Do Anh Tho: HAI VỊ TAM NGUYÊN VÙNG SƠN NAM HẠ

Cụ Nhã Trai Trần Doãn Đạt mấy ngày nay đã yếu lắm. Gió mùa mang theo cái ẩm ướt làm cho con đường Bến Ngự, Nam Định, bùn lép nhép, một màu than đen sì, ai cũng ngại ra đường. Gió từng cơn, từng cơn, quất vào đầu hồi, khiến cơn hen của cụ càng nặng thêm.

Cụ tựa gối, ngồi dậy trên tràng kỷ, nhìn ra phố. Mấy người “khách trú” đứng co ro đầu đường, trước khay bánh bò còn nguyên, chân co chân duỗi, thỉnh thoảng lại rao một tiếng “bò ơ”, giọng lơ lớ nghe thật buồn lạnh. Bọn trẻ thò đầu ra rồi lại thụt vào. Trong túi chúng, không còn một đồng xu.

Vừa lúc đó, cụ Đạt bà đi chợ Cửa Trường về.

Nghe tiếng chồng ho sù sụ, cụ đặt vội thúng mủng xuống, chạy lại đỡ chồng.

Cụ Đạt dứt cơn ho. Cụ bà phấn khởi nói:

– Hai con chim khách cứ líu lo đầu nhà ông ạ. Chắc là đang có tin thằng San.

– Thường lệ, xuân thí treo bảng đã được một tuần rồi. Năm nay, chắc thằng Thắng hoặc thằng San sẽ giật giải tam khôi thôi! Mà bà đi chợ đã mua cái gì đó để mừng con chưa?

– Vẫn chỉ có cá trích thôi, ông ạ!

Cụ cười:

– Món đó là ngon rồi. Hai đứa chúng nó đều thích ăn. Cùng lắm là xế trưa chúng nó về.

Bỗng ngoài cổng có tiếng chó sủa. Cụ bà chạy ra. Một anh lính lệ đứng chắp tay:

– Lạy cụ ạ. Quan phủ sai con đến bẩm với hai cụ là khoảng canh Ngọ, kiệu rước quan tam nguyên sẽ về đến nơi. Xin báo tin để hai cụ chuẩn bị.

Bà cụ Đạt chạy ngay vào báo cho cụ ông:

– Thằng San đỗ đầu cả ba khoa, lính lệ vừa đến đưa tin. Đám rước chỉ còn vài giờ nữa là về đến nơi. Làm thế nào bây giờ?

– Thì bà làm gì mà cuống lên thế? Trong chuồng còn con lợn, bà sai chúng nó ngả ra làm mấy mâm là được, chứ bày vẽ ra nhiều làm gì.

Nói tới đó, ông lại gục xuống gối, ho sù sụ. Dứt cơn ho, ông lẩm bẩm:

– Văn tài thằng Thắng hơn đứt thằng San, thế mà…

Tin Trần Bích San đậu tam nguyên phút chốc vang khắp huyện Mỹ Lộc. Còn Nguyễn Thắng làng An Đổ lại hỏng. Dân khắp vùng Sơn Nam Hạ mừng vui lẫn lộn. Bởi vì ai ai cũng tin rằng cả hai đều sẽ chiếm bảng vàng.

Dân hai huyện đã chuẩn bị kiệu, cờ quạt, cắt cử nhau, làm kẻ xướng, người khiêng kiệu quan nghè từ lâu rồi!

Dân làng đồng chiêm An Đổ suốt năm tháng, mặt cúi xuống bùn, dầm trong nước đục, chỉ mong được một phen ngẩng mặt lên để…khênh kiệu cho thần đồng Nguyễn Thắng mà thôi…

Cụ Trần Doãn Đạt không những là một nhà khoa cử mà còn nổi tiếng thanh liêm thông thạo Dịch lý. Khi tiễn hai người học trò vừa là con, vừa là cháu họ xa, cụ đã biết trước điều gì sẽ xảy ra. Nhưng cụ vẫn mong mình tính toán sai.

Khi thấy kiệu và sắc phong của con về đến nhà, cụ giả vờ ốm nặng hơn để khỏi phải tiếp các quan đầu tỉnh, đầu huyện.

Trần Bích San cung kính đến trước mặt cha, quỳ lạy. Mắt anh đỏ hoe và chỉ nói với cha được một câu:

– Con không ngờ Thắng lại hỏng thầy ạ. Ngày mai con phải đi nhậm chức rồi, không thì…

Lúc đó, các quan đều đang bắc ghế ngồi bên giường bệnh thân phụ tân khoa. Cụ Đạt bảo tiểu đồng mang bút nghiên ra. Mắt cụ nhìn thẳng mà bảo:

– Con nay mũ áo xênh xang rồi. Thầy mẹ thì đã già, không có gì khao làng khao xã cả. Chỉ có cỗ xôi biếu phu phen. Riêng con, thầy tặng con đôi câu đối. San cầm bút chăm chú và nắn nót ghi những lời chậm rãi của cha:

Khả úy thi dân nham, kinh sức bất sinh bình địa lộ;

Duy thâm dã hoạn hải, ba đào vô nộ tái không chu.

(Đại ý: Rất đáng lo về việc phục vụ dân, nhưng cứ đường thẳng mà đi thì không sợ gai góc gì cả;

Bể hoạn (chốn quan trường) rất sâu hiểm, nếu thuyền không chở của tham, thì sóng gió không nổi giận, lật úp được).

Cụ Đạt lại ngả đầu xuống gối. Mấy vị quan giật mình, toát mồ hôi hột. Họ có ngờ đâu đến nhà tân quan tam nguyên để ăn khao, lại rơi vào thế khó xử này. Họ lúng túng, xin phép cụ Trần Doãn Đạt ra về.

Hai ngày sau, Thắng đến thăm thầy. Nghe tin, cụ Đạt dậy như chưa từng ốm bao giờ. Cụ dẫn Thắng đi quanh vườn đàm đạo.

Cụ không đả động gì đến bài thi của người học trò mà mình gửi gắm bao hy vọng, để xem anh đã phạm huý chỗ nào.

Cầm chiếc gậy trúc, cụ chỉ hình mấy chú tiều phu đang lom khom với bó củi trên lưng ở hòn non bộ, cụ nói như bâng quơ:

– Đó chính là hình ảnh các bậc cao sĩ như Lã Vọng cả đấy. Đưa sức[1] mà làm một kẻ tôi đòi, rồi kết cục chỉ chịu một nắm đấm mà thôi. Chi bằng gắng sức, gặp thời quyền biến giúp dân, không gặp thời thì quan kiến, răn dân… Lợi lắm ru!

Thắng biết đây là những lời vàng ngọc về Dịch lý của thầy chỉ bảo, qua thất bại bước đầu của đời anh.

Trở về nhà anh nằm vắt tay lên trán, nghĩ cả tháng. Cuối cùng anh mới hiểu, đó là chiết tự tên anh[2]. Anh liền xin phép cha mẹ, đổi tên mình, khiêm tốn hơn thành Nguyễn Khuyến.

Ba năm sau Nguyễn Khuyến đỗ Tam nguyên, Đời làm quan của Nguyễn Khuyến đúng lúc Pháp chiếm Bắc kỳ. Không chịu hợp tác với Pháp và bọn quan lại như Hoàng Cao Khải, ông cáo quan về làng dạy học, làm bạn với dân nghèo nơi đồng chiêm nước trũng, chỉ bảo cho họ cách làm ăn. Lúc rỗi rãi làm thơ, câu đối, theo như lời thầy dạy.

 

 

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s