏ ra rất có căn cứ .Tuy nhiên do thờI tiết có xu hướng ấm dần lên ,hơn nữa có sự lệch pha khá lớn giữa âm dương lịch nên  tiết đông chí không rơi hoàn toàn đúng vào   tháng 11 âm lịch .Tháng 12 ( quẻ Lâm ) theo kinh Dịch đã là tiết xuân phân .

Tháng 12  :

Quẻ Lâm (110000 ) .Hào 2 trở thành dương .Nhưng theo thứ tự ,thì chính vị trí đó phải là hào âm .Theo kinh Dịch là tiết xuân phân ( 21- 3 dương lịch ) khoảng thờI gian ngày đêm dài bằng nhau .Nhìn vào quẻ này ta thấy tuy đã có hai hào dương nhưng còn 4 hào âm ,vị thế âm vẫn áp đảo .Sau quẻ Lâm đó  ta có  7 quẻ , dương tranh chấp âm ở ngoại quái   là Tổn ( 110001 ) ,Tiết (110010 ) ,Trung phu (110011 ) ,Quy muội  (110100 ) ,Khuê ( 110101 ) ,Đoái ( 110110 )  ,Lý (110111 ) để cuối cùng đi đến chiếm vị trí thứ 3 của nội quái là quẻ Thái  .

Cha ông ta thường có câu : tháng chạp sấm rạp ,nghĩa là nằm bẹp xuống ,trốn mất .Tháng chạp tuy đã có chút ít sinh khí ( dương ) nhưng vẫn còn non  .Người chiết cây ,trồng đào ,trồng mai … thường lấy tiết đông chí làm mốc ,để  chiết cây ,bứng đào ,mai ra chậu…nhưng  thiếu kinh nghiệm về lịch dương nên cây chết và xót thương cho hoa đào  không nở đúng tết , trở thành hoa đào năm ngoái đã chào gió đông  .

Mặt khác ,ta lại  cần biết rằng ,năm trước năm nhuận âm lịch so với năm trước năm nhuận dương lịch   lệch nhau rất lớn .Có một thời , ta  chỉ máy móc căn cứ vào dương lịch (tiết khí ) để khuyên bà con nông dân  xuống giống lúa trước lập xuân nên đã thất bại là vì thế .

Tháng giêng :

Quẻ Thái (111000 ) là quẻ cân bằng âm dương thuộc tiết Lập hạ .Nó cùng với quẻ Bĩ tạo thành một trục của chu kỳ hình sin về thời tiết mà chúng ta sẽ nói ở phần sau .Thời gian này ,các tính loài đi tìm nhau ,không chỉ riêng loài người .Đàn ong chuẩn bị đúc ong non để san đàn ,các loại sâu bọ dưới chuẩn bị đất chui lên tìm bạn mà đặc trưng nhất là bọ rầy ,đom đóm và cuốI cùng là loài ve ….Sau quẻ Thái  còn 3 quẻ xuất hiện hào dương thứ tư ở ngoại quái tranh chấp nhau ,giành vị trí thứ tư .Đó là Đại súc (111001 ) ,Nhu  (111010 ),Tiểu súc ( 111011 ) ,để tiến tới quẻ Đại tráng  .

Tháng 2 :

Quẻ Đại tráng ( 111100 )  Lúc này thế lực âm đã yếu .Ngoài Đại tráng  còn quẻ Đại hữu (111101 )

 

 

Tháng 3 :

Quẻ Quải ( 111110 ) Chỉ còn một hào âm .Ta thấy thờI tiết chi phối bởi cái lạnh phía bắc đã giảm hẳn

Tháng tư :

Càn hoàn toàn thắng thế .Ta có bát thuần dương  ( 111111 )

 

Tháng 5 :

Tháng bắt đầu  sinh  một hào âm .Đó là quẻ Cấu ( 011111 ) ,tiếp đến  có 15 quẻ 1 hào âm tiếp theo nhau để chiếm vị trí thứ hai .Đó là Đại quá 011110 ,Đỉnh 011101 ,Hằng 011100 ,Tổn 011011 ,Tỉnh 011011 , Cổ 011001 ,Thăng 011000 ,Tụng 010111 ,Khốn 010110 ,Vị tế  010101 ,Giải (010100 ) ,Giải 010100 ,Hoán 010011 ,Khảm 010010 ,Mông 010001  ,Sư 010000  .

 

Tháng 6

Có 8 quẻ Khiêm ,Cấn ,Kiển ,Tiệm ,Tiểu quá ,Lữ ,Độn (001111 ).

Tháng 7

Có một quẻ Bĩ ( 000111 )

 

Tháng 8

Có 4 quẻ :Quan (000011) ,Dự 000100 ),Tấn (000101 ),Tụy ( 000110 )

Tháng 9

Có hai quẻ là Bác ( 000001) ,  Tỷ 0000010 )

Tháng 10

Thuần âm chỉ có 1 quẻ Khôn kép ( bát thuần khôn :000000 ) .

Theo tần suất các quẻ  ( hay nói khác đi là sự tranh chấp âm dương ,nóng lạnh ,hơi nước khô ẩm …theo biểu đồ nhiệt hàm = entropi )    trong các tháng  có sơ đồ hình sin như sau  :

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hình vẽ 1

Tần suất các quẻ Dịch theo tháng theo chiều dương trưởng âm tiêu và ngược lại .

 

 

 

 

 

 

2.- Vấn đề tiết khí :

Như phần trên đã trình bày ,soạn giả dung phép đếm  nhị phân để nghiên cứu Dịch từ thời tiết  trong năm trong vùng từ 16  đến 25 vĩ độ Bắc ,theo múi giờ 7, 8 vì nó chỉ đúng trong khoảng đó thôi .

Quả đất chúng ta   quay quanh  mặt trời là 365,25 ( ngày sao )  .Chia cho 12 tháng ( 30 ngày ) có lẻ . Hai  tiết khí vì thế xê dich  tí chút giữa ngày 7 –8 và 21 – 22  dương lịch ,căn cứ vào đường hoàng đạo và xích vĩ ,nghĩa là căn cứ góc lệch nhau của chúng  , ngày xuân phân ( 21 tháng 3 dương lịch ) và thu phân ( 23 tháng 9 dương lịch ) .Hai thờI điểm đó , đêm ngày dài bằng  nhau . Chiếu sang âm lich âm lịch ,trái lại  theo chu kỳ mặt trăng quay quanh quả đất ,một tháng sao chỉ có 27,32 ngày (nếu quả đất đứng yên ) .Nhưng vì quả đất lại quay quanh mặt trời 365,25 ngày  nên chúng ta thấy mỗĩ lần giao hội giữa mặt trăng và mặt trời lệch nhau  360: 27,33 » I5 độ .Do đó chu kỳ tuần trăng hay gọi là tháng giao hội  là 29,53 ngày và năm âm lịch chỉ có 29,53×12 = 354,36 ngày . MỗI năm âm dương lịch lệch pha nhau hơn 10 ngày .Để cho ngày sao mặt trời và mặt trăng  khớp nhau cha ông ta đặt ra tháng nhuận ,tức là năm mà tháng âm lịch chỉ có một tiết khí .

Bởi vậy , với âm lịch ,tiết khí bị xê dịch   .Sự lệch pha giữa âm dương lịch hay tiết khí làm cho chu kỳ  xuất hiện sấm chớp ,gió  mùa ,chu kỳ sinh học như ngày sâu nở ,này rụng trứng của nữ giới ,ngày đâm chồi nẩy lộc của cây cối ,ngày xuống giống lúa …có sự biến dịch nhất định .Không thể cứng nhắc theo âm hay dương lịch được . Cha ông chúng ta đã có những kinh nghiệm đúc kết rất quý báu .Nó thể hiện phần nào ở trong chu kỳ 64 quẻ Dịch .

Do quả đất quay quanh mặt trờI theo quỹ đạo ellip và trục tự quay không thẳng góc vớI mặt phẳng hoàng đạo mà bị nghiêng theo chiều Tây bắc đông nam do tác đông nhiều sức hút khác nhau .,gọI là độ nghiêng xích vĩ d biến thiên trong khoảng nhất định  . Mặt trờI ở nửa thiên cầu bắc  ( d = +23,37độ ).               Ở nủa thiên cầu nam (  d = – 23,37độ )  tạI những thờI điểm  a khác nhau :

Xích vĩ là đường tưởng tuợng của quỹ đạo quả đất theo măt phẳng nghiêng   quanh mặt trời và đường hoàng đạo là quỹ đạo theo mặt phẳng thẳng góc vớI mặt trờI . Góc nghiêng đó gọI là góc xích  vĩ d .Nó biến thiên trong khoảng +23,37độ ( mặt trờI ở nửa thiên cầu bắc)       và – 23,37độ ( mặt trờI ở nửa thiên cầu nam )  ở các giờ khác nhau trong ngày đó .Chú ý ,soạn giả ký hiệu tháng dương lịch bằng số la mã ,tháng âm lịch bằng số thường .

 

Vị trí quả đất    ngày         d          a      Độ dài ngày đêm

 

1 Xuân phân    21/III        0           0 h           bằng nhau

2  Hạ chí           22/VI  +23,37đô   6h          ngày dài nhất

3  Thu phân     23/IX        0 độ       12h      ngày bằng đêm

4 Đông chí      22/XII   -23,37đô    18h         đêm dài nhất

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hình vẽ :

 

Rõ ràng rằng tạI thờI gian ,địa điểm khác nhau đó ,từ trường quả đất ,lực hút mặt trăng mặt trờI khác nhau .Mặt khác do hơi nước ,nhiệt độ không khí khác nhau ,sự no hơi nước ( bảo hòa ) theo nhiệt độ khác nhau gây nên mưa gió sấm chớp khác nhau mà con ngườI không thể không cảm nhận . Chẳng hạn ,máu trong ngườI ta tuy ít nhưng chịu tác động của mặt trăng mặt trờI khác gì nước biển ? Chẳng qua là do thích nghi hay không thích nghi ,bị cộng hưởng như thế nào mà thôi .

3.-Ngày mặt trời trung bình với phương trình thời gian

Ta đã biết  ngày sao của mặt trời là dựa vào chu kỳ nhật động của các sao .Nó có độ dài bằng khoảng thờI gian giữa hai lần tiết xuân phân ( ngày đêm dài bằng nhau )  qua kinh tuyến  tại nơi quan sát .Còn ngày mặt trời thực thì dựa vào chu kỳ nhật động của nó  .Ngày thực dài hơn ngày sao .Nó biến thiên do quả đất quay quanh mặt trời với vận tốc không đều . Nhưng trong đời sống ,ta dùng ngày trung bình .Phương trình thời gian là hiệu số giữa giờ mặt trời  trung bình (tm ) với giờ mặt trời thực (to) ở một thời điểm nào đó .

h = tm- to  .

h tính theo phút và thay đổi theo tháng dương lịch theo đường sin như sau

 

 

 

 

 

 

 

 

Hình 3.-

 

Sự biến thiên của h = tm- to

 

       
       
 
       
       

 

 

4.- Hoàng đạo

Từ quả đất ,ta nhìn thấy mặt trờI dịch chuyển  từ  đông sang tây ngược vớI chiều quay của quả đất .Quỹ đạo đó ( hoàng đạo ) biến thiên ,ứng vớI các chòm sao nhìn được vào lúc mặt trờI mọc và lặn như sau :

 

 

 

 

 

 

Hình vẽ

 

 

 

 

 

 

 

   

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

5.- Tổng hợpcác điểm cắt ,điểm uốn ( hạn ) ,sự cộng hưởng …dướI ánh sang của Dịch .

 

Phần này soạn giả sẽ trình bày chi tiết trong các quyển sau .Tuy nhiên ,để có những luận cứ nhất định để phân tích các quẻ của Dịch ,không thể khôngnêu lên một biểu đồ tổng quát như sau :

 

Đỗ Anh Thơ : Kinh Dịch với cuộc sống con người : Chương I : Tổng quan về Chu Dịch

Chương I : Tổng quan

về Chu Dịch

 

Trước hết phải nói rằng : làm cho Chu Dịch có tính hệ thống ,thoát khỏi chuyện bói toán đơn thuần , mang tính  vũ trụ luận  ,có  đồ hình  là nhờ công của các nhà lý học đời Tống ,khi công cụ số học ( toán hệ nhị phân ,ma trận …) đã đạt tới trình độ khá cao . Nhưng cũng vì tính bảo thủ ,muốn chứng minh cho cái tuyệt đối đúng của thánh nhân mà họ đã làm cho quyển sách mang tính huyền bí , thêm khó hiểu ( như các thuật ngữ thoán ,truyện ,hệ từ ,hào quái …) . Tuy nhiên , những vấn đề mà ta có thể trình bày hiện nay đều phảI dựa vào đó ,tức Chu Dịch thời Khổng tử ,còn sách Dịch trước nữa  ,có thể là những vấn đề nguyên lý luận ,không còn .Ví dụ vấn đề sự hình thành ký hiệu ,chữ viết hình khối ,nhất thiết phải từ Dịch ,tức là từ tư duy hình tượng ,chồng lên nhau theo trục tung ,khác với ký hiệu la tinh là theo tư duy logic  tuyến tính ,trục hoành .

Ví dụ ,người đàn ông rời khỏi hang đi về hướng mặt trời ,muốn báo tin cho vợ có thể vạch hai vạch dài .Người vợ trái lại vạch hai vạch ngắn .Cách đếm cũng vậy .Dần dần lấy hình dạng dương      ( sinh thực khí đàn ông ) để chỉ khái niệm mặt trời ,ban ngày (       ) .Mặt trăng có hình dạng hai vạch ngắn (            ) . Chữ Xuân  bắt đầu chỉ hai người ,đôi trai gái  đang giao hoan   (           )

Một ví dụ khác mà soạn giả đã nhắc đến trong nhiêù sách trước  : Đó là chữ  “ đức ” 德 (virtue , vertue  ) .Nhìn hai chữ Anh , Pháp   ta có thể đọc được ngay .    Nhưng nghĩa thì phải giải .Còn chữ  Hán (tổng số có 14 nét  )  thì i là những nét dài ngắn khác nhau ,chồng lên nhau ,có sẵn hàm nghĩa nhưng lại không biết cách đọc . .

Về sau người ta mới lập quẻ bói toán .Ngoài cách bói mai rùa ,cỏ thi …còn có cách đếm nét chữ . Hiện nay thêm cách  tính chẵn lẻ ,con số ngày tháng năm sinh ….để lậm nên  quẻ trong Dịch đầu tiên .

Những nhà triết học  lại muốn tìm trong hình tượng các khái niệm về đạo nghĩa . Ví dụ  chữ đức  thì căn cứ vào các thành tố gồm chữ tâm  (心 ) , nhân  ( 仁 )   ,chữ mục (目 )         nằm ngang ,chữ thập (十 ) chữ nhất  chồng lên nhau đó mà suy ra khái niệm triết học sâu hơn ,như là : nhiều người ,nhiều con mắt nhìn vào lòng mình mà mình không   hổ thẹn là đức . Chữ xuân  là đôi  trai gái đang đến với nhau

 

Nghiên cứu  kinh Dịch  cũng vậy . Có nhiều trường phái ,cách nghiên cứu khác nhau .Lướt qua sách Dịch hiện nay ,có nhiều sách chuyên về bói toán như Mai hoa dịch số của Thiều Vĩ Hoa  ,về đạo người quân tử của Nguyễn Hiên Lê ,về ứng dụng kinh Dich trong kinh doanh ….Đó là những cơn sốt về Dịch cùng với cơn sốt  thần giao cách cảm .

Những vấn đề về tâm linh như con người sau khi chết …còn linh hồn không ,soạn giả không dám bàn chỉ tự hỏi : nếu người có thì loài vật thông minh khác có không ?. Đó là dạng song hay còn dạng gì nữa ? có chịu sức hút của quả đất không mà ta có thể tiếp xúc ? Nhưng cuộc sống thì thật là vi diệu .Vấn đề chu kỳ thờI tiết ứng với con ngườI khi mớI thụ thai , khi ta sinh , chu kỳ hạn với sự cộng hưởng về sức khỏe ,hiện tượng nuối chờ  của ngườI già khi sắp từ giã cõi đời  ….đang là những bí mật cần được nghiên cứu một cách nghiêm túc .

Muốn nghiên cứu nó không thể không công nhận ,gạn lọc trong kinh Dịch .

Vì vậy phải có tổng quan về Dịch .

 

 

I.- Quan niệm về vũ trụ :

 

1.- Vô cực thái cực : (無 極 太 極 )

 

Người xưa nhìn lên vũ trụ , chiêm nghiệm thấy   vũ trụ là khoảng không gian vô hình , trời tròn đất vuông  ,mặt trời các vì sao xoay chung           quanh quả đất ( thuyết nhật tâm ) ,các vì sao đều chầu về sao bắc cực đứng yên .           Khoảng trống đó là vô cực ( khoảng  không  ).Mà vô cực lại là thái cực ( cực lớn ) .Nói vô cực nhi thái cực ,thái cực sinh lưỡng nghi …tức là nói hai cái liền một ,vô cực trước thái cực .Nếu ta dùng phép lũy thừa thì  lũy thừa 0 của 2 là 1 , lũy thừa 1 của 2 bằng 2 .Khi 1 sinh 2 thì  ấy là ta nói tới số  lũy thừa  ,nên ta có sinh hữu . Lão tử  nói [   vô danh thiên địa chi mẫu ,hữu danh thiên địa chi thủy ] , có hai cách hiểu : không tên là mẹ ,có tên là bắt đầu  hay 0 là mẹ ,1 là bắt đầu vậy .      Từ một điểm  ,tới một đường có hai điểm vẫn chưa biến ,chưa có hình khối ,nên 2 phải có lũy thừa 3 , mới  có hình khối ,mới là vật thể .

 

 

2.- Lưỡng nghi : (兩 儀 ) : trong bầu không vô hình đó , ẩn chứa hai yếu tố (lưỡng nghi ) là âm  (陰 )và dương ( 陽 ) .Tính chất của chúng là :

 

Âm :

Hình tượng sinh thực khí đàn bà , giống  cái  , mặt sấp   , có xu hướng chìm xuống , mềm ,tối ,đục ,nặng ,bên  trong .Âm sinh từ phương nam ,bên phải  ,chủ âm ,chỉ đất . …Về sau nó mang thêm khái niệm người phụ thuộc :  dân thường ,     kẻ tiểu nhân ,người mẹ ,đóng kín   ,số chẵn (lịch can chi ),       vị thuốc mát ,bổ dưỡng  … Nó được biểu thị bởi vạch đứt (– )

 

Dương :

Hình tượng sinh thực khí đàn ông ,giống đực ,mặt ngửa ,động ,cứng ,nóng ,sáng ,nhẹ ,có xu hướng nổi lên trên ,sinh và tích lũy khí dương .Tượng trưng cho mặt trời , sinh và tích lũy khí dương là trời .Từ và bên trái . Về sau nó mang thêm khái niệm vua ,người quân tử ,cha ,rộng mở , số lẻ ( lịch can chi ) ,vị thuốc nóng ,công phạt…Nó được biểu thị bởi một vạch liền ( – ) .

 

3.- Tứ tượng  ( 四 象 )

Tức là bốn hình thái kết hợp ( cắp đôi âm dương )  : Dương với dương là thái dương Nơi khí dương đầy.Âm với âm là thái âm âm nơi khí âm đầy.Do biến hóa nên khi cực thinh thì thái dương có mầm mống âm gọi là     thiếu âm .Ngược lại trong thái âm có mầm mống         thiếu dương .Mang khái niệm mầm mống đang thành hình ,như trưởng nam ,trưởng nữ ,thứ nam ,thứ nữ trong nhà .Nó được biểu thị như sau :

 

–  –             ¾            –    –                  ¾

– –        ¾        ¾            – –

Thái âm     thái dương      thiếu âm             thiếu dương

 

 

Chu Đôn Di   nhà lý học đời Tống đã xây dựng  đồ hình   một vòng tròn  có hai nửa đen trắng ( âm , dương ) ôm nhau như hình con nòng nọc , đầu có mắt màu trắng đen  ( thiếu dương, thiếu âm ) hay hình phân nhánh để biểu thị Thái cực ,lưỡng nghi và tứ tượng  .

 

 

 

 

 

Chúng đứng theo phương vị như sau :

 

Nam

Thái dương

 

 

Traí –Đông                                                Tây – phải

Thiếu âm                                              Thiếu dương

 

 

 

Thái âm

Bắc

 

 

Nói chung âm dương là trạng thái ,tính chất  hai nửa ,hai mặt .Khi vật đã thành hình thì ra sáng dương ,trong tối là âm . Núi trên đất liền là dương nhưng giữa biển khơi thì lại âm . Đây là quan niệm có tính khoa học .Khi quả đất  tự quay và quay quanh mặt trời thì mặt đất quay lên là dương  ,quay xuống là âm .Phần hướng về mặt trời là dương ,xa mặt trời là âm .

 

4.- Bát quái (八  卦:tám quẻ ) .

Âm dương chồng lên nhau hoặc tự chồng theo cặp ba ,được gọi là hào  ,tính từ dưới lên trên ,hình thành nên 8 quẻ  .Cũng có thể nói : đây là lúc trời đất ( âm dương ) bắt đầu ôm sự sống ( con người ,động thực vật …) tức tam tài .Tam tài không chỉ riêng người mà bao gồm tất cả muôn loài : sinh sống ,hoạt động , gắn chặt với sức hút của đất ( mẹ ôm ấp ) . Đến nay Dịch tượng  gồm   : tượng (象 ), hào tượng (爻象 ) , thứ tự hào tượng ( 圖象 ) và các hiện tượng thế gian người , sinh vật và giới tự nhiên . Cặp ba này ,lúc tĩnh thìi dương luôn ở trên ,âm ở dưới giữa là người và các sinh vật khác ,gọi là tam tài .Soạn giả không thống  nhất ý kiến nói tam tài       là trời đất và người .

太極生兩儀   兩儀生四象   四象生八卦

 
卦八




象四
儀兩

 

 

Nói vậy là đã sang lĩnh vực ý thức của người .Các sinh vật khác vì không phát biểu ,tranh cãi được với con người   chứ không phải không được kể trên đất trời này ! Soạn giả càng không đồng ý là con người ( nhân ) sánh ngang    với trời đất ,chiếm một quẻ “nhân ”như quan niệm của cụ Trần Cao Vân , hay quan điểm con người có thể cải tạo ,        sắp xếp lại tự nhiên .Những quan niệm đó sẽ bị trả giá không sớm thì muộn .

Con người và mọi vật sống là hào giữa ,biến dịch ,tùy thuộc theo  âm  dương quay chiều .

 

  • – Tiên thiên bát quái :

 

Theo nhiều nhà nghiên cứu tám quẻ này hình tượng tự nhiên trước khi có loài người xuất hiện . Nhưng như soạn giả đã nói là sự sắp xếp của bộ tộc người phương nam  .

Chữ “ tiên thiên (先 天 )  ” có nghĩa chính là trước khi ra đờI ( inborn ) chứ hiểu là trước khi có trờI ,đấng sang tạo ( Before- Heaven ) có lẽ không đúng . Bát quái là do ngườI nghĩ ra ,vậy trước khi có trời đất nghĩa là gì ? Ở đây nên hiểu là trước khi Văn vương xoay quẻ Càn .

 

–   Tiên thiên bát quái xếp

theo phương vị  (hình 8 cạnh )

 

Các nhà Dịch học đời Tống đã sắp xếp theo 8 phương vị hình bát giác .Có người xếp theo ma trận. ( bản đồ Trung Quốc xưa ,phía trên chỉ hướng  nam ) .Các cặp đều đối nhau và tổng số sinh ( dương = lẻ ) với thành ( âm = chẵn ) đều là 9 .Ví dụ Càn 1 đối với Khôn 8 …  Theo hệ nhị phân thì tổng là 7 : Càn 111  với Khôn 000   .

 

 

 

 

 

Càn

(nam)

1

 

Cấn ( đông  nam)                      Chấn ( Tây nam)

7                                                 4

 

Khảm ( đông )                                                          Ly   ( tây )

  • 3

 

Tốn ( đông bắc )                         Đoái ( Tây bắc )

5                                               2

 

Khôn

( Bắc )

8

 

– Tiên thiên bát quái xếp  theo cặp đối xứng

 

Càn         Đoái       Ly          Chấn

1             2            3               4

 

Khôn     Cấn       Khảm          Tốn

8             7             6               5

– Tiên thiên bát quái  theo ma trận

Đoài

2

   Càn

1

   Tốn

5

   
Ly

3

 

  Khảm

6

   
Chấn

4

  Khôn

8

  cấn

7

 

Tiên thiên bát quái

 

Ta dễ dàng nhân thấy ,nếu xếp theo phép đếm nhị phân Càn 111 ( 7 )  ,Khôn 000 ( 0 ) … theo chiều thuận nghịch dương trưởng âm tiêu cũng rất đúng .

 

4b.- Hậu thiên bát quái :

 

Tây xương bá ( Văn vương ) khi bị Trụ đày ở Dịu lý ( Thiểm Tây ) đã xoay quẻ Càn về hướng tây bắc ,ý nói là  thiên mệnh ( vua ) ở phía đó .Các nhà dịch học đời sau cho rằng hậu thiên bát quái là khi có con người .Như vậy ta không thể hiểu là con người đã thay đổi quy luật tự nhiên như thế nào  .Có người nói đây là đạo làm

người .Thực ra chữ hậu thiên ( 后 天 ) chỉ là sau khi sinh ( post-natal ) chứ không thể là sau trời ,sau đấng sáng tạo ( After – Heaven ) .     Các hào ( vạch ) trong quẻ ( quái   卦 = Diagram ) biến dịch  theo nguyên tắc tượng (   象   )   số

( 数 ) hoặc khí (气  ) và lý (  理  ) nghĩa là có trật tự nhất định dương có xu hướng lên ,âm xuống ,vị trí  chính thì ổn đinh tương đối .

 

Nếu ta sắp xếp như trên thì hậu thiên chỉ có một cặp Khảm Ly đối nhau theo tâm đồ hình và không còn hợp quy luật âm dương sinh thành ,trưởng tiêu  theo số thập phân        Càn 1–>Khôn 8 …    hoặc  nhị phân Càn 111 (7) <– Khôn 000 (0) …Điều này chứng tỏ dù dùng  lý lẽ gì , ví dụ như đạo chính nhân quân tử ,hay đế xuất ư Chấn …mà nói ,thì hậu thiên bát quái cũng không thể biện minh tính khoa học của nó được .

 

 Tốn

 

   

Ly

 

 

Khôn

 

   
Chấn   →Đoài

 

 

 
   
Cẫn

 

  Khảm

 

   Càn

 

 

 

Hâu thiên bát quái .

.       Hậu thiên bát quái

  Tốn

4

   Ly      9   Khôn

2

   
Chấn   3 5 Đoài

7

   
Cấn 8   Khảm1   Càn

6

 

Nếu sắp xếp chúng theo tượng số thì hậu thiên bát quái không còn  đối xứng nữa .Bạn đọc có thể đọc thêm ở bản tiếng Anh và Trung Quốc dưới đây  :

 

 

 

 

 

 

 

 

Trong đó có câu :    Thiên Địa định vị ,

                  Sơn Trạch thông khí .

                  Lôi Phong tương bạc ,

                  Thủy Hỏa bất tương xạ .

Nghĩa là trời ( Càn ) với đất ( Khôn ) ổn định vị trí ,núi ( Cấn) và đầm nước ( Đoái ) thông khí với nhau ,sấm ( Chấn ) với gió đối với nhau bạc bẽo ,nước (Khảm ) vớí lửa không cùng chiếu nhau .

Người ta đặt vè để nhớ các quẻ như sau:

 

Càn tam liên  ( nghĩa là :ba vạch liền )

Chấn ngưỡng vu ( chén ngửa )

Ly trung hư      ( trong rỗng )

Đoái thượng khuyết    ( khuyết trên )

Khôn lục đoạn    ( sáu đoạn ).

Cấn    phục oản     ( bát úp )

Khảm trung mãn ( trong đầy )

Tốn hạ đoạn     ( vạch đứt dưới )

 

Càn

ba vạch

liền

111(7)

 

 

 Chấn hình bát ngửa

100(6)

 

Ly rỗng ruột

101(5)

Đoái khuyết trên

110(4)

 

 

 

 

 
Khôn

6 vạch đứt

000(0)

Cấn bát úp

 

001 (1)

Khảm trong đầy

010 (2)

Tốn khuyết dưới

011(3)

 

 

     
   

Các câu của hậu thiên bát quái :

   “     Đế xuất ư Chấn ,tề ư Tốn ,tương kiến ư Ly ,trí dịch ư Khôn ,thuyết ngôn ư Đoái,chiến ư Càn ,lao ư Khảm ,thành ngôn ư Cấn  ”

Đó chẳng qua  là tường thuật lại quá trình và địa điểm tiến về đông nam của  Chu Vũ vương và Chu Công Đán để diệt nhà Ân và  bình định các tộc Bách Việt      mà thôi .

5.- 64 quẻ kép ( trùng quái )

Chu Văn vương còn chồng 8 quẻ thành 64 quẻ ,tức là phép 2 lũy thừa 8 .Đây có lẽ là phát kiến có tính đột phá của ông .Về sau các học giả đời Tống sắp xếp vòng tròn ngoài ( tượng trưng cho trời ) ở trong là  ma trận 8 (vuông) tượng trưng cho đất . Việc tám quẻ trồng lên nhau thành 64 quẻ kép ,biểu hiện nên 64 hình tượng  ,hình thể ;         64 số (khí)  , 64 lý ( khái niệm ).

Thứ tự sắp xếp   theo thứ tự hàng và cột quẻ đơn .Ví dụ : thiên ( Càn ),trạch ( Đoái ) ,hỏa (Ly ) ,lôi ( Chấn ) ,phong (Tốn ) ,thủy (Khảm ) ,sơn ( Cấn ) ,địa ( Khôn ) và sẽ tạo nên ma trân 8 hoặc vòng tròn thuận nghịch .Ở đó các quẻ diễn biến theo chu kỳ hình sin đối xứng nhau ,  các trùng quái có cùng tên  theo một đường chéo .

 

Cách sắp xếp quẻ đơn từ trên xuống ,trên là ngoại quái ,dưới là nội quái .Nhưng  thứ tự các hào thì lại đọc từ dướI lên .Ví dụ hào đầu tiên là dương thì đọc là sơ cửu .Hào đầu tiên là âm thì đọc là sơ lục rồi đến nhị tam …Sáu tầng vị trí đó nếu chính vị thì dương là hào lẻ ,âm là hào chẵn .

Bảng dưới đây là tên  theo thương kinh  và hạ kinh  :

 

 

乾坤屯蒙需訟師,比小畜兮履泰否

同人大有謙豫隨,蠱臨觀兮噬嗑賁

剝復無妄大畜頤,大過坎離三十備

咸恆遯兮及大壯,晉與明夷家人睽

蹇解損益夬姤萃,升困井革鼎震繼

艮漸歸妹豐旅巽,兌渙節兮中孚至

小過既濟兼未濟,是為下經三十四。

 

Thượng kinh ,gồm 30 quẻ :

Càn  Khôn  Đại hữu Khiêm Dự Tùy   Cổ Lâm Quan hề  Phệ hạp Bí .

Bác Phục Vô vọng Đại súc  Di Đại quá Khảm Ly tam thập bị.

               Hạ kinh gồm 34 quẻ :

Hàm Hằng Tổn Ích Lữ Tốn Đoái Hoán Tiết  hề Trung phu chí

          Tiểu quá Ký tế kiêm Vị tế ,thị vị hạ kinh tam thập tứ .

       
       
       
       
       
       
       
       
       
       
       
       
       
       
       
       
       
       

Ta phải thuộc lòng những câu sau đây :

Càn 乾là thiên ,thiên với phong  là Cấu 姤 ,thiên với sơn là Độn遯 ,    thiên với địa  là Bĩ否 ,phong với địa là Quan 觀 ,sơn với địa  là Bác  剝 ,hỏa với địa là Tấn 晉,hỏa với thiên  là Đại hữu  大有,

Khảm 坎là thủy ( nước ) ,thủy với trạch  là Tiết  ,thủy  với lôi là Truân  屯 ,thủy  với hỏa là   Ký tế  既濟     ,  Trạch với hỏa là Cách  革,  lôi với hỏa là Phong  豐  ,địa với hỏa là Minh di明夷 , địa với thủy là Sư   師.

Cấn 艮là sơn ( núi ), sơn với hỏa là Bí  賁,sơn với thiên là Đại súc  大畜 ,sơn với trạch là Tổn  損 ,hỏa với trạch là Khuê  睽 , thiên với trạch là Lý履     ,phong với trạch là Trung phu  中孚 ,Phong với sơn là Tiệm  漸

Chấn 震là lôi ( sấm ) ,lôi với địa là Dự豫 ,lôi với thủy là Giải  解 ,lôi với phong là Hằng  恆, địa với phong là Thăng  升,thủy với phong là Tỉnh  井, trạch với phong là  Đại quá  大過 ,trạch với lôi là Tùy  隨,

Tốn 巽là phong ( gió )  , phong với thiên là Tiểu súc小畜, phong với hỏa là  Gia nhân  家人, phong với lôi là Ích  益  ,thiên với lôi là Vô vọng  無妄, hỏa với lôi là Phệ hạp  噬嗑 ,sơn với lôi là Di  頤, sơn vớI phong là Cổ蠱

Ly  離 là hỏa ( lửa ) , hỏa với sơn là Lữ  旅,hỏa với phong là Đỉnh  鼎,hỏa với thủy là Vị tế  未濟 ,sơn với thủy là Mông    蒙,  phong với thủy là Hoán  渙   ,thiên với thủy là Tụng  訟, thiên với hỏa là Đồng nhân    同人,

Khôn 坤là địa ( đất )  ,địa vớI lôi là Phục   復 ,địa với  trạch là  Lâm  臨 , địa với thiên là Thái  泰,  lôi với thiên là Đại tráng  大壯 ,trạch với thiên là Quải   夬, thủy với thiên là Nhu  需 ,thủy với địa là Tỷ   比

Đoái 兌là trạch ( đầm nước )  ,trạch với thủy là Khốn 困 ,trạch với địa là Tụy萃,trạch với sơn  là Hàm  咸 , thủy với sơn là Kiển  蹇 ,địa với sơn là Khiêm  謙,lôi với sơn là Tiểu quá  小過 ,lôi với trạch là Quy muội   歸妹 .

Tuy nhiên nhớ thuộc lòng  như vây vẫn không hay .Như soạn giả đã trình bày trong sách Trí tuệ của Lão tử là  ta phải biết dọn dẹp ,vệ sinh cái đầu cho nó rỗng còn chỗ để dung nạp cái mới .Bởi vậy cách nhớ tốt nhất là lập ma trận , chu kỳ toán nhi phân . Chưa hoặc không có vốn chữ Hán thì cũng cố gắng thuộc cho được mặt chữ tên 64 quẻ .Bởi vì chính từ những con chữ ấy ,ta mới luận ra được vô số khái niệm .Một ví dụ : bạn đọc thấy chăng tên các quẻ phần lớn nói lên các hiện tượng tự nhiên ,chăn nuôi ,trồng trọt ,trạng thái con người …từ đó ta mới suy ra những khái niệm khác như đạo người quân tử ( đầu đề sách  của Nguyễn Hiến Lê )

Trong sách này , soạn giả  sắp xếp các quẻ dịch tiến theo số nhị phân  ứng với chu kỳ thời  tiết , chu kỳ vận hạn ( cộng hưởng về sức khỏe và các nhân tố khác )…Nếu ta đọc theo quẻ thì xếp từ trên xuống ,đọc từ trái qua phải ,trật tự ngang dọc từ Khôn ( địa- địa -000000 tháng 10 )  hào dương tranh chấp và tăng dần tới ổn định là Địa -Lôi (Phục 000001- tháng 11),Địa-Trạch ( Lâm 000011,tháng 12 ) ,Địa- Thiên (Thái 000111 ,tháng giêng ,cân bằng âm dương ) tiếp đến Lôi – Thiên ( 001111 Đại tráng ,tháng 2 ) Trạch – thiên ( 011111Quải ,tháng 3 ) Thiên thiên 111111 Càn tháng 4 ) Thiên Phong ( 111110 Cấu ,tháng 5 ) Thiên Sơn ( 111100 Độn, tháng 6 ) Thiên- Địa 111000 Bĩ ,tháng 7 ) Phong – Địa ( 1100000 Quan ,tháng 8 ) Sơn – Địa ( 100000 Bác ,tháng 9 ) .Ở giữa các mốc đó ( đỉnh điểm ) là các quẻ khác ,âm dương tranh chấp nhau .Chiều dương trưởng tính từ tháng 11  đến tháng 4  .Chiều âm trưởng tính từ tháng 5 đến tháng 10 .

 

 

 

 

 

Biểu đồ tần suất xuất hiện của 62 quẻ trong 12 tháng

Nhận xét : 1.- Biểu đồ dao động hình sin không điều hòa   .

2.-Dương trưởng âm tiêu đối xứng trái phải qua quẻ Càn và Khôn  .

3.- Cân bằng tại quẻ Thái và Bĩ

4.- Theo  quái từ hào từ ( lời nhận xét quẻ ,vị trí chính của âm dương ) thì trong tổng số 384 hào  ngườI ta  thống kê được hào tốt xấu như sau x như sau :           hào dương  tốt là 64 ,xấu là 28 ,hào âm tốt 55 xấu 45 .Vậy dương tốt nhiều hơn âm tốt .Hào tốt nhiều hơn xấu .Các nhà tướng số thường căn cứ vào tính chất  thiếu chính xác đó  để đoán   nước đôi vận mệnh của  người ta vậy .

6.- Về tam tài

Các vạch  dài ngắn khi đã ghép thành quẻ ta gọi nó là hào .Tính từ dưới lên ,số một gọi là sơ  .Dương gọI là cửu âm gọi là lục .Chữ cửu ,lục này do đó không có nghĩa là số 9 hoặc số 6 .

Theo soạn giả ,hào giữa không riêng chỉ quy luật biến thiên tất yếu của loài người mà cho cả muôn loài .Người xưa tổng kết trong mỗi quẻ tùy theo vị trí các hào mà ta có các hiện tượng như sau :

Trong mỗi quẻ ,ở dưới cùng được gọi là tại địa ,giữa là nhân vị ,trên là tại thiên .

Quẻ Càn : Sơ hào tại địa : dương ,động ,cứng .

Nhị hào nhân vị : dương ,cứng rắn .

Tam hào tại thiên : dương ,biến hóa

Tóm lại nó biến hóa không ngừng->trời .

Quẻ Khôn :

Sơ hào tại địa : âm ,ổn định

Nhị hào nhân vị : âm ,yên thuận .

Tam hào tại thiên : âm ,tĩnh thuận .

Tóm lại nó  tĩnh lặng  -> đất

Quẻ Chấn ( lôi )  :

Sơ hào tại địa : dương ,động ,rắn chắc .

Nhị hào nhân vị : âm ,an thuận .

Tam hào tại thiên : âm ,dưới  động trên thuận

Tóm lại : nó dưới động ->sấm sét .

Quẻ Khảm

Sơ hào tại địa : âm ,ổn định

Nhị hào nhân vị : dương ,động ,rắn chắc .

Tam hào tại thiên : âm ,tĩnh ,ngừng .

Tóm lại lưu động giữa đất trời -> nươc

Quẻ Đoái

Sơ hào tại địa : dương ,động ,cứng rắn .

Nhị hào nhân vị : dương ; cứng rắn

Tam hào tại thiên :âm ,tĩnh .

Tóm lại bề mặt động -> tượng của đầm ao

Quẻ Tốn  :

Sơ hào tại địa : âm ,ổn định .

Nhị hào nhân vị : dương ,cuơng cường .

Tâm hào : dương ,biến hóa

Tóm lại động cả dưới đất trên trời ->Phong ( gió )

Quẻ Ly  :

Sơ hào tại địa : dương ,động ,rắn chắc .

Nhị hào nhân vị : âm ,yên thuận .

Tam hào tạI thiên : dương ,biến hóa

Tóm lại : động bề ngoài :-> Hỏa ( lửa )

Quẻ Cấn  :

Sơ hào tại địa : âm ,ổn định .

Nhị hào nhân vị : âm ,yên thuận .

Tam hào tại thiên : dương ,biến hóa .

Tóm lại tĩnh bên dướI và nội bộ -> Sơn ( núi )

 

Học cho nhuần nhuyễn kinh Dịch nên bỏ qua những thuật ngữ khó hiểu như thoán ,hệ từ ,truyện …mà hãy nắm vững  lý thuyết về Tam tài .Trong Kiến thức ngày nay số  năm       soạn giả đã  phản bác bài “ Thử tìm một quẻ nhân trong kinh Dịch ”của Hoàng Phủ Ngọc Tường chính ở choc này .Toàn bộ 64 quẻ không có quẻ nào nói riêng về người mà lại là nói tất cả .Đó là hào giữa  .Phải hiểu nhân đây khôngcó nghĩa là con người không thôi mà phải kể cả muôn loài .Con ngườI  cùng muôn loài biến thiên trong trờI đất .Mà thiên nhiên thì động tĩnh không ngừng .Ở vị trí âm có lúc là dương và ngược lại .Nhu và cương hoán vị cho nhau .Con người và muôn loài phải thích nghi với sự biến dịch đó .

Ta lấy ví dụ có gì mềm bằng nước và không khí ? Áp suất không khí P =P1(áp suất tĩnh) + P2 ( áp suất động .  P1 = hg ->h là độ cao cột khí , g khối lương riêng không khí ) Nhưng khi nó đã biến : tĩnh thành động ,áp suất động P2 = v2g/2g ( trong đó v là vận tốc ,g là gia tốc trọng trường  ) ,khi không khí có chứa hơi nước ( d  tính bằng gam ) ,nghĩa là 1m3 không khí ẩm ,ngoài nhiệt lượng                không khí khô ( i1= 0,24 t )  còn có nhiệt lượng hơi nước ( i2 = 0,595 d là nhiệt lượng cần thiết để biến  d gam nước sang trạng thái  hơi ở không độ và i3= 0,00047 dt là nhiệt lượng  của d gam hơi nước ở t độ  ) .Không khí bao bọc quanh bầu trờI là ở trạng thái ẩm .Tùy theo nhiệt độ mà nó có thể chứa hơi nước ( d tức độ ẩm tuyệt đốI nhất đinh ) nhiều hay ít .Tỷ lệ d thực tế và  bảo hòa  ta gọi là độ ẩm tương đối y . Khi nhiệt độ không khí biến đổI d và y thay đổI theo .TớI trạng thái bảo hòa mà t tiếp tục giảm thì hơi nước ngưng tụ thành nước .Sự biến dịch không khí ẩm đó gây nên mưa ,gió ,bão và nhiều hiện tượng khác ,có sức mạnh khôn lường .Nuí non cũng vậy .Tĩnh thì trơ trơ như đá  ,nhưng khi động thì nó làm sụt lở đất , lửa phun trào ….

Con người cần hòa đồng ,biết lợi dụng tự nhiên .Sai lầm của lịch sử loài người là cứ muốn cải tạo chứ không chịu chung sống với nó .Hãy hình dung ,một hai trăm năm sau thành quách ,đê đập ,lòng sông  ,nhà máy điện nguyên tử ….sẽ ra sao đây ?  Có lẽ con người đến lúc đó cần học cách hòa đồng với tự nhiên , ngủ đông như nhiều loài  để tiết kiệm năng lượng ,lương thực trời cho chứ không thể chiến tranh giành giật nhau tài nguyên được . Nếu vậy  thì nhà cửa của ta cũng có thể làm dưới lòng  đất ( như loài mối ,kiến ) hoặc dưới biển cạn  , trong núi để nghỉ sản xuất ,ăn uống ít đi   …chung sống hòa bình với nhau  cùng tránh  gió lạnh ,bão tố ,nước dâng …. thì ta mới  mong tồn tại lâu dài hoặc  di cư bớt lên mặt trăng được !

 

 

 

 

7 .- Ngũ hành

Ngũ hành là năm hàng  .Thuyết này nguyên là một thuyết riêng sau được ghép vào với thuyết âm dương gọi là thuyết ngũ hành tương sinh tương khắc .Tương sinh là theo chiều  thủy –> mộc –> hỏa –> thổ -> kim .Theo chu kỳ này mà thì cách nhau là tương khắc .Xếp theo ma trận ,đối nhau là tương khắc .

 

 

 

 

 

7a.- Ngũ hành theo Hà đồ

 

Hỏa ( p. nam )

2-7

 

 

Mộc ( đông )         Thổ ( trung ương)            Kim ( tây )

3-8                          5-10                            4-9

 

 

Thủy (bắc )

1-6

7b.-Ngũ hành theo Lạc thư

 

4                9              2

 

3                 5              7

 

8                 1             6

 

Theo cách giải thích của người xưa , Ngũ hành  vận hành tương sinh   theo Hà đồ  ( tiên thiên ),còn Lạc thư thì theo tương khắc ( hậu thiên  ) .Nhưng Hà là con sông nào ? sông Hoàng sông Hoài hay  thậm chí là sông Hồng ?còn Lạc là gì sông Lạc thủy hay ruộng Lạc  ,ruộng lắm cò vạc ? Theo nhiều nhà ngôn ngữ học ,giang âm Hán ( biến âm từ klông  ->kông ->  sông như Mê kông cách gọi của người nam Dương tử .Nhưng trường hợp Hắc long giang và Hồng Hà thì sao ?  Vấn đề truyền thuyết lịch sử mỗi người theo một lập luận riêng .Nhưng con số ,cách sắp xếp các quẻ đời Tống ( Chu Đôn Di ,Trình Hy ,Chu Hy …) đến đời Thanh như Lục Tích Hùng ,Tôn sĩ Nghị …vô tình đã làm cho con số biết nói ,không ai có thể chối cãi được . Đó là sự tranh chấp âm dương ( hay nói khác đi là nóng lạnh ,khô ẩm ) , cái rốn của nó  lạI chính là  vùng biển Hoa nam ,đồng bằng sông Hồng và biển đông .Nhìn lên bản đồ thờI tiết ,sự tranh chấp đó gặp nhau ở đây .Chính ở đây mớI có sự phân bốn mùa rõ rệt chứ không phải là vùng khí hậu lục địa .Cụ Trần Cao Vân còn đi xa hơn : vùng này có hình tượng của thái cực đồ nên cụ mới đề ra Trung thiên dịch nghĩa là muốn có một quẻ nhân để đại diện .Đó là sự khiên cưỡng .Theo lý thuyết chính vị ( âm chẵn dương lẻ mới đúng vị trí thì với 8 quẻ chỉ có Khảm ( 101 ) .VớI 64 quẻ là Ký tế ( 101010 ) hoặc Vị tế (010101 ) nếu đọc từ dưới lên hay trên xuống ( theo nhị phân là đọc từ trái hay phải) .Đó là những cái mà xưa nay ta chỉ mặc nhiên công nhận .Bởi vậy, soạn giả sẽ mạo muội trình độc giả sách Dịch theo những lập luận riêng ,trật tự riêng  .

Do Anh Tho: Kinh Dich voi cuoc song con nguoi : Nguyen tac bien soan

 

1.- Quyển sách này được viết trên cơ sở xem độc giả đã  đọc kỹ  sách Dịch khác ( ví dụ  sách của các bậc tiền bối  như của Phan Bội Châu ,Ngô Tất Tố ,Nguyễn Hiến Lê …) ,vì vậy soạn giả sẽ không mô tả lại những gì còn mơ hồ ,khó hiểu về  nó  như   Hà đồ , Lạc thư ,tiên hậu thiên bát quái ,ngũ hành ,cửu trù hồng phạm  …Soạn giả chỉ đứng trên quan điểm lý thuyết cân bằng về âm dương mà  soạn giả tâm đắc :dương là  thuộc tính trội ,âm là tính lặn .Ví dụ quân bình về nhiệt độ ở phía bắc nước ta là sau tiết lập xuân .Nếu trong khoảng đó trời đã nóng là dương trội ,còn nếu lạnh là âm trội .Độ ẩm cũng vậy ,khoảng  75% là cân bằng .Trên là dương trội ( mặc dù là hơi nước )  ,âm là thấp hơn .Về con người ,trước 49-53 tuổi là dương trưởng ,sau là dương tiêu ,mặc dù trong cả đời người còn có các chu kỳ nhỏ khác về sức khỏe .Do đó  ,soạn giả vận dụng thuyết cộng hưởng ,toán nhị phân ,xác suất …để viết quyển sách  Dịch này .Ví dụ  sự cộng hưởng    trong chu kỳ âm dương lịch , như  các tiết trong năm được tính theo quả đất quay quanh mặt trời nhưng ngày đêm lại do nó tự quay .Chúng không có bội số chung .Ngoài ra khí hậu ,cuộc sống con người cùng muôn loài còn ảnh hưởng bởi  mặt trăng và  các hành tinh khác .Có thể nói đây là quyển sách tuy dựa vào kinh Dịch nhưng không phải giảng giải mô tả gò nó theo «  khuôn vàng thước ngọc «  của các sách đời xưa mà có chút ít khám phá .Để cho sách đỡ khô khan ,soạn giả sẽ  có thêm những bài viết minh họa  ,đăng rải rác trên các báo lâu nay .

2.- Sách chỉ tập trung đi sâu vào sự vận dụng một số quẻ trong 64 quẻ .Ví dụ theo 12 tháng ,từ tháng giêng (quẻ Thái ) ,của đời người là sự đột biến từ  lúc gái mười ba ,trai mười sáu …giống sâu bọ là lúc con ve non run lẩy bẩy từ gốc cây leo lên cành , cứng cáp dần và  bắt đầu gọi tình …Nó  không theo thứ tự cổ xưa ,nghĩa là bắt đầu từ Càn ( thuần dương ) ,Khôn ( thuần âm ) như một số sách khác .

3.-  Ký hiệu âm (- – )được thay thế bằng số 0 tức   mũ 0 của 2 ( số chẵn ) .Ký hiệu dương ( ¾)  được thay thế bằng 1  ,tức mũ 1 của 2   ( số lẻ ) .Ví dụ : quẻ Càn là 111 ,quẻ Khôn là 000  …

4.- Những cái gì soạn giả phản phác không phải là sự mạo phạm người đi trước .Bạn đọc nên xem như là một kẻ bạo phổi mà thôi . Bởi vì ,nghiên cứu sang lĩnh vực này ,rất dễ trở thành kẻ  hoang tưởng của tuổi già .

Sách sẽ được chia làm nhiều tập , tập 1 trình bày tổng quan ,chu kỳ thời tiết .Các tập 2 ,3 ,4 lần lượt ra mắt bạn đọc về tính khoa học của chu kỳ hạn ( sức khỏe ) ,ý nghĩa các quẻ …Do bị hạn chế bởi trình độ ,có chỗ  soạn giả  để cả   tiếng Trung quốc ,Anh …lấy từ mạng xuống ,  dịch chú thích để  độc giả đọc theo xu hướng mở ,nghĩa là có căn cứ để suy ngẫm thêm ./.

 

Mong các bậc cao minh đại xá .

 

 

 

Soạn giả cẩn chí

 

Đỗ Anh Thơ: Kinh Dịch với cuộc sống con người (*Tái bản có bổ sung)

 

(*) Phan bo sung neu cos se nam o duoi cung moi lan post bai

 

 

 

 

Kinh Dịch

với cuộc sống

con người

 

(Tái bản có bổ sung)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

    

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  Lời nói đầu

Khổng tử ,người có công chú giải kinh Dịch ,khi  ngoài 70 tuổi đã than rằng : : “ Gia ngã số niên,ngũ thập dĩ học Dịch ,khả dĩ vô đại quá hỹ ” (加  我  數  年 , 五  十  以  學  易 , 可  以  無  大  過 )     nghĩa là :       trời cho ta sống thêm     mấy năm nữa ,đủ năm mươi năm để học Dịch thì có thể không có sai lầm lớn .

Trước đây hai nghìn năm ,thánh nhân đã than vậy .Từ đó đến nay ,biết bao học giả qua các thời đại ,từ Trung Quốc ,Nhật bản ,Việt Nam ,Hàn Quốc …đến các nước phương Tây ,nhiều người gần như đã để trọn đời để nghiền ngẫm quyển sách kỳ bí này , theo nhiều  hướng khác  nhau :  lý số ,bói toán ,y lý hoặc tu dưỡng nhân sinh quan ,  vũ trụ quan  ,mong tìm ra được những lờI giảI khả dĩ đúng về nó .Thế nhưng ,xa xưa  thời    Tam Quốc , Khổng Minh trước khi ra giúp Lưu Bị đã tìm đến quẻ Thái ,Bĩ .Đến  đến khi cầm quân ,mỗi lần xuất chinh đều bói Dịch ,để chọn ngày lành tháng tốt  ,nhưng cuối cùng phải than trời và chết yểu ở nơi quân lữ ( gò Ngũ Trượng ) .Các tướng định chém Ngụy Diên vì ông này có đã vô tình làm tắt ngọn nến trong khi Khổng Minh làm  lễ nhương sao giải hạn  .

Năm Kỷ Hợi (1779) ,tức là chín năm trước khi cầm quân sang đánh nước ta ,  Tôn Sĩ Nghị từng được vua Càn Long giao cho soạn bộ sách Chu Dịch đồ thuyết (周 易 圖 說 ) .  Nhưng  tên tướng có bằng tiến sĩ này cũng đã không dự báo được cái ngày nhục nhã , bị thua bỏ cả ấn tín,, chặt cầu phao chạy khỏi thành Thăng Long ,bỏ chết cả bốn tướng (*) và hang vạn quân lính . Như  vậy từ  Khổng Minh ,Chu Hy ,đến Tôn sĩ Nghị …rồi các nhà nghiên cứu kinh Dịch sau này về lý số ,bói toán đều tìm không ra ,nghiệm không đúng …về nó .mặc dù trong suốt hai nghìn năm đó ,thỉnh thoảng lại nổi lên những cơn sốt về kinh Dịch như lý học đời Tống  ,hoặc 20 năm gần đây ở Trung quốc và nhiều nước khác về khả năng đặc biệt của con người ,về dự đoán  học .Nhiều người ,trong đó không hiếm các nhà khoa học ,đều tin ở sự huyền bí của kinh Dịch .Có người còn phóng đại lên  rằng : đây là cái gì còn lại của một nền văn minh trước kia của nhân loại khác vớI loài người hiện nay .Do vậy ,người có trình độ thấp thì tin ở thày bói ,cô đồng đã từng chết đi sống lại .Còn các nhà khoa học thì dùng các thành tựu  mới về  toán tích hợp (tập mờ ) ,toán học rời rạc ,thiên văn ,sinh học ……để nghiên cứu  . Nước ta ,trên đường hoạt động giải phóng đất nước , cụ Phan Bội Châu đã nghiên cứu và viết sách Dịch .

 

(*) Bốn tên tướng gồm :Hứa thế Hanh ,Sầm Nghi Đống ,    Trương Triều Long ,Thượng duy Thanh .

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhà chí sĩ  Trần Cao Vân khi ra giúp vua Duy Tân có  đề ra thuyết Trung thiên Dịch ,trên cơ sở tìm  quẻ Nhân  thay quẻ Càn ,làm chấn động cả miền Trung ,khiến  đế quốc Pháp rất lo sợ .Các cụ thâm nho như Ngô Tất Tố ,Nguyễn Hiến Lê …đã có những công trình rất có giá trị về quyển sách bí ẩn này .

 

Theo Tập Đức cư sĩ ( trên mạng Tao’s Culture.org ) thì Kinh Dịch  vốn là sách bói toán .Nhưng theo soạn giả ,nó ra đời rất sớm ,tương truyền từ Phục Hy ,thần Nông ,tức là trước  đời nhà Hạ , gồm có Quy tàng Dịch ( 歸 藏 易 ),Liên sơn Dịch( 連 山  易) (*)       Chu Dịch ( 周易)(**) , của những bộ tộc người lưu vực nam Dương tử ( chủ yếu là  Bách Việt ) , từ nhu cầu thô sơ   thông tin về quan hệ gia đình đến đo đếm …xem trời sao để canh tác .Đó là kết tinh của một nền văn minh lúa nước , trở thành một trong những công cụ lịch pháp ,bói toán ,định hướng sao trên đường trên  biển  ,trong quá trình đánh bắt cá ,di dân về nam ra đảo khi các tộc du mục  phương Bắc tràn xuống  ….Sau đó ,kinh Dịch biểu hiện rộng ra tới khung kết cấu  quan hệ trời đất và con người ( tam tài ) . Nó được dùng bằng hai ký hiệu : một vạch liền    và một vạch đứt ,xuất phát từ hình tượng cái  sinh thực khí ( thờ cúng totem ) của người phương nam .

 

          (*) Dị (yi ) có hai âm : dị ( dễ ) và dịch ( biến đổi).Nó gồm chữ nhật (   viết như chữ vật ) Dịch Liên sơn ( núi liên miên ) ,Dịch Quy tàng ( ẩn náu ) và Chu Dịch ( đời Chu hay chu chuyển ) đều bị Tần Thủy Hoàng ra lệnh đốt cùng với việc chôn sống  nho sĩ .

        (**) Chu Dịch nay  còn sót lại ,có người cho là nhờ tể tướng Lý Tư   dấu được một bản trong nhà ) . .

 

Sắp xếp âm dương thành mô hình ,sơ đồ (图形 ) như  thái cực (  vòng tròn âm dương ) ,kết hợp đôi ( tứ

tượng ) tới kết hợp ba ( bát quái ) là công trình của các học giả đời Tống gồm có Chu Đôn Di ,Chu Hy ,Trần Đoàn ….

Trước đó ,Tiên thiên bát quái ( đặt quẻ Càn ,tượng đế vương ) ở phương Nam là sắp xếp các quẻ đúng với quy luật tự  nhiên ,đối đãi .Về sau Tây xương Bá khi bị Trụ đày ở Dịu lý ( vùng Thiểm tây  Trung Quốc ) mới xoay quẻ Càn về hướng Tây Bắc ,đời sau gọi là Hậu thiên bát quái ,là có mục đích chính trị ,chuẩn bị cho con là  Phát (Chu Vũ vương) có cớ diệt Trụ .Vì vậy có thể nói hậu thiên bát quái là sự sắp xếp quẻ theo ý người ( nhân vi ) .Mặc dù có nhiều cách  biện luận ,nhưng cứ nghiệm theo   theo phép nhị phân hoặc ma trận là không còn đúng quy luật tự nhiên nữa  .

Như vậy mấy nghìn năm nay ,kinh Dịch luôn luôn là một quyển sách khó hiểu .Nói là sách bói thì quá tầm thường mà nói là sách viết về con người và vũ trụ thì như quyển sách chắp vá giữa lý thuyết âm dương   tới học thuyết ngũ hành ,tiên thiên bát quái  có tính khoa học tới cái chắp vá không có đầu lẫn đuôi như hậu thiên bát quái ,số trời ,hạ diễn ….

Soạn giả vốn là một người làm công tác dự báo .Trước kia chỉ dùng toán tuyến tính .Ví như để dự báo về dân số ,về sản phẩm kinh tế quốc dân … thì cứ máy móc làm mấy phép tính theo công thức :

n

Pn = Po ( 1+a )      .

Trong đó n-> là năm thứ n .Po -> sản lượng ,dân số …năm làm căn cứ dự báo .Và cứ theo một quan điểm duy ý chí ,xơ cứng là năm sau tăng hơn năm trước nên a       ( hệ số tăng trưởng ) luôn dương . Khi nhận ra cái sai của mình là quy luật  thiên nhiên xã hội có tính phi tuyến ,tăng cái này thì giảm cái khác ,như tăng lúa thì giảm cua cá ,tăng cơ sở công nghiệp thì hủy hoại môi trường nước và không khí …vả lại  a có lúc âm ( suy thoái ) lúc dương nên soạn giả đã mày mò học thêm ,tìm về lý thuyết  biến dịch , trưởng tiêu ,thuận nghịch … trong kinh Dịch .

Tuy nhiên càng đi sâu càng thấy như mình đang chui vào bụi rậm .Phương Tây có câu Enigma of Enigmas ( mê muội trong mê muội ) . Thật vậy ,quãng thời gian sống của con người hiện đại mới có trên 5000 năm ,những người vượn thời đồ đá cổ  ( Neanderthal ) sống cách đây cũng mới   10 vạn năm .Tế bào não ( neuron )của người hiện đại là 14 tỷ (*) nhưng của vượn người (Homo Sapien ) thì chỉ có trên một tỷ ,cao gấp 14 lần .Hoc thuyết Darwin chỉ nói tới sự tiến hóa và biến dị hình thể bên ngoài của  cơ quan các loài ( chủ yếu là hệ xương sống ) như  lưỡng tê ,động vật và chim …để đưa ra thuyết tiến hóa của các loài .Nhưng lúc đó khoa học về gene ,về phôi học  chưa phát triển  .Điều gì và lúc nào đã làm tăng vọt tế bào não người lên cao lên vậy .Phải chăng là do sự biến dịch  đứng thẳng lên ,cưỡng lại quy luật tự nhiên của con người ? Không thể có duy nhất một yếu tố (nhất nguyên ,vật chất hay thượng đế) mà tạo ra được người và muôn vật .Vậy manh nha của trí tuệ ,tâm linh của con người xuất hiện từ lúc nào ? Theo cơ đốc giáo ,thượng đế tạo ra Adam .Eva được hình thành từ xương bả vai Adam cách đây mới 6000 năm . Còn theo duy vật ,con người ,chim và các động vật (*) Theo giáo sư Lã Ứng Đồng  ( người Mỹ gốc Trung Quốc ) ,nhưng nhiều tài liệu  khác  nói neuron người ta tới  28tỷ .Người có trí thông minh trung bình chỉ sử dụng được     2-3% ,cao nhất là các học giả vĩ đại được khoảng 10% trong số đó .Nó mong manh như sợi tơ trước gió ,đứt bất cứ lúc nào .

khác  bắt đầu tiến hóa từ loài lưỡng thê .Nhưng  theo khảo nghiệm ,khả năng nhận biết của con hắc tinh tinh chỉ như một trẻ lên hai mà thôi .Tại sao tinh tinh ngừng biến đổi mà quãng thời gian nào con người biết nghĩ ra  những  ký hiệu , trong đó có vạch đứt nối ( âm ,dương ) để ghi dấu khái niệm ,ngôn ngữ để có sự  phát triển có tính bứt phá ,từ  bản năng sang ý thức ?

Hiện nay ,các nhà khoa học đã lập được biểu đồ gene ( cơ nhân 基 因 ), họ thấy các loài chỉ khác con người rất ít nhưng sự dị biệt về tính di truyền lại rất lớn .Ví dụ : về hình thể trâu bò có khác gì nhau nhưng chúng đâu có thể phối giống tự nhiên ! Tim lợn thì gần như tim người ,tương lai sẽ có thể thay thế cho nhau  ,thậm chí  khoa học gene có thể  nhân bản vô tính ( cloning ) được người .   Lúc đó con trai mang tim lợn yêu ra sao ?    Vậy tin ở Thượng đế   hay tin ở Darwin chỉ có  tính    lịch sử ,tương đối .Tuyệt đối tin một cách mù quáng hay không tin gì cả  , sẽ làm cho tâm hồn ,tâm linh con người ta ngày càng khô cằn đi và  càng khủng hoảng thêm lên .

Một đời người sống thọ khoảng 70 năm .Nhưng trong tiến trình lịch sử ,biết bao nhiêu giả thuyết đã bị sụp đổ ,kể cả các thuyết hiện đại như Newton ,Darwin ….Thế mà nay ta còn nhắc lại kinh Dịch ,cái thuở trời tròn đất vuông ấy là vì sao ?

Vì cuộc sống tâm linh ,vì vô vàn cái chưa biết về người xưa ,về sự thui chột đi một số khả năng của con người xưa và nay ( ví dụ khả năng bơi ,khả năng tìm về nguồn …) .Vậy nghiên cứu những học thuyết xa xưa ,ta cần có thái độ phân tích phê phán , công nhận kiến thức phi khoa học đó ,như là những tiên đề ( axiom )  để đi vào những câu hỏi còn mông lung là dự báo các quy luật ,chu kỳ trưởng tiêu của con người và vũ trụ .Nhưng ta làm sao không để rơi vào sự ngụy biện ?                   .Ví dụ quan niệm trời tròn đất vuông ,sao bắc đẩu đứng yên ,              các quẻ chuyển dịch thuận nghịch …Quan niệm hào dương phải ở vị trí lẻ ( 1 ,3 ,5 ) ,ở bên trên mới chính vị  .Âm chẵn ,bên dưới .Phải chăng đó là khái niệm ở  trạng thái tĩnh ,cân bằng .Khi biến dịch thì như quả đất quay , con người ở vị trí tương đối ,lúc xuôi lúc ngược ,lúc ở bên này lúc bên kia mặt trời ,lúc sáng lúc tối … Đứng trên con tàu quả đất  ( người ở giữa trời đất  tạo thành tam tài ) ta dính liền với đất thì thấy ta và đất   đứng yên và bầu trời quay và  ta thấy  có những trùng hợp như các hào một quẻ Dịch giữa những chiêm nghiệm xưa  với lý thuyết hiện đại ngày nay .Nhưng tại sao lại có thể nói tam tài là thiên địa nhân được ? Các loài khác thì sao ? Con người không có khả năng bằng nhiều loài thậm chí như bầy kiến ,trong việc cảm nhân hiện tượng tự nhiên ,như trời sắp nắng  ,sắp mưa .Cá voi khi tránh bão còn có thể cứu người .Còn con người thì nhân dịp biển động ,lại ra khơi bắt cá khi chúng tìm nơi ẩn nấp nên mới gặp nạn .Bởi vậy ,soạn giả chỉ công nhận một phần quan niệm về tam tài : hào giữa chỉ muôn loài dính chặt với quả đất trong đó có người .

 

Trong lý thuyết về Dịch có lẽ cái vĩ đại nhất là chu kỳ âm dương tiêu trưởng .Dưới trạng thái cân bằng là âm ,trên là dương  .Dương cực thì âm sinh .Âm cực thì dương sinh .Tại các điểm uốn đổi chiều đó , đạo hàm bằng không , là chu kỳ hạn   của con người ,là bốn mùa ,là điểm chết trong vòng quay .Vì ngoài sức hút của đất còn vô vàn  sức hút khác của vũ trụ làm cho quả đất lệch trục đi  23 ,7 so với mặt phẳng quay . Người sống ở bán cầu bắc  thấy sao Bắc cực ( bắc thần ) đứng yên (*). Ở bán cầu nam thì nam cực đứng yên  .Vì thế các nhà tướng số  khẳng định sao Tử vi là Bắc đẩu rõ ràng không đúng   .Thật ra ,đó là một ngôi sao giả định ,có lực hút cân bằng , tạo thành hai tâm có tổng khoảng cách từ quả đất tới mặt trời luôn không đổi mới làm cho quỹ đạo quả đất quanh mặt trời có hình ellipse .

Càng nghĩ càng mơ hồ .Thật là :

 

     Con quay búng sẵn trên trời ,

Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm

 

     (Ôn như hầu – Nguyễn Gia Thiều ) .

 

Sự kết hợp âm dương theo hệ nhị phân ,ôm nhau xoắn xuýt ,có cái gì đó khớp với kết quả nghiên cứu về sự phân chia tế bào ,sơ đồ  gene ,nhiễm sắc thể .

Từ cái gốc ,bao gồm hai yếu tố ( nhị nguyên ) mà có thể phân chia ra muôn loài ( n=µ ) .Nhưng cũng như  sắp xếp gene  nó không ngoài 64 mô thức  .Có nghĩa là  n giới hạn là bao nhiêu ? Với một người mắt kém ,nhìn hình bát giác là tròn .Vậy trong vô cùng ,2 mũ 8 = 64 là  vòng tuần hoàn ( rapport ) ,sự lặp lại  .Bởi vì , muôn loài khi quy về 1 <->0 ( vô cực nhi thái cực ) , vẫn là cặp đôi âm dương , đực cái  ,ADN , nhiễm sắc thể x ,y  mà thôi  . Theo số học ta thường nói 4>3>2 >1 ,nhưng 2 ,3 ,4 là khi bùng lên ,phân

——-

( *) Vi chính dĩ đức tỷ như bắc thần cư kỳ sở nhi quần tinh cung chi ( vua chúa phải lấy đức để trị nước ví như sao Bắc đẩu đứng yên ở giữa mà để cho các sao khác chầu về – Khổng tử )

tán . Một mới lớn  nhất , tập trung nhất .Ví dụ như ánh sáng

đơn sắc LASER hồng ngọc  chẳng hạn .Tia nước  tập trung  tại một điểm rất nhỏ có vận tốc rất lớn thì  có thể xuyên thép …

Bởi vậy mong bạn đọc xem những trình bày  của soạn giả như là những giả thuyết ,chưa hoặc không thực chứng được .Theo tiêu chí của nhà triết học khoa học hiện đại -Karl Popper ,thì nó có thể là  hoang tưởng phi khoa học .Nhưng  hoang tưởng và giả tưởng không có phân giới rõ ràng . Siêu hình ( hình nhi thượng ) với vật lý ( hình nhi hạ ) cũng không có phân giới .Thế thì ta băn khoăn với chữ  DUY mà làm gì ?

Bởi vậy sai sót ,ngộ nhận sẽ không thể tránh khỏi …

         Lời quê chắp nhặt dông dài ,

Mua vui cũng được một vài trống canh .

( Kiều )

 

Cảm ơn

 

Đỗ Anh Thơ

 

 

Do Anh Tho: HAI VỊ TAM NGUYÊN VÙNG SƠN NAM HẠ

Cụ Nhã Trai Trần Doãn Đạt mấy ngày nay đã yếu lắm. Gió mùa mang theo cái ẩm ướt làm cho con đường Bến Ngự, Nam Định, bùn lép nhép, một màu than đen sì, ai cũng ngại ra đường. Gió từng cơn, từng cơn, quất vào đầu hồi, khiến cơn hen của cụ càng nặng thêm.

Cụ tựa gối, ngồi dậy trên tràng kỷ, nhìn ra phố. Mấy người “khách trú” đứng co ro đầu đường, trước khay bánh bò còn nguyên, chân co chân duỗi, thỉnh thoảng lại rao một tiếng “bò ơ”, giọng lơ lớ nghe thật buồn lạnh. Bọn trẻ thò đầu ra rồi lại thụt vào. Trong túi chúng, không còn một đồng xu.

Vừa lúc đó, cụ Đạt bà đi chợ Cửa Trường về.

Nghe tiếng chồng ho sù sụ, cụ đặt vội thúng mủng xuống, chạy lại đỡ chồng.

Cụ Đạt dứt cơn ho. Cụ bà phấn khởi nói:

– Hai con chim khách cứ líu lo đầu nhà ông ạ. Chắc là đang có tin thằng San.

– Thường lệ, xuân thí treo bảng đã được một tuần rồi. Năm nay, chắc thằng Thắng hoặc thằng San sẽ giật giải tam khôi thôi! Mà bà đi chợ đã mua cái gì đó để mừng con chưa?

– Vẫn chỉ có cá trích thôi, ông ạ!

Cụ cười:

– Món đó là ngon rồi. Hai đứa chúng nó đều thích ăn. Cùng lắm là xế trưa chúng nó về.

Bỗng ngoài cổng có tiếng chó sủa. Cụ bà chạy ra. Một anh lính lệ đứng chắp tay:

– Lạy cụ ạ. Quan phủ sai con đến bẩm với hai cụ là khoảng canh Ngọ, kiệu rước quan tam nguyên sẽ về đến nơi. Xin báo tin để hai cụ chuẩn bị.

Bà cụ Đạt chạy ngay vào báo cho cụ ông:

– Thằng San đỗ đầu cả ba khoa, lính lệ vừa đến đưa tin. Đám rước chỉ còn vài giờ nữa là về đến nơi. Làm thế nào bây giờ?

– Thì bà làm gì mà cuống lên thế? Trong chuồng còn con lợn, bà sai chúng nó ngả ra làm mấy mâm là được, chứ bày vẽ ra nhiều làm gì.

Nói tới đó, ông lại gục xuống gối, ho sù sụ. Dứt cơn ho, ông lẩm bẩm:

– Văn tài thằng Thắng hơn đứt thằng San, thế mà…

Tin Trần Bích San đậu tam nguyên phút chốc vang khắp huyện Mỹ Lộc. Còn Nguyễn Thắng làng An Đổ lại hỏng. Dân khắp vùng Sơn Nam Hạ mừng vui lẫn lộn. Bởi vì ai ai cũng tin rằng cả hai đều sẽ chiếm bảng vàng.

Dân hai huyện đã chuẩn bị kiệu, cờ quạt, cắt cử nhau, làm kẻ xướng, người khiêng kiệu quan nghè từ lâu rồi!

Dân làng đồng chiêm An Đổ suốt năm tháng, mặt cúi xuống bùn, dầm trong nước đục, chỉ mong được một phen ngẩng mặt lên để…khênh kiệu cho thần đồng Nguyễn Thắng mà thôi…

Cụ Trần Doãn Đạt không những là một nhà khoa cử mà còn nổi tiếng thanh liêm thông thạo Dịch lý. Khi tiễn hai người học trò vừa là con, vừa là cháu họ xa, cụ đã biết trước điều gì sẽ xảy ra. Nhưng cụ vẫn mong mình tính toán sai.

Khi thấy kiệu và sắc phong của con về đến nhà, cụ giả vờ ốm nặng hơn để khỏi phải tiếp các quan đầu tỉnh, đầu huyện.

Trần Bích San cung kính đến trước mặt cha, quỳ lạy. Mắt anh đỏ hoe và chỉ nói với cha được một câu:

– Con không ngờ Thắng lại hỏng thầy ạ. Ngày mai con phải đi nhậm chức rồi, không thì…

Lúc đó, các quan đều đang bắc ghế ngồi bên giường bệnh thân phụ tân khoa. Cụ Đạt bảo tiểu đồng mang bút nghiên ra. Mắt cụ nhìn thẳng mà bảo:

– Con nay mũ áo xênh xang rồi. Thầy mẹ thì đã già, không có gì khao làng khao xã cả. Chỉ có cỗ xôi biếu phu phen. Riêng con, thầy tặng con đôi câu đối. San cầm bút chăm chú và nắn nót ghi những lời chậm rãi của cha:

Khả úy thi dân nham, kinh sức bất sinh bình địa lộ;

Duy thâm dã hoạn hải, ba đào vô nộ tái không chu.

(Đại ý: Rất đáng lo về việc phục vụ dân, nhưng cứ đường thẳng mà đi thì không sợ gai góc gì cả;

Bể hoạn (chốn quan trường) rất sâu hiểm, nếu thuyền không chở của tham, thì sóng gió không nổi giận, lật úp được).

Cụ Đạt lại ngả đầu xuống gối. Mấy vị quan giật mình, toát mồ hôi hột. Họ có ngờ đâu đến nhà tân quan tam nguyên để ăn khao, lại rơi vào thế khó xử này. Họ lúng túng, xin phép cụ Trần Doãn Đạt ra về.

Hai ngày sau, Thắng đến thăm thầy. Nghe tin, cụ Đạt dậy như chưa từng ốm bao giờ. Cụ dẫn Thắng đi quanh vườn đàm đạo.

Cụ không đả động gì đến bài thi của người học trò mà mình gửi gắm bao hy vọng, để xem anh đã phạm huý chỗ nào.

Cầm chiếc gậy trúc, cụ chỉ hình mấy chú tiều phu đang lom khom với bó củi trên lưng ở hòn non bộ, cụ nói như bâng quơ:

– Đó chính là hình ảnh các bậc cao sĩ như Lã Vọng cả đấy. Đưa sức[1] mà làm một kẻ tôi đòi, rồi kết cục chỉ chịu một nắm đấm mà thôi. Chi bằng gắng sức, gặp thời quyền biến giúp dân, không gặp thời thì quan kiến, răn dân… Lợi lắm ru!

Thắng biết đây là những lời vàng ngọc về Dịch lý của thầy chỉ bảo, qua thất bại bước đầu của đời anh.

Trở về nhà anh nằm vắt tay lên trán, nghĩ cả tháng. Cuối cùng anh mới hiểu, đó là chiết tự tên anh[2]. Anh liền xin phép cha mẹ, đổi tên mình, khiêm tốn hơn thành Nguyễn Khuyến.

Ba năm sau Nguyễn Khuyến đỗ Tam nguyên, Đời làm quan của Nguyễn Khuyến đúng lúc Pháp chiếm Bắc kỳ. Không chịu hợp tác với Pháp và bọn quan lại như Hoàng Cao Khải, ông cáo quan về làng dạy học, làm bạn với dân nghèo nơi đồng chiêm nước trũng, chỉ bảo cho họ cách làm ăn. Lúc rỗi rãi làm thơ, câu đối, theo như lời thầy dạy.

 

 

 

Đỗ Anh Thơ : Chạc mũi và cái kiếp con bò

              

 

        Về nhà mới, Docago làm bữa cơm cúng giỗ bố vợ và mừng tân gia. Ăn uống xong các cháu tán gẫu. Chúng nó đố Docago về tiếng Nghi lộc:

  • Cháu đố dượng (*) : Chạc đĩu là cái chi?
  • Chạcdây, đĩuđeo Dượng quên đâu được.
  • Ở quê ta gọi dây cao suchạc đĩu dượng ạ
  • Ờ dượng nhớ ra rồi. Hồi nhỏ dượng thường gọi nó là chạc chun mà.

….Thế rồi bao nhiêu từ địa phương về từ chạc trong óc Docago ập đến như : cây chạc chìu là một loại cây leo thường mọc ở bờ ao, chạc mũi là dây thừng xỏ mũi trâu bò…và tự nhiên Docago lại nhớ đến con trâu , con bò, con nghé, con me( **) … tuổi âu thơ.

Docago ngẫm nghĩ :
“Con bê con nghé, có lẽ chúng cũng như con người, hạnh phúc nhất là những năm tháng bên vú mẹ. Chúng tha hồ tung tăng và ương bướng nghịch ngợm dưới bụng mẹ, mặc cho mẹ chúng đang vất vả kéo cày ở ngoài đồng. Từ khi chúng ra khỏi bụng mẹ, được chủ nhà bóc bánh dầy dưới chân, rồi chúng nó lẩy bẩy đứng lên, thúc vú mẹ, bú chòm chộp… Vài ngày sau khi sinh, mẹ chúng đã phải ra đồng kéo cày. Chúng nó chỉ biết đứng trên bờ kêu be be. Cày xong một vạt ruộng, được tháo ách cho nghỉ, mẹ đang tranh thủ ngoặm vài ngọn cỏ, thì  đã bị chúng nó đòi bú. Bầu vú gầy lép kẹp của mẹ, suốt đêm chỉ chắt chiu sữa từ những cọng rơm khô, chẳng đươc bao nên nó bú chẵng đã. Tuy nhiên chúng nó cũng được ấm bụng phần nào. Bò mẹ giật từng bụi cỏ mật trên đê, nhai ngấu nghiến cả rễ. Bê con luồn dưới háng, lăng xăng…thỉnh thoảng lại được mẹ âu yếm liếm đầu, tai, cái mũi xinh xinh…

Tháng ngày cứ thế trôi đi và chúng nó bắt đầu học ăn cỏ cùng mẹ, đòi thúc vú mẹ để bú cũng giảm dần.

Rồi một ngày, số phận tôi đòi của chúng nó đã đến . Chúng nó hết tự do . Người ta nung một cái dùi đỏ, giữ chặt đầu rồi xiên qua vách mũi nó và lắp cái xỏ mũi.

Nó kêu lên đau đớn . Bò mẹ thương con chỉ biết kêu rống lên cùng với con. Vết thương lành dẫn, nhưng cái mũi nó ngứa ngáy khó chịu mãi. Nguời ta buộc cái chạc vào mũi và cột nó vào gốc tre cạnh mẹ  Tính ương bướng của nó giảm dần. Nó cam chịu sự điều khiển của con người và …học kéo cày. Từ đó chạc mũi đeo đẳng nó suốt đời. Tuy nhiên có lúc nó liếc nhìn ông chủ và nghĩ bụng :

  • –  Ông ác với tôi quá. Nhưng số phận ông cũng có khác gì tôi !

Ông cũng bị người ta xỏ mũi như ông xỏ mũi tôi ! Mà loài người các ông đối xử với nhau còn độc ác gấp bội. Các ông xỏ mũi nhau, hành hạ lẫn nhau,  giết chóc nhau…chứ như loài trâu bò chúng tôi có bao giờ tàn nhẫn với nhau đâu ! ’’

Nghĩ đến đó, bất giác Docago thở dài.

Lúc này các cháu đang xúm lại bên TV để nghe tường thuật tiếp vụ khủng bố ở Paris ./.

————

(*) Dượng : chồng chị hoặc em mẹ

(**) Con me : bò ( bê) conbê

16/11/2015

ĐAT