Do Anh Tho: Kinh Dich voi cuoc song con nguoi – Khai quat ve am duong lich

 

 

Chương 2 .-

Khái quát về âm dương lịch

Dù cho người xưa do trình độ khoa học chưa phát triển ,đã cho rằng trời tròn đất vuông  thì cũng có một nửa cái lý của nó đó là thuyết địa tâm ,theo hệ quy chiếu trái đất ,giống như  ta ngồi trên tàu thấy ruộng đồng cây cối chạy vậy .Xét theo viên đồ ( 64 quẻ dịch sắp xếp theo hình tròn ) hoặc phương đồ ( sắp xếp theo hình vuông ) ta thấy rõ tính tương đốI chính xác của nó .Trước hết ,ta muốn chứng minh ,không thể không dùng kiến thức thiên văn hiện đạI kết hợp vớI nghiên cứu về chu kỳ thời tiết của Dịch  mà chủ yếu là nghiên cứu về tần suất ,về sự cộng hưởng ,sự giao thoa giữa các chu kỳ năm tháng âm dương lịch hay nói khác đi là vị trí tương đốI giữa mặt trăng mặt trờI và quả đất .

 

 

 

 

 

 

1.- Tần suất xuất hiện các quẻ

trong tháng âm lịch :

 

Tháng 11 ( tháng tý ):

Từ Khôn ( tháng 10 )hoàn toàn âm (000000 ) có một sự đột biến ,thời tiết chuyển sang tháng tý   :nhất dương sinh , ta có quẻ Phục (100000 ) ,ta có một hào dương thứ nhất ( sơ cửu ) . Thuật ngữ dịch học chữ “ cửu ” này  có nghĩa là dương ,không phải là số 9 .Theo Chu Dịch đồ thuyết khoảng thờI gian này là đông chí tức là ngày 22 tháng 12 dương lịch ,đường xích vĩ ( đường tưởng tượng của  bầu trời  tạo thành một mặt phẳng nằm ngang  đi qua tâm quả đất ) so với  quả đất  do nó quay nghiêng nên lệch với xích đạo quả đất một góc là – 23,57  .Ở bắc bán cầu ,ta có đêm dài nhất . Tiếp sau đó  có đến  15 quẻ xuất hiện thêm một hào dương ( ở ngoại quái ) nhưng ở thế tranh chấp để ổn định ở vị trí thứ 2  ( nội quái )là Di 1000001 ,Truân (100010) ,    Ích (100011)                    Chấn (100100)Phệ hạp (100101) Tùy (100110) Vô vọng (100111 )Minh Di (101000 ) ,Bí (101001) ,Ký tế( 101010 ), Gia nhân (101011 ) ,Phong (101100 ) ,Ly (101101 ) ,Cách (101110 ) , Đồng nhân (101111 ) cuối cùng đi đến quẻ Lâm 110000 ( tháng 12 ) . Rõ ràng con người ở vùng Bắc bộ Viết nam và một phần nam Trung hoa cảm thấy rất rõ tần suất  tranh chấp rất lớn ,không ngừng của nhiệt độ ,độ ẩm …giữa ngày với ngày ,giữa ngày và đêm  ( tính ra 16 lần trong tháng ) hay hai ngày có một biến dịch . Có hôm trưa nóng vã mồ hôi nhưng đêm là gíó mùa tới . Cha ông ta xưa kia chưa dự báo được gió phơn ( front )  từ sa mạc Gobi  tràn về như sóng triều (寒 潮 ) này  nhưng sắp xếp các quẻ đã tỏ ra rất có căn cứ .Tuy nhiên do thờI tiết có xu hướng ấm dần lên ,hơn nữa có sự lệch pha khá lớn giữa âm dương lịch nên  tiết đông chí không rơi hoàn toàn đúng vào   tháng 11 âm lịch .Tháng 12 ( quẻ Lâm ) theo kinh Dịch đã là tiết xuân phân .

Tháng 12  :

Quẻ Lâm (110000 ) .Hào 2 trở thành dương .Nhưng theo thứ tự ,thì chính vị trí đó phải là hào âm .Theo kinh Dịch là tiết xuân phân ( 21- 3 dương lịch ) khoảng thờI gian ngày đêm dài bằng nhau .Nhìn vào quẻ này ta thấy tuy đã có hai hào dương nhưng còn 4 hào âm ,vị thế âm vẫn áp đảo .Sau quẻ Lâm đó  ta có  7 quẻ , dương tranh chấp âm ở ngoại quái   là Tổn ( 110001 ) ,Tiết (110010 ) ,Trung phu (110011 ) ,Quy muội  (110100 ) ,Khuê ( 110101 ) ,Đoái ( 110110 )  ,Lý (110111 ) để cuối cùng đi đến chiếm vị trí thứ 3 của nội quái là quẻ Thái  .

Cha ông ta thường có câu : tháng chạp sấm rạp ,nghĩa là nằm bẹp xuống ,trốn mất .Tháng chạp tuy đã có chút ít sinh khí ( dương ) nhưng vẫn còn non  .Người chiết cây ,trồng đào ,trồng mai … thường lấy tiết đông chí làm mốc ,để  chiết cây ,bứng đào ,mai ra chậu…nhưng  thiếu kinh nghiệm về lịch dương nên cây chết và xót thương cho hoa đào  không nở đúng tết , trở thành hoa đào năm ngoái đã chào gió đông  .

Mặt khác ,ta lại  cần biết rằng ,năm trước năm nhuận âm lịch so với năm trước năm nhuận dương lịch   lệch nhau rất lớn .Có một thời , ta  chỉ máy móc căn cứ vào dương lịch (tiết khí ) để khuyên bà con nông dân  xuống giống lúa trước lập xuân nên đã thất bại là vì thế .

Tháng giêng :

Quẻ Thái (111000 ) là quẻ cân bằng âm dương thuộc tiết Lập hạ .Nó cùng với quẻ Bĩ tạo thành một trục của chu kỳ hình sin về thời tiết mà chúng ta sẽ nói ở phần sau .Thời gian này ,các tính loài đi tìm nhau ,không chỉ riêng loài người .Đàn ong chuẩn bị đúc ong non để san đàn ,các loại sâu bọ dưới chuẩn bị đất chui lên tìm bạn mà đặc trưng nhất là bọ rầy ,đom đóm và cuốI cùng là loài ve ….Sau quẻ Thái  còn 3 quẻ xuất hiện hào dương thứ tư ở ngoại quái tranh chấp nhau ,giành vị trí thứ tư .Đó là Đại súc (111001 ) ,Nhu  (111010 ),Tiểu súc ( 111011 ) ,để tiến tới quẻ Đại tráng  .

Tháng 2 :

Quẻ Đại tráng ( 111100 )  Lúc này thế lực âm đã yếu .Ngoài Đại tráng  còn quẻ Đại hữu (111101 )

 

 

Tháng 3 :

Quẻ Quải ( 111110 ) Chỉ còn một hào âm .Ta thấy thờI tiết chi phối bởi cái lạnh phía bắc đã giảm hẳn

Tháng tư :

Càn hoàn toàn thắng thế .Ta có bát thuần dương  ( 111111 )

 

Tháng 5 :

Tháng bắt đầu  sinh  một hào âm .Đó là quẻ Cấu ( 011111 ) ,tiếp đến  có 15 quẻ 1 hào âm tiếp theo nhau để chiếm vị trí thứ hai .Đó là Đại quá 011110 ,Đỉnh 011101 ,Hằng 011100 ,Tổn 011011 ,Tỉnh 011011 , Cổ 011001 ,Thăng 011000 ,Tụng 010111 ,Khốn 010110 ,Vị tế  010101 ,Giải (010100 ) ,Giải 010100 ,Hoán 010011 ,Khảm 010010 ,Mông 010001  ,Sư 010000  .

 

Tháng 6

Có 8 quẻ Khiêm ,Cấn ,Kiển ,Tiệm ,Tiểu quá ,Lữ ,Độn (001111 ).

Tháng 7

Có một quẻ Bĩ ( 000111 )

 

Tháng 8

Có 4 quẻ :Quan (000011) ,Dự 000100 ),Tấn (000101 ),Tụy ( 000110 )

Tháng 9

Có hai quẻ là Bác ( 000001) ,  Tỷ 0000010 )

Tháng 10

Thuần âm chỉ có 1 quẻ Khôn kép ( bát thuần khôn :000000 ) .

Theo tần suất các quẻ  ( hay nói khác đi là sự tranh chấp âm dương ,nóng lạnh ,hơi nước khô ẩm …theo biểu đồ nhiệt hàm = entropi )    trong các tháng  có sơ đồ hình sin như sau  :

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hình vẽ 1

Tần suất các quẻ Dịch theo tháng theo chiều dương trưởng âm tiêu và ngược lại .

 

 

 

 

 

 

2.- Vấn đề tiết khí :

Như phần trên đã trình bày ,soạn giả dung phép đếm  nhị phân để nghiên cứu Dịch từ thời tiết  trong năm trong vùng từ 16  đến 25 vĩ độ Bắc ,theo múi giờ 7, 8 vì nó chỉ đúng trong khoảng đó thôi .

Quả đất chúng ta   quay quanh  mặt trời là 365,25 ( ngày sao )  .Chia cho 12 tháng ( 30 ngày ) có lẻ . Hai  tiết khí vì thế xê dich  tí chút giữa ngày 7 –8 và 21 – 22  dương lịch ,căn cứ vào đường hoàng đạo và xích vĩ ,nghĩa là căn cứ góc lệch nhau của chúng  , ngày xuân phân ( 21 tháng 3 dương lịch ) và thu phân ( 23 tháng 9 dương lịch ) .Hai thờI điểm đó , đêm ngày dài bằng  nhau . Chiếu sang âm lich âm lịch ,trái lại  theo chu kỳ mặt trăng quay quanh quả đất ,một tháng sao chỉ có 27,32 ngày (nếu quả đất đứng yên ) .Nhưng vì quả đất lại quay quanh mặt trời 365,25 ngày  nên chúng ta thấy mỗĩ lần giao hội giữa mặt trăng và mặt trời lệch nhau  360: 27,33 » I5 độ .Do đó chu kỳ tuần trăng hay gọi là tháng giao hội  là 29,53 ngày và năm âm lịch chỉ có 29,53×12 = 354,36 ngày . MỗI năm âm dương lịch lệch pha nhau hơn 10 ngày .Để cho ngày sao mặt trời và mặt trăng  khớp nhau cha ông ta đặt ra tháng nhuận ,tức là năm mà tháng âm lịch chỉ có một tiết khí .

Bởi vậy , với âm lịch ,tiết khí bị xê dịch   .Sự lệch pha giữa âm dương lịch hay tiết khí làm cho chu kỳ  xuất hiện sấm chớp ,gió  mùa ,chu kỳ sinh học như ngày sâu nở ,này rụng trứng của nữ giới ,ngày đâm chồi nẩy lộc của cây cối ,ngày xuống giống lúa …có sự biến dịch nhất định .Không thể cứng nhắc theo âm hay dương lịch được . Cha ông chúng ta đã có những kinh nghiệm đúc kết rất quý báu .Nó thể hiện phần nào ở trong chu kỳ 64 quẻ Dịch .

Do quả đất quay quanh mặt trờI theo quỹ đạo ellip và trục tự quay không thẳng góc vớI mặt phẳng hoàng đạo mà bị nghiêng theo chiều Tây bắc đông nam do tác đông nhiều sức hút khác nhau .,gọI là độ nghiêng xích vĩ d biến thiên trong khoảng nhất định  . Mặt trờI ở nửa thiên cầu bắc  ( d = +23,37độ ).               Ở nủa thiên cầu nam (  d = – 23,37độ )  tạI những thờI điểm  a khác nhau :

Xích vĩ là đường tưởng tuợng của quỹ đạo quả đất theo măt phẳng nghiêng   quanh mặt trời và đường hoàng đạo là quỹ đạo theo mặt phẳng thẳng góc vớI mặt trờI . Góc nghiêng đó gọI là góc xích  vĩ d .Nó biến thiên trong khoảng +23,37độ ( mặt trờI ở nửa thiên cầu bắc)       và – 23,37độ ( mặt trờI ở nửa thiên cầu nam )  ở các giờ khác nhau trong ngày đó .Chú ý ,soạn giả ký hiệu tháng dương lịch bằng số la mã ,tháng âm lịch bằng số thường .

 

Vị trí quả đất    ngày         d          a      Độ dài ngày đêm

 

1 Xuân phân    21/III        0           0 h           bằng nhau

2  Hạ chí           22/VI  +23,37đô   6h          ngày dài nhất

3  Thu phân     23/IX        0 độ       12h      ngày bằng đêm

4 Đông chí      22/XII   -23,37đô    18h         đêm dài nhất

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hình vẽ :

 

Rõ ràng rằng tạI thờI gian ,địa điểm khác nhau đó ,từ trường quả đất ,lực hút mặt trăng mặt trờI khác nhau .Mặt khác do hơi nước ,nhiệt độ không khí khác nhau ,sự no hơi nước ( bảo hòa ) theo nhiệt độ khác nhau gây nên mưa gió sấm chớp khác nhau mà con ngườI không thể không cảm nhận . Chẳng hạn ,máu trong ngườI ta tuy ít nhưng chịu tác động của mặt trăng mặt trờI khác gì nước biển ? Chẳng qua là do thích nghi hay không thích nghi ,bị cộng hưởng như thế nào mà thôi .

3.-Ngày mặt trời trung bình với phương trình thời gian

Ta đã biết  ngày sao của mặt trời là dựa vào chu kỳ nhật động của các sao .Nó có độ dài bằng khoảng thờI gian giữa hai lần tiết xuân phân ( ngày đêm dài bằng nhau )  qua kinh tuyến  tại nơi quan sát .Còn ngày mặt trời thực thì dựa vào chu kỳ nhật động của nó  .Ngày thực dài hơn ngày sao .Nó biến thiên do quả đất quay quanh mặt trời với vận tốc không đều . Nhưng trong đời sống ,ta dùng ngày trung bình .Phương trình thời gian là hiệu số giữa giờ mặt trời  trung bình (tm ) với giờ mặt trời thực (to) ở một thời điểm nào đó .

h = tm- to  .

h tính theo phút và thay đổi theo tháng dương lịch theo đường sin như sau

 

 

 

 

 

 

 

 

Hình 3.-

 

Sự biến thiên của h = tm- to

 

       
       
 
       
       

 

 

4.- Hoàng đạo

Từ quả đất ,ta nhìn thấy mặt trờI dịch chuyển  từ  đông sang tây ngược vớI chiều quay của quả đất .Quỹ đạo đó ( hoàng đạo ) biến thiên ,ứng vớI các chòm sao nhìn được vào lúc mặt trờI mọc và lặn như sau :

 

 

 

 

 

 

Hình vẽ

 

 

 

 

 

 

 

   

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

5.- Tổng hợpcác điểm cắt ,điểm uốn ( hạn ) ,sự cộng hưởng …dướI ánh sang của Dịch .

 

Phần này soạn giả sẽ trình bày chi tiết trong các quyển sau .Tuy nhiên ,để có những luận cứ nhất định để phân tích các quẻ của Dịch ,không thể khôngnêu lên một biểu đồ tổng quát như sau :

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s