Đỗ Anh Thơ : Kinh Dịch với cuộc sống con người : Chương I : Tổng quan về Chu Dịch

Chương I : Tổng quan

về Chu Dịch

 

Trước hết phải nói rằng : làm cho Chu Dịch có tính hệ thống ,thoát khỏi chuyện bói toán đơn thuần , mang tính  vũ trụ luận  ,có  đồ hình  là nhờ công của các nhà lý học đời Tống ,khi công cụ số học ( toán hệ nhị phân ,ma trận …) đã đạt tới trình độ khá cao . Nhưng cũng vì tính bảo thủ ,muốn chứng minh cho cái tuyệt đối đúng của thánh nhân mà họ đã làm cho quyển sách mang tính huyền bí , thêm khó hiểu ( như các thuật ngữ thoán ,truyện ,hệ từ ,hào quái …) . Tuy nhiên , những vấn đề mà ta có thể trình bày hiện nay đều phảI dựa vào đó ,tức Chu Dịch thời Khổng tử ,còn sách Dịch trước nữa  ,có thể là những vấn đề nguyên lý luận ,không còn .Ví dụ vấn đề sự hình thành ký hiệu ,chữ viết hình khối ,nhất thiết phải từ Dịch ,tức là từ tư duy hình tượng ,chồng lên nhau theo trục tung ,khác với ký hiệu la tinh là theo tư duy logic  tuyến tính ,trục hoành .

Ví dụ ,người đàn ông rời khỏi hang đi về hướng mặt trời ,muốn báo tin cho vợ có thể vạch hai vạch dài .Người vợ trái lại vạch hai vạch ngắn .Cách đếm cũng vậy .Dần dần lấy hình dạng dương      ( sinh thực khí đàn ông ) để chỉ khái niệm mặt trời ,ban ngày (       ) .Mặt trăng có hình dạng hai vạch ngắn (            ) . Chữ Xuân  bắt đầu chỉ hai người ,đôi trai gái  đang giao hoan   (           )

Một ví dụ khác mà soạn giả đã nhắc đến trong nhiêù sách trước  : Đó là chữ  “ đức ” 德 (virtue , vertue  ) .Nhìn hai chữ Anh , Pháp   ta có thể đọc được ngay .    Nhưng nghĩa thì phải giải .Còn chữ  Hán (tổng số có 14 nét  )  thì i là những nét dài ngắn khác nhau ,chồng lên nhau ,có sẵn hàm nghĩa nhưng lại không biết cách đọc . .

Về sau người ta mới lập quẻ bói toán .Ngoài cách bói mai rùa ,cỏ thi …còn có cách đếm nét chữ . Hiện nay thêm cách  tính chẵn lẻ ,con số ngày tháng năm sinh ….để lậm nên  quẻ trong Dịch đầu tiên .

Những nhà triết học  lại muốn tìm trong hình tượng các khái niệm về đạo nghĩa . Ví dụ  chữ đức  thì căn cứ vào các thành tố gồm chữ tâm  (心 ) , nhân  ( 仁 )   ,chữ mục (目 )         nằm ngang ,chữ thập (十 ) chữ nhất  chồng lên nhau đó mà suy ra khái niệm triết học sâu hơn ,như là : nhiều người ,nhiều con mắt nhìn vào lòng mình mà mình không   hổ thẹn là đức . Chữ xuân  là đôi  trai gái đang đến với nhau

 

Nghiên cứu  kinh Dịch  cũng vậy . Có nhiều trường phái ,cách nghiên cứu khác nhau .Lướt qua sách Dịch hiện nay ,có nhiều sách chuyên về bói toán như Mai hoa dịch số của Thiều Vĩ Hoa  ,về đạo người quân tử của Nguyễn Hiên Lê ,về ứng dụng kinh Dich trong kinh doanh ….Đó là những cơn sốt về Dịch cùng với cơn sốt  thần giao cách cảm .

Những vấn đề về tâm linh như con người sau khi chết …còn linh hồn không ,soạn giả không dám bàn chỉ tự hỏi : nếu người có thì loài vật thông minh khác có không ?. Đó là dạng song hay còn dạng gì nữa ? có chịu sức hút của quả đất không mà ta có thể tiếp xúc ? Nhưng cuộc sống thì thật là vi diệu .Vấn đề chu kỳ thờI tiết ứng với con ngườI khi mớI thụ thai , khi ta sinh , chu kỳ hạn với sự cộng hưởng về sức khỏe ,hiện tượng nuối chờ  của ngườI già khi sắp từ giã cõi đời  ….đang là những bí mật cần được nghiên cứu một cách nghiêm túc .

Muốn nghiên cứu nó không thể không công nhận ,gạn lọc trong kinh Dịch .

Vì vậy phải có tổng quan về Dịch .

 

 

I.- Quan niệm về vũ trụ :

 

1.- Vô cực thái cực : (無 極 太 極 )

 

Người xưa nhìn lên vũ trụ , chiêm nghiệm thấy   vũ trụ là khoảng không gian vô hình , trời tròn đất vuông  ,mặt trời các vì sao xoay chung           quanh quả đất ( thuyết nhật tâm ) ,các vì sao đều chầu về sao bắc cực đứng yên .           Khoảng trống đó là vô cực ( khoảng  không  ).Mà vô cực lại là thái cực ( cực lớn ) .Nói vô cực nhi thái cực ,thái cực sinh lưỡng nghi …tức là nói hai cái liền một ,vô cực trước thái cực .Nếu ta dùng phép lũy thừa thì  lũy thừa 0 của 2 là 1 , lũy thừa 1 của 2 bằng 2 .Khi 1 sinh 2 thì  ấy là ta nói tới số  lũy thừa  ,nên ta có sinh hữu . Lão tử  nói [   vô danh thiên địa chi mẫu ,hữu danh thiên địa chi thủy ] , có hai cách hiểu : không tên là mẹ ,có tên là bắt đầu  hay 0 là mẹ ,1 là bắt đầu vậy .      Từ một điểm  ,tới một đường có hai điểm vẫn chưa biến ,chưa có hình khối ,nên 2 phải có lũy thừa 3 , mới  có hình khối ,mới là vật thể .

 

 

2.- Lưỡng nghi : (兩 儀 ) : trong bầu không vô hình đó , ẩn chứa hai yếu tố (lưỡng nghi ) là âm  (陰 )và dương ( 陽 ) .Tính chất của chúng là :

 

Âm :

Hình tượng sinh thực khí đàn bà , giống  cái  , mặt sấp   , có xu hướng chìm xuống , mềm ,tối ,đục ,nặng ,bên  trong .Âm sinh từ phương nam ,bên phải  ,chủ âm ,chỉ đất . …Về sau nó mang thêm khái niệm người phụ thuộc :  dân thường ,     kẻ tiểu nhân ,người mẹ ,đóng kín   ,số chẵn (lịch can chi ),       vị thuốc mát ,bổ dưỡng  … Nó được biểu thị bởi vạch đứt (– )

 

Dương :

Hình tượng sinh thực khí đàn ông ,giống đực ,mặt ngửa ,động ,cứng ,nóng ,sáng ,nhẹ ,có xu hướng nổi lên trên ,sinh và tích lũy khí dương .Tượng trưng cho mặt trời , sinh và tích lũy khí dương là trời .Từ và bên trái . Về sau nó mang thêm khái niệm vua ,người quân tử ,cha ,rộng mở , số lẻ ( lịch can chi ) ,vị thuốc nóng ,công phạt…Nó được biểu thị bởi một vạch liền ( – ) .

 

3.- Tứ tượng  ( 四 象 )

Tức là bốn hình thái kết hợp ( cắp đôi âm dương )  : Dương với dương là thái dương Nơi khí dương đầy.Âm với âm là thái âm âm nơi khí âm đầy.Do biến hóa nên khi cực thinh thì thái dương có mầm mống âm gọi là     thiếu âm .Ngược lại trong thái âm có mầm mống         thiếu dương .Mang khái niệm mầm mống đang thành hình ,như trưởng nam ,trưởng nữ ,thứ nam ,thứ nữ trong nhà .Nó được biểu thị như sau :

 

–  –             ¾            –    –                  ¾

– –        ¾        ¾            – –

Thái âm     thái dương      thiếu âm             thiếu dương

 

 

Chu Đôn Di   nhà lý học đời Tống đã xây dựng  đồ hình   một vòng tròn  có hai nửa đen trắng ( âm , dương ) ôm nhau như hình con nòng nọc , đầu có mắt màu trắng đen  ( thiếu dương, thiếu âm ) hay hình phân nhánh để biểu thị Thái cực ,lưỡng nghi và tứ tượng  .

 

 

 

 

 

Chúng đứng theo phương vị như sau :

 

Nam

Thái dương

 

 

Traí –Đông                                                Tây – phải

Thiếu âm                                              Thiếu dương

 

 

 

Thái âm

Bắc

 

 

Nói chung âm dương là trạng thái ,tính chất  hai nửa ,hai mặt .Khi vật đã thành hình thì ra sáng dương ,trong tối là âm . Núi trên đất liền là dương nhưng giữa biển khơi thì lại âm . Đây là quan niệm có tính khoa học .Khi quả đất  tự quay và quay quanh mặt trời thì mặt đất quay lên là dương  ,quay xuống là âm .Phần hướng về mặt trời là dương ,xa mặt trời là âm .

 

4.- Bát quái (八  卦:tám quẻ ) .

Âm dương chồng lên nhau hoặc tự chồng theo cặp ba ,được gọi là hào  ,tính từ dưới lên trên ,hình thành nên 8 quẻ  .Cũng có thể nói : đây là lúc trời đất ( âm dương ) bắt đầu ôm sự sống ( con người ,động thực vật …) tức tam tài .Tam tài không chỉ riêng người mà bao gồm tất cả muôn loài : sinh sống ,hoạt động , gắn chặt với sức hút của đất ( mẹ ôm ấp ) . Đến nay Dịch tượng  gồm   : tượng (象 ), hào tượng (爻象 ) , thứ tự hào tượng ( 圖象 ) và các hiện tượng thế gian người , sinh vật và giới tự nhiên . Cặp ba này ,lúc tĩnh thìi dương luôn ở trên ,âm ở dưới giữa là người và các sinh vật khác ,gọi là tam tài .Soạn giả không thống  nhất ý kiến nói tam tài       là trời đất và người .

太極生兩儀   兩儀生四象   四象生八卦

 
卦八




象四
儀兩

 

 

Nói vậy là đã sang lĩnh vực ý thức của người .Các sinh vật khác vì không phát biểu ,tranh cãi được với con người   chứ không phải không được kể trên đất trời này ! Soạn giả càng không đồng ý là con người ( nhân ) sánh ngang    với trời đất ,chiếm một quẻ “nhân ”như quan niệm của cụ Trần Cao Vân , hay quan điểm con người có thể cải tạo ,        sắp xếp lại tự nhiên .Những quan niệm đó sẽ bị trả giá không sớm thì muộn .

Con người và mọi vật sống là hào giữa ,biến dịch ,tùy thuộc theo  âm  dương quay chiều .

 

  • – Tiên thiên bát quái :

 

Theo nhiều nhà nghiên cứu tám quẻ này hình tượng tự nhiên trước khi có loài người xuất hiện . Nhưng như soạn giả đã nói là sự sắp xếp của bộ tộc người phương nam  .

Chữ “ tiên thiên (先 天 )  ” có nghĩa chính là trước khi ra đờI ( inborn ) chứ hiểu là trước khi có trờI ,đấng sang tạo ( Before- Heaven ) có lẽ không đúng . Bát quái là do ngườI nghĩ ra ,vậy trước khi có trời đất nghĩa là gì ? Ở đây nên hiểu là trước khi Văn vương xoay quẻ Càn .

 

–   Tiên thiên bát quái xếp

theo phương vị  (hình 8 cạnh )

 

Các nhà Dịch học đời Tống đã sắp xếp theo 8 phương vị hình bát giác .Có người xếp theo ma trận. ( bản đồ Trung Quốc xưa ,phía trên chỉ hướng  nam ) .Các cặp đều đối nhau và tổng số sinh ( dương = lẻ ) với thành ( âm = chẵn ) đều là 9 .Ví dụ Càn 1 đối với Khôn 8 …  Theo hệ nhị phân thì tổng là 7 : Càn 111  với Khôn 000   .

 

 

 

 

 

Càn

(nam)

1

 

Cấn ( đông  nam)                      Chấn ( Tây nam)

7                                                 4

 

Khảm ( đông )                                                          Ly   ( tây )

  • 3

 

Tốn ( đông bắc )                         Đoái ( Tây bắc )

5                                               2

 

Khôn

( Bắc )

8

 

– Tiên thiên bát quái xếp  theo cặp đối xứng

 

Càn         Đoái       Ly          Chấn

1             2            3               4

 

Khôn     Cấn       Khảm          Tốn

8             7             6               5

– Tiên thiên bát quái  theo ma trận

Đoài

2

   Càn

1

   Tốn

5

   
Ly

3

 

  Khảm

6

   
Chấn

4

  Khôn

8

  cấn

7

 

Tiên thiên bát quái

 

Ta dễ dàng nhân thấy ,nếu xếp theo phép đếm nhị phân Càn 111 ( 7 )  ,Khôn 000 ( 0 ) … theo chiều thuận nghịch dương trưởng âm tiêu cũng rất đúng .

 

4b.- Hậu thiên bát quái :

 

Tây xương bá ( Văn vương ) khi bị Trụ đày ở Dịu lý ( Thiểm Tây ) đã xoay quẻ Càn về hướng tây bắc ,ý nói là  thiên mệnh ( vua ) ở phía đó .Các nhà dịch học đời sau cho rằng hậu thiên bát quái là khi có con người .Như vậy ta không thể hiểu là con người đã thay đổi quy luật tự nhiên như thế nào  .Có người nói đây là đạo làm

người .Thực ra chữ hậu thiên ( 后 天 ) chỉ là sau khi sinh ( post-natal ) chứ không thể là sau trời ,sau đấng sáng tạo ( After – Heaven ) .     Các hào ( vạch ) trong quẻ ( quái   卦 = Diagram ) biến dịch  theo nguyên tắc tượng (   象   )   số

( 数 ) hoặc khí (气  ) và lý (  理  ) nghĩa là có trật tự nhất định dương có xu hướng lên ,âm xuống ,vị trí  chính thì ổn đinh tương đối .

 

Nếu ta sắp xếp như trên thì hậu thiên chỉ có một cặp Khảm Ly đối nhau theo tâm đồ hình và không còn hợp quy luật âm dương sinh thành ,trưởng tiêu  theo số thập phân        Càn 1–>Khôn 8 …    hoặc  nhị phân Càn 111 (7) <– Khôn 000 (0) …Điều này chứng tỏ dù dùng  lý lẽ gì , ví dụ như đạo chính nhân quân tử ,hay đế xuất ư Chấn …mà nói ,thì hậu thiên bát quái cũng không thể biện minh tính khoa học của nó được .

 

 Tốn

 

   

Ly

 

 

Khôn

 

   
Chấn   →Đoài

 

 

 
   
Cẫn

 

  Khảm

 

   Càn

 

 

 

Hâu thiên bát quái .

.       Hậu thiên bát quái

  Tốn

4

   Ly      9   Khôn

2

   
Chấn   3 5 Đoài

7

   
Cấn 8   Khảm1   Càn

6

 

Nếu sắp xếp chúng theo tượng số thì hậu thiên bát quái không còn  đối xứng nữa .Bạn đọc có thể đọc thêm ở bản tiếng Anh và Trung Quốc dưới đây  :

 

 

 

 

 

 

 

 

Trong đó có câu :    Thiên Địa định vị ,

                  Sơn Trạch thông khí .

                  Lôi Phong tương bạc ,

                  Thủy Hỏa bất tương xạ .

Nghĩa là trời ( Càn ) với đất ( Khôn ) ổn định vị trí ,núi ( Cấn) và đầm nước ( Đoái ) thông khí với nhau ,sấm ( Chấn ) với gió đối với nhau bạc bẽo ,nước (Khảm ) vớí lửa không cùng chiếu nhau .

Người ta đặt vè để nhớ các quẻ như sau:

 

Càn tam liên  ( nghĩa là :ba vạch liền )

Chấn ngưỡng vu ( chén ngửa )

Ly trung hư      ( trong rỗng )

Đoái thượng khuyết    ( khuyết trên )

Khôn lục đoạn    ( sáu đoạn ).

Cấn    phục oản     ( bát úp )

Khảm trung mãn ( trong đầy )

Tốn hạ đoạn     ( vạch đứt dưới )

 

Càn

ba vạch

liền

111(7)

 

 

 Chấn hình bát ngửa

100(6)

 

Ly rỗng ruột

101(5)

Đoái khuyết trên

110(4)

 

 

 

 

 
Khôn

6 vạch đứt

000(0)

Cấn bát úp

 

001 (1)

Khảm trong đầy

010 (2)

Tốn khuyết dưới

011(3)

 

 

     
   

Các câu của hậu thiên bát quái :

   “     Đế xuất ư Chấn ,tề ư Tốn ,tương kiến ư Ly ,trí dịch ư Khôn ,thuyết ngôn ư Đoái,chiến ư Càn ,lao ư Khảm ,thành ngôn ư Cấn  ”

Đó chẳng qua  là tường thuật lại quá trình và địa điểm tiến về đông nam của  Chu Vũ vương và Chu Công Đán để diệt nhà Ân và  bình định các tộc Bách Việt      mà thôi .

5.- 64 quẻ kép ( trùng quái )

Chu Văn vương còn chồng 8 quẻ thành 64 quẻ ,tức là phép 2 lũy thừa 8 .Đây có lẽ là phát kiến có tính đột phá của ông .Về sau các học giả đời Tống sắp xếp vòng tròn ngoài ( tượng trưng cho trời ) ở trong là  ma trận 8 (vuông) tượng trưng cho đất . Việc tám quẻ trồng lên nhau thành 64 quẻ kép ,biểu hiện nên 64 hình tượng  ,hình thể ;         64 số (khí)  , 64 lý ( khái niệm ).

Thứ tự sắp xếp   theo thứ tự hàng và cột quẻ đơn .Ví dụ : thiên ( Càn ),trạch ( Đoái ) ,hỏa (Ly ) ,lôi ( Chấn ) ,phong (Tốn ) ,thủy (Khảm ) ,sơn ( Cấn ) ,địa ( Khôn ) và sẽ tạo nên ma trân 8 hoặc vòng tròn thuận nghịch .Ở đó các quẻ diễn biến theo chu kỳ hình sin đối xứng nhau ,  các trùng quái có cùng tên  theo một đường chéo .

 

Cách sắp xếp quẻ đơn từ trên xuống ,trên là ngoại quái ,dưới là nội quái .Nhưng  thứ tự các hào thì lại đọc từ dướI lên .Ví dụ hào đầu tiên là dương thì đọc là sơ cửu .Hào đầu tiên là âm thì đọc là sơ lục rồi đến nhị tam …Sáu tầng vị trí đó nếu chính vị thì dương là hào lẻ ,âm là hào chẵn .

Bảng dưới đây là tên  theo thương kinh  và hạ kinh  :

 

 

乾坤屯蒙需訟師,比小畜兮履泰否

同人大有謙豫隨,蠱臨觀兮噬嗑賁

剝復無妄大畜頤,大過坎離三十備

咸恆遯兮及大壯,晉與明夷家人睽

蹇解損益夬姤萃,升困井革鼎震繼

艮漸歸妹豐旅巽,兌渙節兮中孚至

小過既濟兼未濟,是為下經三十四。

 

Thượng kinh ,gồm 30 quẻ :

Càn  Khôn  Đại hữu Khiêm Dự Tùy   Cổ Lâm Quan hề  Phệ hạp Bí .

Bác Phục Vô vọng Đại súc  Di Đại quá Khảm Ly tam thập bị.

               Hạ kinh gồm 34 quẻ :

Hàm Hằng Tổn Ích Lữ Tốn Đoái Hoán Tiết  hề Trung phu chí

          Tiểu quá Ký tế kiêm Vị tế ,thị vị hạ kinh tam thập tứ .

       
       
       
       
       
       
       
       
       
       
       
       
       
       
       
       
       
       

Ta phải thuộc lòng những câu sau đây :

Càn 乾là thiên ,thiên với phong  là Cấu 姤 ,thiên với sơn là Độn遯 ,    thiên với địa  là Bĩ否 ,phong với địa là Quan 觀 ,sơn với địa  là Bác  剝 ,hỏa với địa là Tấn 晉,hỏa với thiên  là Đại hữu  大有,

Khảm 坎là thủy ( nước ) ,thủy với trạch  là Tiết  ,thủy  với lôi là Truân  屯 ,thủy  với hỏa là   Ký tế  既濟     ,  Trạch với hỏa là Cách  革,  lôi với hỏa là Phong  豐  ,địa với hỏa là Minh di明夷 , địa với thủy là Sư   師.

Cấn 艮là sơn ( núi ), sơn với hỏa là Bí  賁,sơn với thiên là Đại súc  大畜 ,sơn với trạch là Tổn  損 ,hỏa với trạch là Khuê  睽 , thiên với trạch là Lý履     ,phong với trạch là Trung phu  中孚 ,Phong với sơn là Tiệm  漸

Chấn 震là lôi ( sấm ) ,lôi với địa là Dự豫 ,lôi với thủy là Giải  解 ,lôi với phong là Hằng  恆, địa với phong là Thăng  升,thủy với phong là Tỉnh  井, trạch với phong là  Đại quá  大過 ,trạch với lôi là Tùy  隨,

Tốn 巽là phong ( gió )  , phong với thiên là Tiểu súc小畜, phong với hỏa là  Gia nhân  家人, phong với lôi là Ích  益  ,thiên với lôi là Vô vọng  無妄, hỏa với lôi là Phệ hạp  噬嗑 ,sơn với lôi là Di  頤, sơn vớI phong là Cổ蠱

Ly  離 là hỏa ( lửa ) , hỏa với sơn là Lữ  旅,hỏa với phong là Đỉnh  鼎,hỏa với thủy là Vị tế  未濟 ,sơn với thủy là Mông    蒙,  phong với thủy là Hoán  渙   ,thiên với thủy là Tụng  訟, thiên với hỏa là Đồng nhân    同人,

Khôn 坤là địa ( đất )  ,địa vớI lôi là Phục   復 ,địa với  trạch là  Lâm  臨 , địa với thiên là Thái  泰,  lôi với thiên là Đại tráng  大壯 ,trạch với thiên là Quải   夬, thủy với thiên là Nhu  需 ,thủy với địa là Tỷ   比

Đoái 兌là trạch ( đầm nước )  ,trạch với thủy là Khốn 困 ,trạch với địa là Tụy萃,trạch với sơn  là Hàm  咸 , thủy với sơn là Kiển  蹇 ,địa với sơn là Khiêm  謙,lôi với sơn là Tiểu quá  小過 ,lôi với trạch là Quy muội   歸妹 .

Tuy nhiên nhớ thuộc lòng  như vây vẫn không hay .Như soạn giả đã trình bày trong sách Trí tuệ của Lão tử là  ta phải biết dọn dẹp ,vệ sinh cái đầu cho nó rỗng còn chỗ để dung nạp cái mới .Bởi vậy cách nhớ tốt nhất là lập ma trận , chu kỳ toán nhi phân . Chưa hoặc không có vốn chữ Hán thì cũng cố gắng thuộc cho được mặt chữ tên 64 quẻ .Bởi vì chính từ những con chữ ấy ,ta mới luận ra được vô số khái niệm .Một ví dụ : bạn đọc thấy chăng tên các quẻ phần lớn nói lên các hiện tượng tự nhiên ,chăn nuôi ,trồng trọt ,trạng thái con người …từ đó ta mới suy ra những khái niệm khác như đạo người quân tử ( đầu đề sách  của Nguyễn Hiến Lê )

Trong sách này , soạn giả  sắp xếp các quẻ dịch tiến theo số nhị phân  ứng với chu kỳ thời  tiết , chu kỳ vận hạn ( cộng hưởng về sức khỏe và các nhân tố khác )…Nếu ta đọc theo quẻ thì xếp từ trên xuống ,đọc từ trái qua phải ,trật tự ngang dọc từ Khôn ( địa- địa -000000 tháng 10 )  hào dương tranh chấp và tăng dần tới ổn định là Địa -Lôi (Phục 000001- tháng 11),Địa-Trạch ( Lâm 000011,tháng 12 ) ,Địa- Thiên (Thái 000111 ,tháng giêng ,cân bằng âm dương ) tiếp đến Lôi – Thiên ( 001111 Đại tráng ,tháng 2 ) Trạch – thiên ( 011111Quải ,tháng 3 ) Thiên thiên 111111 Càn tháng 4 ) Thiên Phong ( 111110 Cấu ,tháng 5 ) Thiên Sơn ( 111100 Độn, tháng 6 ) Thiên- Địa 111000 Bĩ ,tháng 7 ) Phong – Địa ( 1100000 Quan ,tháng 8 ) Sơn – Địa ( 100000 Bác ,tháng 9 ) .Ở giữa các mốc đó ( đỉnh điểm ) là các quẻ khác ,âm dương tranh chấp nhau .Chiều dương trưởng tính từ tháng 11  đến tháng 4  .Chiều âm trưởng tính từ tháng 5 đến tháng 10 .

 

 

 

 

 

Biểu đồ tần suất xuất hiện của 62 quẻ trong 12 tháng

Nhận xét : 1.- Biểu đồ dao động hình sin không điều hòa   .

2.-Dương trưởng âm tiêu đối xứng trái phải qua quẻ Càn và Khôn  .

3.- Cân bằng tại quẻ Thái và Bĩ

4.- Theo  quái từ hào từ ( lời nhận xét quẻ ,vị trí chính của âm dương ) thì trong tổng số 384 hào  ngườI ta  thống kê được hào tốt xấu như sau x như sau :           hào dương  tốt là 64 ,xấu là 28 ,hào âm tốt 55 xấu 45 .Vậy dương tốt nhiều hơn âm tốt .Hào tốt nhiều hơn xấu .Các nhà tướng số thường căn cứ vào tính chất  thiếu chính xác đó  để đoán   nước đôi vận mệnh của  người ta vậy .

6.- Về tam tài

Các vạch  dài ngắn khi đã ghép thành quẻ ta gọi nó là hào .Tính từ dưới lên ,số một gọi là sơ  .Dương gọI là cửu âm gọi là lục .Chữ cửu ,lục này do đó không có nghĩa là số 9 hoặc số 6 .

Theo soạn giả ,hào giữa không riêng chỉ quy luật biến thiên tất yếu của loài người mà cho cả muôn loài .Người xưa tổng kết trong mỗi quẻ tùy theo vị trí các hào mà ta có các hiện tượng như sau :

Trong mỗi quẻ ,ở dưới cùng được gọi là tại địa ,giữa là nhân vị ,trên là tại thiên .

Quẻ Càn : Sơ hào tại địa : dương ,động ,cứng .

Nhị hào nhân vị : dương ,cứng rắn .

Tam hào tại thiên : dương ,biến hóa

Tóm lại nó biến hóa không ngừng->trời .

Quẻ Khôn :

Sơ hào tại địa : âm ,ổn định

Nhị hào nhân vị : âm ,yên thuận .

Tam hào tại thiên : âm ,tĩnh thuận .

Tóm lại nó  tĩnh lặng  -> đất

Quẻ Chấn ( lôi )  :

Sơ hào tại địa : dương ,động ,rắn chắc .

Nhị hào nhân vị : âm ,an thuận .

Tam hào tại thiên : âm ,dưới  động trên thuận

Tóm lại : nó dưới động ->sấm sét .

Quẻ Khảm

Sơ hào tại địa : âm ,ổn định

Nhị hào nhân vị : dương ,động ,rắn chắc .

Tam hào tại thiên : âm ,tĩnh ,ngừng .

Tóm lại lưu động giữa đất trời -> nươc

Quẻ Đoái

Sơ hào tại địa : dương ,động ,cứng rắn .

Nhị hào nhân vị : dương ; cứng rắn

Tam hào tại thiên :âm ,tĩnh .

Tóm lại bề mặt động -> tượng của đầm ao

Quẻ Tốn  :

Sơ hào tại địa : âm ,ổn định .

Nhị hào nhân vị : dương ,cuơng cường .

Tâm hào : dương ,biến hóa

Tóm lại động cả dưới đất trên trời ->Phong ( gió )

Quẻ Ly  :

Sơ hào tại địa : dương ,động ,rắn chắc .

Nhị hào nhân vị : âm ,yên thuận .

Tam hào tạI thiên : dương ,biến hóa

Tóm lại : động bề ngoài :-> Hỏa ( lửa )

Quẻ Cấn  :

Sơ hào tại địa : âm ,ổn định .

Nhị hào nhân vị : âm ,yên thuận .

Tam hào tại thiên : dương ,biến hóa .

Tóm lại tĩnh bên dướI và nội bộ -> Sơn ( núi )

 

Học cho nhuần nhuyễn kinh Dịch nên bỏ qua những thuật ngữ khó hiểu như thoán ,hệ từ ,truyện …mà hãy nắm vững  lý thuyết về Tam tài .Trong Kiến thức ngày nay số  năm       soạn giả đã  phản bác bài “ Thử tìm một quẻ nhân trong kinh Dịch ”của Hoàng Phủ Ngọc Tường chính ở choc này .Toàn bộ 64 quẻ không có quẻ nào nói riêng về người mà lại là nói tất cả .Đó là hào giữa  .Phải hiểu nhân đây khôngcó nghĩa là con người không thôi mà phải kể cả muôn loài .Con ngườI  cùng muôn loài biến thiên trong trờI đất .Mà thiên nhiên thì động tĩnh không ngừng .Ở vị trí âm có lúc là dương và ngược lại .Nhu và cương hoán vị cho nhau .Con người và muôn loài phải thích nghi với sự biến dịch đó .

Ta lấy ví dụ có gì mềm bằng nước và không khí ? Áp suất không khí P =P1(áp suất tĩnh) + P2 ( áp suất động .  P1 = hg ->h là độ cao cột khí , g khối lương riêng không khí ) Nhưng khi nó đã biến : tĩnh thành động ,áp suất động P2 = v2g/2g ( trong đó v là vận tốc ,g là gia tốc trọng trường  ) ,khi không khí có chứa hơi nước ( d  tính bằng gam ) ,nghĩa là 1m3 không khí ẩm ,ngoài nhiệt lượng                không khí khô ( i1= 0,24 t )  còn có nhiệt lượng hơi nước ( i2 = 0,595 d là nhiệt lượng cần thiết để biến  d gam nước sang trạng thái  hơi ở không độ và i3= 0,00047 dt là nhiệt lượng  của d gam hơi nước ở t độ  ) .Không khí bao bọc quanh bầu trờI là ở trạng thái ẩm .Tùy theo nhiệt độ mà nó có thể chứa hơi nước ( d tức độ ẩm tuyệt đốI nhất đinh ) nhiều hay ít .Tỷ lệ d thực tế và  bảo hòa  ta gọi là độ ẩm tương đối y . Khi nhiệt độ không khí biến đổI d và y thay đổI theo .TớI trạng thái bảo hòa mà t tiếp tục giảm thì hơi nước ngưng tụ thành nước .Sự biến dịch không khí ẩm đó gây nên mưa ,gió ,bão và nhiều hiện tượng khác ,có sức mạnh khôn lường .Nuí non cũng vậy .Tĩnh thì trơ trơ như đá  ,nhưng khi động thì nó làm sụt lở đất , lửa phun trào ….

Con người cần hòa đồng ,biết lợi dụng tự nhiên .Sai lầm của lịch sử loài người là cứ muốn cải tạo chứ không chịu chung sống với nó .Hãy hình dung ,một hai trăm năm sau thành quách ,đê đập ,lòng sông  ,nhà máy điện nguyên tử ….sẽ ra sao đây ?  Có lẽ con người đến lúc đó cần học cách hòa đồng với tự nhiên , ngủ đông như nhiều loài  để tiết kiệm năng lượng ,lương thực trời cho chứ không thể chiến tranh giành giật nhau tài nguyên được . Nếu vậy  thì nhà cửa của ta cũng có thể làm dưới lòng  đất ( như loài mối ,kiến ) hoặc dưới biển cạn  , trong núi để nghỉ sản xuất ,ăn uống ít đi   …chung sống hòa bình với nhau  cùng tránh  gió lạnh ,bão tố ,nước dâng …. thì ta mới  mong tồn tại lâu dài hoặc  di cư bớt lên mặt trăng được !

 

 

 

 

7 .- Ngũ hành

Ngũ hành là năm hàng  .Thuyết này nguyên là một thuyết riêng sau được ghép vào với thuyết âm dương gọi là thuyết ngũ hành tương sinh tương khắc .Tương sinh là theo chiều  thủy –> mộc –> hỏa –> thổ -> kim .Theo chu kỳ này mà thì cách nhau là tương khắc .Xếp theo ma trận ,đối nhau là tương khắc .

 

 

 

 

 

7a.- Ngũ hành theo Hà đồ

 

Hỏa ( p. nam )

2-7

 

 

Mộc ( đông )         Thổ ( trung ương)            Kim ( tây )

3-8                          5-10                            4-9

 

 

Thủy (bắc )

1-6

7b.-Ngũ hành theo Lạc thư

 

4                9              2

 

3                 5              7

 

8                 1             6

 

Theo cách giải thích của người xưa , Ngũ hành  vận hành tương sinh   theo Hà đồ  ( tiên thiên ),còn Lạc thư thì theo tương khắc ( hậu thiên  ) .Nhưng Hà là con sông nào ? sông Hoàng sông Hoài hay  thậm chí là sông Hồng ?còn Lạc là gì sông Lạc thủy hay ruộng Lạc  ,ruộng lắm cò vạc ? Theo nhiều nhà ngôn ngữ học ,giang âm Hán ( biến âm từ klông  ->kông ->  sông như Mê kông cách gọi của người nam Dương tử .Nhưng trường hợp Hắc long giang và Hồng Hà thì sao ?  Vấn đề truyền thuyết lịch sử mỗi người theo một lập luận riêng .Nhưng con số ,cách sắp xếp các quẻ đời Tống ( Chu Đôn Di ,Trình Hy ,Chu Hy …) đến đời Thanh như Lục Tích Hùng ,Tôn sĩ Nghị …vô tình đã làm cho con số biết nói ,không ai có thể chối cãi được . Đó là sự tranh chấp âm dương ( hay nói khác đi là nóng lạnh ,khô ẩm ) , cái rốn của nó  lạI chính là  vùng biển Hoa nam ,đồng bằng sông Hồng và biển đông .Nhìn lên bản đồ thờI tiết ,sự tranh chấp đó gặp nhau ở đây .Chính ở đây mớI có sự phân bốn mùa rõ rệt chứ không phải là vùng khí hậu lục địa .Cụ Trần Cao Vân còn đi xa hơn : vùng này có hình tượng của thái cực đồ nên cụ mới đề ra Trung thiên dịch nghĩa là muốn có một quẻ nhân để đại diện .Đó là sự khiên cưỡng .Theo lý thuyết chính vị ( âm chẵn dương lẻ mới đúng vị trí thì với 8 quẻ chỉ có Khảm ( 101 ) .VớI 64 quẻ là Ký tế ( 101010 ) hoặc Vị tế (010101 ) nếu đọc từ dưới lên hay trên xuống ( theo nhị phân là đọc từ trái hay phải) .Đó là những cái mà xưa nay ta chỉ mặc nhiên công nhận .Bởi vậy, soạn giả sẽ mạo muội trình độc giả sách Dịch theo những lập luận riêng ,trật tự riêng  .

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s