Archive | Tháng Tư 2016

Lê Xuân Khải: Bài thơ điếu đọc trong ngày đưa hài cốt em về quê an táng

吊二老堂…

离乡半世纪余经

客地年增梓里情

只为故乡一席土

关山远涉半球程

Phiên âm:

Điếu nhị lão đường…

Ly hương bán thế kỹ dư kinh

Khách địa niên tăng tử lý tình

Chỉ vị cố hương nhất tịch thổ

Quan sơn viễn thiệp bán cầu trình

Nghĩa:

Xa quê đã hơn nửa thế kỷ

ở đất khách hàng năm tăng nỗi nhớ quê hương

chỉ vì muốn có một mảnh đất ở quê bằng cái chiếu

phải vượt nửa vòng trái đất

Dịch thơ:

Xa quê nửa thế kỷ đã hơn

Đất khách mỗi năm mỗi nhớ dồn

Chỉ nỗi đất quê cầu mảnh chiếu

Nửa vòng trái đất trải quan sơn.

Chú thích:

– Tử lý: quê hương

– Quan sơn: chỉ đường xá xa xôi

Advertisements

Đỗ Anh Thơ ( Hồi Ký II) : Truông Hến

 

 

Lúc nhỏ, với đôi chân dẻo dai, hai cái đầu gối củ lạc, thằng Thinh  đã nhiều lần từ Nghi Lộc đi tắt qua Chợ Già men theo chân Rú Gai để lên Hưng Nguyên , Nam Đàn đi học, đi thi rồi hỏi vợ.

Nay một lần, khi đã trở thành lão Docago gàn, bị vợ trách móc,  Hắn đã

 

 

( Truông Hến 2015)

thốt lên mấy câu thơ :

“ Thương nhau lận đận đường mòn,

                Quý Đức, Đôn Nhương, Phan Thôn, Chợ Già.

                 Nay dù tóc bạc phôi pha.

               Con con, cháu cháu, dễ mà quên nhau !

 

Toàn bài thơ, ngoài những địa danh,  chỉ có một chữ “ dễ “ là đắt nhất. Đó là một nghi vấn từ, lấp lửng , nhiều ẩn nghĩa, là “ khó” chăng, “ có lẽ ” chăng,“ có thể nào” chăng…?

Thế nhưng,  như vợ Nam Cao – khi ông vừa mới mua được một bộ ghế mây, đưa ra sân, gọi vợ ra ngắm trằng vàng, thơ mộng, thì bà vợ dã buông một câu : trăng sáng thì càng đỡ tốn dầu.  Còn bà vợ Docago thì cũng đã chữa chữ “dễ” thành “để”.

Oi, thì ra sự đời, các mối quan hệ cũng chỉ  thêm bớt có một nét ngang mà thôi. Nhưng ở hai vợ chồng ông Đồ Già này, mặn nhạt sống với nhau,  cũng đã trên 60 năm rồi !

Vậy nên Docago cần phải trở lại những chuyện xưa, chuyện 60 năm trước để hâm lại.

Từ Nghi Lộc nhìn lên Nam Đàn, phía tay trái Rú Gai là là Rú Mưỡu , tay trái là Truông Hến. Vươt qua Truông Hến là tới làng của Phan Bội Châu- con chim chỉ đau đáu một nỗi niềm “ về làm tổ trên đất Việt : Sào Nam

mà không được.

Đường Truông Hến khó đi, lại trái đường, nên xua kia thằng Thinh mới đi có một lần, rồi 60 năm Docago chưa hề trở lại. Trong chiến tranh, nó cũng là một ngả đường cho xe pháo từ đường mòn Hồ Chí Mịnh đi vào nam. Nay nhìn vào ảnh năm 2015 thì hình như một gia đình vẫn bám trụ trên Truông bao năm, nay cũng đã phải chuyển vào Gia Lai sinh sống.

Đời là như vậy đó. Có ai mà có thể ôm mãi một mớ lý thuyết suông, những kỷ niệm một thời bao giờ./.  .

Đỗ Anh Thơ

14/4/2016

 

 

NGUYỄN BÍNH :LỠ BƯỚC SANG NGANG (NGUYỄN CHÂN dịch sang Pháp- Nga) I-

I-

“Em ơi em ở lại nhà

Vườn dâu em đốn, mẹ già em thương

Mẹ già một nắng hai sương

Chị đi một bước trăm đường xót xa .

Cậy em, em ở lại nhà

Vườn dâu em đốn, mẹ già em thương

Hôm nay xác pháo đầy đường

Ngày mai khói pháo còn vương khắp làng

Chuyến này chị bước sang ngang

Là tan vỡ giấc mộng vàng từ nay .

Rượu hồng em uống cho say,

Vui cùng chị một vài giây cuối cùng.

Rồi đây sóng gió ngang sông,

Đầy thuyền hận, chị lo không tới bờ

Miếu thiêng vụng kén người thờ,

Nhà hương khói lạnh, chị nhờ cậy em.

Đêm nay là trắng ba đêm,

Chị thương chị, kiếp con chim lìa đàn.

 

Một vai gánh vác giang san…

Một vai nữa gánh muôn vàn nhớ thương.

Mắt quầng, tóc rối tơ vương

Em còn cho chị lược gương làm gì !

Một lần này bước ra đi

Là không hẹn một lần về nữa đâu,

Cách mấy mươi con sông sâu,

Và trăm nghìn vạn nhịp cầu chênh vênh

Cũng là thôi… cũng là đành…

Sang ngang lỡ bước riêng mình chị sao ?

Tuổi son nhạt thắm phai đào,

Đầy thuyền hận có biết bao nhiêu người !

Em đừng khóc nữa, em ơi !

Dẫu sao thì sự đã rồi nghe em !

Một đi bảy nổi ba chìm,

Trăm cay nghìn đắng, con tim héo dần

Dù em thương chị mười phần,

Cũng không ngăn nỗi một lần chị đi .

Chị tôi nước mắt đầm đìa,

Chào hai họ để đi về nhà ai…

Mẹ trông theo, mẹ thở dài,

Dây pháo đỏ bỗng vang trời nổ ran.

Tôi ra đứng ở đầu làng

Ngùi trông theo chị khuất ngàn dâu thưa.

 

II

Giời mưa ướt áo làm gì ?

Năm mười bẩy tuổi chị đi lấy chồng.

Người ta: pháo đỏ rượu hồng

Mà trên hồn chị: một vòng hoa tang .

Lần đầu chị bước sang ngang,

Tuổi son sông nước đò giang chưa tường.

Ở nhà em nhớ mẹ thương

Ba gian trống, một mảnh vườn xác xơ .

Mẹ ngồi bên cửi se tơ

Thời thường nhắc: “Chị mầy giờ ra sao ?”

” Chị bây giờ”… nói thế nào?

Bướm tiên khi đã lạc vào vườn hoang.

Chị từ lỡ bước sang ngang

Trời dông bão, giữa tràng giang, lật thuyền.

Xuôi dòng nước chảy liên miên,

Đưa thân thế chị tới miền đau thương,

Mười năm gối hận bên giường,

Mười năm nước mắt bữa thường thay canh.

Mười năm đưa đám một mình,

Đào sâu chôn chặt mối tình đầu tiên .

Mười năm lòng lạnh như tiền,

Tim đi hết máu, cái duyên không về.

 

“Nhưng em ơi một đêm hè,

Hoa xoan nở, xác con ve hoàn hồn.

Dừng chân bên bến sông buồn,

Nhà nghệ sĩ tưởng đò còn chuyến sang .

Đoái thương, duyên chị lỡ làng.

Đoái thương phận chị dở dang những ngàỵ

Rồi…rồi…chị nói sao đây !

Em ơi, nói nhỏ câu này với em…

…Thế rồi máu trở về tim

Duyên làm lành chị duyên tìm về môi.

Chị nay lòng ấm lại rồi,

Mối tình chết, đã có người hồi sinh.

Chị từ dan díu với tình,

Đời tươi như buổi bình minh nạm vàng”

“Tim ai khắc một chữ “nàng”

Mà tim chi một chữ “chàng” khắc theo

Nhưng yêu chỉ để mà yêu

Chị còn dám ước một điều gì hơn

Một lầm, hai lỡ keo sơn

Mong gì gắn lại phím đàn ngàng cung

Rồi đêm kia, lệ ròng ròng

Tiễn đưa người ấy sang sông, ch

Tháng này qua cửa buồng the

Chị ngồi nhặt cánh hoa lê cuối mùa!

 

III

Úp mặt vào hai bàn tay

Chị tôi khóc suốt một ngày, một đêm

Đã đành máu chảy về tim

Nhưng không ướt nổi cánh chim giang hồ

Người đi xây dựng cơ đồ

Chị về giồng cỏ nấm mồ thanh xuân

Ngườ đi khóac áo phong trần

Chị về máy áo liệm dần nhớ thương

Hồn trinh ôm chặt chân giường

Đã cùng chị klhóc đoan đường thơ ngây

Năm xưa, đêm ấy, giường nầy

Nghiến răng…nhắm mắt…chau màu…cực chưa!

Thế là tàn một giấc mơ,

Thế là cả một bài thơ não nùng!

Tuổi son, má đỏ, môi hồng,

Bước chân về đến nhà chồng  là thôi!

Đêm qua mưa gió đầy giời,

Trong hồn chi có một người đi qua…

Em về thương lấy mẹ già

Đừng mong ngóng chị nữa mà uổng công

Chị giờ sống cũng như không,

Coi như chị đã ngang sông, đắm đò”.

* * *

 

NGUYỄN CHÂN dịch

TRAVERSÉE DU FLEUVE-UN FAUX PAS

NGUYỄN BÍNH

Oh, Petite Sœur!  Notre maison ne quittera pas!

Taille les mûriers, surveille toujours notre mère

Qui travaillait rudement presque toute sa vie entière

Je m’en irai, le cœur serré en faisant chaque pas

Petite Sœur! Reste à notre maison, je compte sur toi

Taille les mûriers et t’occupe de notre mère

Aujourd’hui, les débris de pétards couvrent les allées

Demain leurs fumées seront répandues sur toute la localité

Cette fois-ci, la première, je devrai franchir le fleuve

Désormais,  mon rêve d’or sera désullionné

De l’alcool ardent jusqu’à enivrement, ainsi bois

Pour distraire ces dernières secondes avec moi!

Ma sœur, alors noyée de larmes, salue nos parentés

Pour suivre à l’autre domicile inaccoutumé

Notre mère l’a suivie des yeux en poussant des soupirs.

La chaîne de pétards rouges brusquement s’est explosée

Très émue, je cours au village, jusqu’à l’extrémité

La reconduisant des yeux jusqu’aux derrières des mûriers.

 

II

Il pleut en mouillant les vêtements pour quoi faire?

À dix sept ans ma sœur s’en alla se marier

Aux autres fiancées du vin et pétards on leur a réservés

Mais pour toi, ce n’est rien qu’une couronne funéraire

C’est la première fois que tu traverses le fleuve

Jeune encore, tu n’as pas d’expériences de vie sur l’eau

Chez nous, maman et moi, nous toujours pensons à toi

Le jardin-dénudé, silenccieux sera notre toit

Assise à côté du métier, filait la soie maman

Et répétait souvent “Comment va ta sœur maintenamt?”

Que pourai-je lui répondre “Comment….

Au nom du papillon-fée égaré au jardin déserté?”

Depuis que tu avait fait un faux pas en traversant le fleuve

Dans l’orage, sur le fleuve, la barque pourrait chavirer?

L’eau coule sans interruption sur le courant

Ta vie à la zone douloureuse emportant

Dix ans continus sur la literie d’aversion

Dix ans tes larmes prennent place du bouillon

Et toi, toute seule, suis ton propre cortège funèbre

Tu a foncé et enfoui ton amour primordial

Durant dix ans ton âme s’est toute gelée

Tout le sang coule mais n’apparait pas l’amour prédestiné

Mais, ma sœur! Brusquement une nuit estivale

S’ouvrent les fleurs du lilas du Japon

Reprit ses esprits la dépouille de la cigale

 

S’arrête sur le quai morose du fleuve,

L’artiste croit qu’il reste encore des passages

Je pense avec compassion à mon amour rompu

Qui se prolonge déjà longtemps depuis

Et pourtant que pourrai-je te parler franchement?

Ma sœur! Je prends part pour te communiquer

Le sang maintenant au cœur m’a déjà retourné

Grâce à la chance qui m’offre une reconciliation

Maintenant mon âme s’est réchauffée

Déjà l’amour perdu est renaissant

Depuis que je suis liée de nouveau amour intimement

La vie devint telle convertie en aurore dorée

Mon nom s’écrit dans quel cœur le mot “chérie”

Dans le mien son cœur est de telle sorte aussi

Mais l’amour c’est pour l’amour seulement

Et je n’espère rien  comme complément

Première, puis deuxième fois j’ai souffert de l’infidèlité

Que pourrai-je le relier les actions insensées

Puis, une nuit trempée de larmes

Reonduisant cet homme passer le fleuve, je m’en retourna

Jours et mois passent devant ma chambre isolée

Je commence à ramasser les derniers pétales du poirier

* * *

 

 

III

Couvrant toute la face de ses deux mains

Elle pleurait durant tout un jour et une nuit

Certes, le sang retoutne déjà au cœur

Mais  mouiller les ailes aventurières de l’oiseau il ne peut

Il s’en va pour chercher sa carrière

Je retourne prendre soins aux herbes sur la tombe juvénile

Lui, s’en va avec une vie pleine de vicissititudes

Et moi, je rentre préparer le linceul pour l’âme candide

Puis serre fortement les pieds du lit

Qui pleurent avec moi une période innocente

Dans le passé, à la même nuit, sur ce même lit

Grinçais les dents, fermais les yeux, fronçais les sourcils…Quelle douleur!

Enfin, échoua complètement un rêve

Et c’est terminée une poésie qui fendait le cœur

À l’âge adolescente, avec les joues et lèvres roses

Posée les pieds au logis du mari, c’est tout!

La nuit passée, tout le ciel esr été couvert d’orage

Dans mon âme passa un homme.

Rentre et t’occupe de notre maman

N’espère plus que je m’en retournerai

Malgré que je subsiste, mais comme perdue maintenant

Suppose que je me noyerai dans la barque en passant le fleuve .

8 8 8 8 8

 

НЕУДАЧНЫЙ ПЕРЕХОД ЧЕРЕЗ РЕКУ

НГУЕН БИНЬ

Oх! Младщая Сестра! Останься всегда дома!

Подрезай тутовые дерева, заботись за матери

Она тяжело трудилась всю свою жизнь почти

Уйду, сердце мне на каждый шаг разрывается

Рассчитаюсь на тебя! Oстанься дома!

Подрезай тутовые дерева, заботись за матери

Сегодня покрыли все проходы петардные остатки

Их дымы будут распрострены на всё село завтра

На этот раз перейду реку

Значит c тех пор разрущу зодотую свою надежду

Крепкой водки, пей до опьяния

Чтоб со мной несколько последних секунд веселиться

Впоследсвии, когда ветер и волы заполняют реку

На лодке, затая все обиды, причалить не смогу

О святой храме, неловко выбирают заботящую

О культе предков, nолько на тебя рассчитаю

Эта ночь, уже мне третей бессонной

Жалея сама, как птица отбивщая от стадей

На одном плаче беру тяжёлую жизненную трудность

А на другом-о нашей семе чувствительность

У меня, круги вокруг глазов, лохматаые волосы,

муки о семе

Зачем мне подаришь зеркало и расчёску?

Уйду этот раз, не могу назначать день возвращения

Нас разделяют сколько глубоких рек и столько

Неустойчивых мостов с одним пролотом

Вот, также всё мне  нужно с этим смириться

Неудачный ход сделать не только я одна!

В юнощеском возрасте, потераясь свою красоту

Имеются сколько девочек на досадной лодке

Всё уже кончено! Cестра! Не плачешь больше!

Уйдя, значит буду вести жизнь полную превратностей

Горемыка сохла постепенно сердце моё

Хотя ты меня сочувствовала десять  раз

Ты никак не сможешь мешать мне уйти

Моя сeстра, с текущими ручьями слёз

Распрошався c роствoм, чтобы уйти в чужой дом

Мать её следит и тяжело вздохнула

Связка хлопушек вдруг с грохотом взорвалась

Я бегу на вход в деревне и там стою

За  негустым тутовником растроенно её слежу

II

Зачем дожди промыкают одежды?

В семнажцать лет ушла за муж ты

Другим невесткам красные петарды и вина принесли

А на твой душе лишь похоронный венок

Это первый раз ты переплывёшь реку

Молодая, не знала пока опасности на воде

Дома мать и я тебя жалеем и скуччаем по тебе

Три комнаты пусты, сад запушен

Рядом с ткацким станком мать сучит шёлковые нити

Часто повтарит “Как теперь живёт твоя сестра?”

Как? “Что могу ей ответить,

Раз уже попалась в дикий сад святая бабочка”?

C того времени, как нечаянно переплыла реку

В бурях, над водой твоя лодка могла бы перевернуться

По течению вода течёт непрерывно

И тебя увлекает в скорбное пространство

 

Десять лет над обидной подушкой на кровате

Десять лет слёы постоянно тебе заменяют отвар

Десять лет самой участвовала в порохонах самого себя

Десять лет свою первую любовь погребала

Десять лет душа похолодела как лёд

Кровь исчерпалась, обаяние не вернулось

Но любимая сестра! Вдруг в одну летнюю ночью

Расцветают мелии, бренные останки цикалы ожили

Останавливаясь на этом скучном причале

Артист думая, что имеется ещё переход

Сожалеет мою неудачливую любовь

Сожалеет моё положение в этих незавершённых дняx

Потом…. потом, что могу тебе сказать?

Я тебе прошептаю на ухо : Сестра!

Чудесно! уж в сердце моё кровь вернулась

Мерившсь со мной,  любовь вернулась в губы

У меня сейчас уже соглелась душа

Другим человеком ворождалась дюбовь мёртвая

С того времени, как интимно отношусь с новой любоью

Жизнь моя напоминает золотом инкрустированую

Утреннюю Зарю!

 

У кого в сердце слово “любимая” записано

A в моём следует слово “любимый”

Но у меня любить значит только любить

Я не смею больше ни о чём надеюсь

Ошибаюсь, опять оплошаю в неразрывных узах

Что может исправить неточную клавишу

Потом одной ночью слёзы льют ручём

Провожав этого человека через реку, вернулась

Ежедневно через нашу бывшую комнату

Сидя, послетние лепестки груши cобираю

III

Прикрываю лтцо двумями руками

Она плакала целые день и ночь

Хотя кровь уже вернулась в её сердце

Но не может мочить крылья бродяги

Он ушёл  чтоы б ищить своё поприще

Вернуыши, ты разводает траву на могиле молодости

Уйдя, он живёт преватную жизнь

А ты вернулась и готовила савана для тоски

Девственная душа обнимает эту постель

Что с тобой плакать на чистый отрезок пути

В прошлом году, в этой ночью, на этой кровате

Скорчила недовольную гримасу

И закрыла глаза,….какое наказание!

Вот! Уже уснула красивая мечта

И этим покончила трагическая сцена

Молодой красавице, уйдя за муж, Вот  и Всё!

Прошную ночью всё небо  было полным бурей

Через твою душу перешёл один человек

Возвращаясь, чтоб заботиться о старой матери

Не ожидай меня-Это будет напрасным

Я сейчас на свете считаюсь как уже изчезнуть

Живу я сейчас как бы я не была

Предпологала б как я уж потонула б переплая реку

АДАПТАЦИЯ:NGUYỄN CHÂN 10.03.2016

Ts. Phạm Trọng Chánh : Nguyễn Du viết về Hàn Tín

Hàn Tín là một nhân vật lịch sử Trung Quốc, được người đời  các nước Á Đông bàn luận nhiều nhất. Hàn Tín đem tài trí giúp Lưu Bang thu đoạt thiên hạ. Một  vị Nguyên soái mưu trí bách chiến bách thắng, đánh bại Hạng Vũ, bậc anh hùng sức mạnh vô song,  không ai không bảo Hàn Tín  là một nhân tài. Nhưng người thì biện luận Hàn Tín là bậc anh hùng, kẻ thì gọi là bậc cơ xảo. Làm nên cơ nghiệp cho Hán Cao Tổ nhưng khi thành công rồi thì bị vu cáo làm phản, tội danh vu vơ, bị giáng chức, bị  Lưu Bang mượn tay  vợ Lã Hậu  giết cả ba họ, bị xẻ thịt cho chó ăn. Mọi người đều  ngậm ngùi cho số phận bi thảm của Hàn Tín và các công thần gầy  dựng nhà Hán.

Nguyễn Du có hai bài thơ viết về Hàn Tín, Lê Quý Đôn cũng viết một bài, vua Trần Anh Tông cũng nói về Hàn Tín. Ta thử tìm xem các bậc thi hào nước ta luận bàn thế nào về nhân vật Hàn Tín.

Nguyễn Du trên đường đi sứ qua sông Hoài, có viết  bài thơ Qua sông Hoài nhớ Hoài Âm Hầu. Sông Hoài  là  sông  lớn thứ ba  của Trung Quốc dài 1078 km. Sông Hoài và dãy núi Tần Lĩnh  được xem là địa giới tự nhiên  Hoa Bắc, Hoa Nam. Phát nguyên từ tỉnh Hà Nam, chảy qua phía bắc thành Tín Dương, chảy vào tỉnh An Huy và đổ vào Dương Tử Giang  . Hoài Âm Hầu  tước cuối cùng của Hàn Tín,  vì có người tố cáo Tín làm phản, Hán Cao Tổ, lập mưu đi chơi đất Vân Mộng, ghé thăm bắt Hàn Tín, bỏ tù rồi lại tha,  giáng  xuống hai cấp từ Sở Vương xuống còn tước hầu. Lữ Hậu về sau nhân loạn Trần Hy, vu cáo  bắt Hàn Tín giết cả ba họ..

Hàn Tín đầu quân Sở Vương được Phạm Tăng tiến cử cho Hạng Vũ, nhưng Hạng Vũ xem thường chỉ phong làm Chấp kích lang, chức vác kích theo hầu, Hàn Tín có dâng điều trần mấy lần nhưng không được dùng. Hàn Tín bỏ Sở về Hán được Hạ Hầu Anh, Tiêu Hà, Trương Lương tiến cử, lúc đầu Lưu Bang nghi ngại  chỉ dùng vào chức Liên Ngao coi kho, sau đó chức Tri túc Đô úy  giữ nhiệm vụ thuế vụ, tài chánh, Hàn Tín làm tròn nhiệm vụ xuất sắc, nhưng vẫn thấy chưa xứng đáng tài năng ông  lập mưu  bỏ đi, Tiêu Hà đuổi theo rước về, lại tiến cử Lưu Bang mới  dùng làm Nguyên Soái. Tín lập nhiều công trạng, đánh bại Sở Bá Vương, thống nhất Trung Quốc. Hán Cao Tổ đưa Hàn Tín vào hàng đệ nhất công thần cùng với Trương Lương và Tiêu Hà gọi là Tam Kiệt. Được phong làm Tề Vương rồi Sở Vương.

Lúc trẻ Hàn Tín đi câu cá dưới thành, bữa no bữa đói gặp bà Phiếu  Mẫu (Xiếu Mẫu) cho ăn bữa cơm. Lúc làm Sở Vương, Tín vời Phiếu Mẫu tới đền ơn nghìn vàng. Hàn Tín có nói :  « Vua Hán trao ấn Nguyên soái cho ta, cấp cho mấy vạn quân, cởi áo cho mặc, nhường cơm cho ăn, ta nói điều gì vua đều nghe, bàn kế gì vua đều dùng , nên ta mới được thế này ». Câu thơ này nhắc lại lời Hàn Tín. Câu thơ có hai nghĩa, ân nghĩa nhà vua Lưu Bang thật thâm sâu, nhưng cũng có nghĩa là thật thâm hiểm, khi cần thì nhường cơm sẻ áo, khi đạt được cơ đồ thì ra tay diệt trừ không thương tiếc..Hiểu nghĩa là thâm hiểm, mạch văn thông suốt với câu sau « treo cung giết chó ». Câu nói của Phạm Lãi trong Sử Ký  Tư Mã Thiên. Việt Vương Câu Tiễn : « Phi điểu tận lương cung tàng, giáo thỏ tử, tu cẩu phanh ». Chim bay hết thì cung tốt bị giấu đi, thỏ chết thì chó săn bị làm thịt. Nói về Câu Tiễn có tướng khi gian khổ thì cùng nhau, khi thành công thì giết hại công thần Văn Chủng. Phạm Lãi biết trước khi thành công, từ quan đi ngao du Ngũ Hồ. Các ông vua dựng nghiệp thời quân chủ, khi thành tựu sự nghiệp thường sợ, nghi ngờ các công thần tài cao hơn mình, không trung thành sẽ  cướp ngôi vua, nên ra tay trước. Hàn Tín trong cảnh này. Tương truyền khi Hàn Tín bị tru di tam tộc, hai người bạn là Tiêu Hà và Khoái Triệt giấu nàng hầu của Hàn Tín đang có mang trong rừng núi khe động phương nam, sau này họ Hàn mới còn nòi giống nhưng đổi thành họ Vi tức một nửa chữ Hàn. Nhà thơ Vi Thùy Linh có lẽ là dòng dõi Hàn Tín lẫn trốn trong khe động Bách Việt.  Núi sông hai nhà Hán, Đông Hán và Tây Hán đã thay đổi với thời gian xưa nay. Qua bến sông Nguyễn Du ngậm ngùi nhớ lại việc cũ. Mây trôi tan tác, cỏ úa tàn bao trùm đất Hoài Âm tỉnh Giang Tô.

QUA SÔNG  HOÀI  NHỚ  HOÀI  ÂM  HẦU

Ngàn vàng báo đáp bữa thanh bần,

Tôi chúa năm năm thật hiểm thâm.

Sẻ áo nhường cơm ơn đức bạc,

Treo cung  giết chó nỡ đành tâm.

Bách Man  khe  động  lưu  con  cháu,

Lưỡng Hán cơ đồ chuyện cổ kim.

Qua bến ngậm ngùi  ôn chuyện cũ,

Mây tan, cỏ úa  đất  Hoài Âm.

Nhất Uyên dịch thơ

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

ĐỘ  HOÀI  HỮU  CẢM  HOÀI ÂM   HẦU

Tầm thường nhất phạn báo thiên  câm (kim),

Ngũ tải  quân thần phận nghị  thâm.

Thôi thực, giải y nan bội đức,

Tàn cung phanh cẩu diệc cam tâm.

Bách man khê  động lưu miêu duệ,

Lưỡng Hán sơn hà biến cổ câm (kim)

Trù trướng giang đầu tư vãng sự,

Đoạn vân  suy thảo  mãn Hoài Âm.

Nguyễn Du đi qua nơi Hàn Tín luyện quân, chua xót cho thân phận Hàn Tín: Trăm vạn cờ xí vượt sông Hoàng Hà lên phía bắc, Dưới đất Yên còn có gươm , giáo chôn vùi.  Việc đã xa xôi trải qua hai ngàn năm. Còn ở bên thành một bãi cát bồi mênh mông. Cùng hàng với bọn Phàn Khoái. Phàn Khoái anh em bạn rể với Lưu Bang, là tướng tiên phong của Hàn Tín. Sau bị giáng từ Sở Vương xuống làm Hoài Âm Hầu do sự nghi kỵ của Lưu Bang. Hàn Tín oán giận bực bội mình ngang hàng với Chu Bột, Quán Anh. Tín qua chơi nhà tướng quân Phàn Khoái. Khoái quỳ lạy và tiễn ra cửa, xưng là thần và nói “Đại Vương lại chịu quá bộ đến nhà thần sao ?. Tín cười mà rằng: “Ta nay hóa ra ngang hàng với bọn Khoái.” (Sử Ký).  Trước mặt vua Hán Cao Tổ, hỏi về tài năng các tướng. Cao Tổ hỏi “Như ta có thể cầm được bao nhiêu quân ?”. Tín đáp: “Bệ hạ chẳng qua chỉ cầm được mười vạn.”. Hỏi: “ Thế còn nhà ngươi cầm được bao nhiêu ?” “Thần thì càng nhiều quân càng tốt.” Lúc bắt Tín, Cao Tổ cười nói: “Càng nhiều càng tốt sao lại bị ta bắt ?” Hàn Tín đáp: “Bệ hạ không thể cầm quân; nhưng giỏi chỉ huy các tướng, vì vậy nên Tín mới bị bệ hạ bắt..” (Sử Ký Tư Mã Thiên)  Khá thương cho ông, phụng sự sơn hà Hán Quốc trải qua mười năm . Nhưng lời thề đền đáp hậu hỉ cho công thần của Hán Cao Tổ chỉ có bọn Giáng, Quán (Chu Bột, Quán Anh) được hưởng mà thôi.

CHỔ  HÀN  TÍN  LUYệN  QUÂN

Vượt bắc Hoàng Hà trăm vạn kỳ,

Ngoài  thành  Yên  cũ giáo gươm vùi.

Hai ngàn năm thoáng xa xôi quá,

Một dãi  bên thành cát sóng  bồi.

Với Khoái cùng hàng đành cam phận,

Nhiều quân càng tốt  vẫn khoe tài.

Khá thương cơ nghiệp mười năm Hán,

Giáng, Quán  đáp đền được hưởng thôi.

Nhất Uyên dịch thơ

Nguyên tắc phiên âm Hán Việt:

HÀN TÍN  GIẢNG  BINH  XỨ

Bách vạn tinh huy bắc độ Hà,

Yên giao địa hạ hữu trầm qua.

Du du sự hậu nhị thiên tải,

Đãng đãng thành biên nhất phiến sa.

Khoái ngũ vị thành cam lục lục,

Quân tiền do tự thiên đa đa.

Khả  liên thập thế sơn hà tại,

Hậu thệ  đồ diên Giáng, Quán gia.

LÊ QUÝ ĐÔN  (1726-1784) người làng Diên Hà, huyện Diên Hà Trấn Sơn Nam ( Nay là thôn Phú Hiến, huện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình) 17 tuổi đỗ Giải Nguyên thi Hương, 26 tuổi đỗ Hội Nguyên và thi Đình đỗ Bảng Nhãn(đệ nhất giáp tiến sĩ, khoa này không lấy Trạng Nguyên) được giao nhiều trọng trách trong triều ngoài trấn. Ông là một nhà Bách Khoa nước ta để lại gần 40 bộ sách.

Đi sứ Trung Quốc, qua Hoài An ông có thăm đài câu cá của Hoài Âm Hầu Hàn Tín, lúc còn hàn vi. Ông viết:  Nghe nói đó là nơi câu cá xưa kia của Hàn Hầu. Nghĩ đến chuyện cũ lòng cảm khái bèn tìm đến  Hoài An, gần huyện Hoài Âm, tỉnh Giang Tô, là đất phong của Hàn Tín, cũng là quê hương Hàn Tín. Nơi đây khi còn hàn vi ông từng câu cá để mưu sinh. Người đời sau có dựng một cái đài nhỏ để ghi nhớ dấu tích. Trời đất mênh mang người anh hùng xa khuất. Sông núi lờ mờ lời thề xưa đã nguội lạnh.  Khi phong tước công hầu cho các công thần vua Hán Cao Tổ có đọc lời thề: “Dù cho sông Hoàng Hà cạn đi chỉ còn như cái đai áo, núi Thái Sơn mòn đi chỉ còn như hòn đá mài, thì đất phong vẫn còn đó, để lại cho con cháu muôn đời sau.” Thế mà vài năm sau, Hàn Tín bị giết tru di tam tộc, tài sản đất phong đều bị tịch thu, nhờ bạn bè che chỡ, còn sót một người vợ lẽ mang thai sinh con trai phải lẫn trốn về khe ộng phương Nam, phải đổi họ Vi, mới còn giòng giống.. Du khách vô tình ca bài “Kích trúc “ gõ vào trúc mà hát, trúc là một nhạc khí thời cổ. Thời Chiến Quốc, khi tiễn Kinh Kha sang Tần hành thích vua Tần Thủy Hoàng, Cao Tiệm Ly gõ trúc, Kinh Kha hát hòa theo “Tráng sĩ một đi không trở lại “ sau đó qua sông Dịch. Việc hành thích không thành, đúng như lời Kinh Kha hát. Lê Quý Đôn dùng hai chữ “kích trúc” để gợi lên số phận bi thảm của Hàn Tín. Tướng quân hối hận đã lên đài nhận ấn phong hầu. Khi Hàn Tín bị buộc tội mưu phản, rồi tru di tam tộc. Hàn Tín hối hận khi xưa đã lên đài nhận tước phong, coi đó là bước đầu để gánh chịu những tai họa sau này.. Những kẻ ở đất Nam Xương hay Tứ Thượng đều là đình trưởng. Khi còn hàn vi Hàn Tín phải nương nhờ một tên đình trưởng. Trung  Quốc ngày xưa trên đường cái quan cứ 10 dặm có một cái đình lớn gọi là trường đình, 5 dặm có một cái đình nhỏ là đoãn đình, trên bến sông có giang đình. Mỗi đình, có nơi nghỉ ngơi, có vài người phu trạm, nuôi năm ba con ngựa, có ống lò để đốt khói phân chồn làm ám hiệu, bình thường công việc   chạy công văn, giấy tờ, hay hiệu lệnh, truyền hịch các quan sai xuống;  phu trạm mang công văn đến trạm tới,  thì trạm ấy đình trưởng cho phi ngựa chạy tiếp. Đình trưởng còn coi cả việc canh phòng, bắt cướp vặt, bảo đảm an toàn đoạn đường mình phụ trách. Ở bến sông, thì giang đình có vài chiếc thuyền để đưa công văn hay đưa quan chức qua sông. Người chỉ huy trường đình hay giang đình được gọi là đình trưởng. Người đình trưởng giang đình sông Ô Giang đã đón Hạng Vũ, đưa qua sông, là người có thuyền duy nhất nơi này. Nếu Hạng Vũ qua sông thì sẽ thoát về Giang Đông  vì quân Hán đuổi theo không có thuyền khác để qua sông; thế mà Hạng Vũ  không qua để mang danh, danh tướng bại trận,  ông tự tử.  Khi cơ hàn, Hàn Tín nương nhờ một đình trưởng ở đất Nam Xương, tên này đối xử với Hàn Tín rất khắc bạc. Về sau Hàn Tín giúp Lưu Bang làm nên nghiệp lớn thành vua Hán Cao Tổ. Lưu Bang cũng vốn xuất thân là một đình trường đất Bái (tức Tứ Thượng hoặc Tứ Thủy, còn gọi là Bái Thượng) ở phía Đông huyện Bái, tỉnh Giang Tô. Kết cuộc Lưu Bang cũng đối xử với Hàn Tín bạc bẽo không kém. Bị  tố giác chứa chấp bạn là  tướng Sở, Chung Ly Muội. Hàn Tín chặt đầu Chung Ly Muội dâng vua Hán . Hán Cao Tổ  lại giả vờ đi chơi  đầm Vân Mộng đến thăm bất ngờ rồi sai võ sĩ bắt Hàn Tín, bỏ vào cũi cho theo sau xe vua. Nếu Hàn Tín có tội ắt  là Lưu Bang phải giết ngay, đằng này Hàn Tín vô tội nên Lưu Bang mới ban lệnh đại xá thiên hạ và giáng  Hàn Tín từ tước vương còn tước hầu.  Sau đó lại mượn tay Lã Hậu lại vu oan cấu kết với Trần Hy và tru di tam tộc.

Ở HOÀI AN THĂM ĐÀI CÂU CÁ HOÀI ÂM HẦU

Rằng chốn Hàn Hầu câu cá đài,

Hoài An chuyện cũ lòng u hoài.

Mênh mang trời đất, anh hùng khuất,

Mù mịt núi sông, thề ước phai.

Du tử  vô tình ca “kích trúc”,

Tướng quân hối hận nhận  phong bài.

Nam Xương, Tứ Thượng đều đình trưởng,

Bạc bẽo một phường cả, hỡi ôi.

Nhất Uyên dịch thơ

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

TRÚ HOÀI AN PHỎNG HOÀI ÂM HẦU ĐIẾU ĐÀI.

Văn thuyết Hàn hầu cựu điếu than,

Tiêu nhiên cảm cố vấn Hoài An.

Kiền khôn không thoát anh hùng viễn,

Sơn thủy vi mang tín thệ hàn.

Du tử vô tình ca kích trúc,

Tướng quân hữu hận hối  đăng đàn,

Nam Xương, Tứ Thượng giai đình trưởng,

Yếm bạc không ta tổng nhất ban.

Thuở  hàn vi, Hàn Tín câu cá không đủ nuôi thân bà phiếu mẫu cho cơm ăn, đã là một điều hổ thẹn cho một thanh niên, nhưng vác một thanh gươm mà chịu chui qua háng một anh hàng thịt giữa chợ, thật là một điều sĩ nhục, xưa nay chẳng có bậc anh hùng nào làm như Hàn Tín cả . Trong  Thủy Hử, các anh hùng  Lương Sơn Bạc  gặp trường hợp như thế, thì giết chết kẻ thách mình và trốn lên núi thành cướp núi, để tránh quan quân truy nả. Hàn Tín lúc đem thân làm tôi cho Hạng Vũ, nhận chức Chấp Kích lang, người vác kích theo hầu. Bỏ Sở về Hán Lưu Bang cho chức  Liên Ngao, chức Tri túc Đô úy cũng không hề mặc cảm, vui vẻ làm tròn nhiệm vụ. Có thể nói Hàn Tín có một sức chịu đựng nhẫn nại tuyệt độ, hơn cả người bình thường. Không thấy nói Hàn Tín học với ai, đọc được sách binh thư nào, nhưng qua cách dùng bình ta thấy Hàn Tín thuộc lào sách Lục Thao, Tam Lược,  Binh Thư của Tôn Vũ, ” không  cần nhìn vào sách ngồi đọc một lược không sai sót một chữ nào Lại đem nhâm , cầm, độn giáp ra nói, miệng như nước chảy mây trôi, chẳng bao giờ dứt”.

Hàn Tín có những sáng tạo riêng  mưu lược của mình, trong lời nói với  Thừa Tướng Tiêu Hà ¨Hán Sở Tranh Hùng tr 157:

“Tiêu Hà hỏi:

– Nước nhà an nguy, quân cơ lợi hại đều do người làm tướng cả, vậy hiền sĩ cho biết đạo làm tướng phải thế nào ?

-Bẩm Thừa tướng, Đạo làm tướng trước trước nhất phải có năm tài và tránh mười lỗi: Năm tài là: Trí, Nhân, Tín, Dũng, Trung.  Trí thì biết cẩn thận, Nhân thì biết thương người, Tín thì không sai hẹn, Dũng thì không ai dám phạm, Trung thì không ở hai lòng. Còn mười điều lỗi:  một là cậy cái dũng khinh thân mình, hai là gặp việc gấp thì nóng nảy, thiếu cẩn thận, ba là gặp lợi thì ham, bốn là vì lòng nhân không dám giết người, năm là ỷ lại sức mình không biết lo xa, sáu là tin mà không phòng, bảy là không chịu thu thập ý kiến mọi người, tám là việc đáng gấp mà do dự, chín là thiên vị thiếu công bằng, mười là lười biếng, chỉ muốn sai người. Nếu có đủ năm tài và tránh được mười lỗi ấy tất là tướng giỏi.

Tiêu Hà hỏi: – Hiền sĩ xem các tướng bây giờ thế nào ?

Hàn Tín đáp: – Nếu Tín tôi làm tướng thì khác hẳn các tướng thời bây giờ. Tất cả đều theo như binh pháp, lấy văn mà dùng, lấy vũ mà định, động thì phát, tĩnh thì giữ. Lúc binh chưa ra thì tĩnh như núi Thái Sơn, lúc binh đã ra thì cuồn cuộn như nước sông Hoàng Hà, biến hóa như trời đất, hiệu lệnh như lôi đình. Mất có thể làm còn, yếu có thể làm mạnh, nguy có thể làm an được, cơ biến không biết đâu mà lường, quyết thắng từ ngoài nghìn dậm, binh uy không để một kẻ nào dòm ngó nỗi, muôn vạn quân, trăm nghìn tướng không chỗ nào sai lầm. Lấy Nhân mà dùng, lấy Lễ mà dạy, lấy Dũng mà khiến, lấy Tín mà thờ. Cái lối làm tướng như thế. Thừa tướng bằng lòng chăng ?

Tiêu Hà thấy Hàn Tín ứng đối như nước chảy, trí tuệ thông suốt, tấm tắc khen thầm và tự nghĩ:

Hán  Vương được người này thật là phúc lớn.” Cái chức Phá Sở Đại Nguyên Soái trừ Tín ra không còn ai hơn nữa.”

Hàn Tín dùng sách binh thư, một cách sáng tạo:  Binh pháp viết :   bày trận dựa lưng bờ sông không đường lui, là việc tối kỵ. Nhưng Hàn Tín  cũng dựa vào binh pháp: Đưa vào chổ chết thì mới sông, đặt vào chổ mất thì mới còn. Hàn Tín quân tinh nhuệ, đóng ở bờ sông thì quân này chỉ có một đường sống là phải đánh để thắng trận. Rồi thừa cơ quân Triệu kéo hết lực lượng đến đánh, Hàn Tín cho hai nghìn quân kỵ bố trí trong đêm tối lẻn vào trại quân Triệu cắm toàn cờ Hán. Quân Triệu đang đánh với quân Hán, nhìn lại thấy dinh trại mình đều có địch kỳ, ngỡ là quân Hán đã phá được Triệu, mạnh ai nấy bỏ chạy.  Thế là quân Triệu  hổn loạn, đại bại, vua Triệu bị bắt sống.

Trong lịch sử Trung Quốc, Hàn Tín được xem là một Nguyên soái chỉ huy tài ba nhất. Từ việc nhỏ đến việc lớn, ông đều là người xuất sắc:

Khi làm chức Liên ngao, coi kho kiểm điểm thóc lúa, tính toán sổ sách, mau lẹ phi thường, không sai một mảy. Những người cai kho thấy Hàn Tín tính toán minh bạch đều sụp lạy thưa: Từ khi có kho đến nay, chúng tôi chưa thấy ai thần toán như ngài. Hàn Tín cho Tiêu Hà biết: Phép toán có nhiều lối, có số tiểu cửu, có số đại cửu. Nếu tinh tường các phép ấy thì dầu bốn bể năm châu cũng chỉ ở trong bàn tính đó. Trước kia vua Phục Hy chỉ có 61 quẻ, mà thiên biến vạn hóa, việc vũ trụ không thoát ra ngoài các quẻ ấy được.

Khi giữ chức Tri túc Đô Úy coi sổ sách lương tiền, thu nộp chi phí. Khi trước những quan Đô Úy đến nhận chức, hay ăn lễ các người  nhà kho, nên chúng bảo thế nào thì nghe thế ấy, dân tình thán oán, mất lẽ công bằng. Nay Hàn Tín đến, trước hết ra giấy yết thị, tra xét những kẻ nhũng lạm trước kia, cách chức tất cả, rồi đưa vào những người đứng đắn, vì vậy trăm họ hoan hỉ, tranh nhau nộp thuế. Chỉ trong nửa tháng mà thuế khóa nộp hết không thiếu một đồng tiền nào.

Hàn Tín khi gặp Tiêu Hà đã tỏ ra là một người đi tìm danh vọng, Thừa tướng Tiêu Hà tiếp đón chưa phải lễ ông toan bỏ đi:  “Tôi vào tiếp Thừa tướng với ý nghĩa cao xa, chứ đâu phải vì bả vinh hoa, đem thân quy lụy ? “  Hàn Tín  nhẫn nhục đến tận cùng, khi chưa tìm ra kẻ dùng mình. Nhưng khi chiếm nước Tề, Hàn Tín đã xin phong làm Tề Vương, khiến cho Lưu Bang nổi giận, như thế Hàn Tín đã không khéo trong cách cư xử làm lộ ra chân tướng:  Hàn Tín mưu tìm chức tước, đất phong, giàu sang danh vọng cũng như bao người đời chứ không vì lợi ích của nhân dân, đánh đổ nhà Tần tàn bạo, ủng hộ một vị vua nhân đức lên ngôi mang lại ấm no thịnh trị cho dân chúng.

Hàn Tín đem thân phò Hạng Vũ, được Phạm Tăng thấy tài năng, Hàn Tín cũng đã nhiều lần dâng thư điều trần nhưng Hạng Vũ không nghe, không để ý đến. Cái uy tín  của một anh chàng luồn trôn giữa chợ, cái quá khứ một anh chàng cù bơ cù bất, không nuôi nổi bản thân, đã làm hại Hàn Tín, khiến cho lời nói Hàn Tín bị coi không ra gì !  Nếu Hàn Tín sống đời nay, cũng không ai dám đưa Hàn Tín  một anh chàng thất nghiệp, không bằng cấp địa vị, lên làm Cố vấn Thủ Tướng chính phủ, thì nói gì đến Nguyên Soái chỉ huy toàn quân đội.

Phạm Tăng  quân sư của Hạng Vũ. Trương Lương, Hạ Hầu Anh, Tiêu Hà quân sư của Lưu Bang là những vị quan sát hạch thấy được tài năng và ý chí của Hàn Tín.

Hàn Tín đã chứng minh tài năng mình như lời nói với Đằng Công Hạ Hầu Anh: “Văn võ song toàn, thông hiểu vũ trụ, ra tướng vũ, vào tướng văn, trăm trận trăm thắng, lấy thiên hạ như trở bàn tay, đủ sức phá Sở Nguyên Nhung..”

Hàn Tín qua sông phá được quân Chương Hàm, bắt Ngụy Vương, giết Hạ Duyệt, phá quân Triệu chiếm được Quan Trung. Hàn Tín bách chiến, bách thắng, mưu lược có thừa. Hàn Tín dùng bao cát ngăn sông Bạch Thủy cho nước ngập thành Phế Khâu, phá quân Chương Hàm.  Hàn Tín lợi dụng trận thủy bối, dồn sinh mạng tướng sĩ  Hán  vào thế bí, để cho tướng sĩ vì bảo vệ sinh mạng và thắng địch quân, phá hai mươi vạn quân Triệu, Hàn Tín chế ra chiến xa gỗ vây kín Hạng Vương..  thật là mưu trí hơn người..  Tuy nhiên Hàn Tín đã phản Lịch Sinh làm Lịch Sinh bị vất vào vạc dầu, ép Hán Vương phong mình làm Tề Vương, Hàn Tín đã biểu lộ tham vọng quyền hành rõ rệt từ lúc đó. Hàn Tín chỉ là một vị Nguyên soái chỉ huy, mưu trí đánh giặc  tài giỏi, nhưng về mưu thuật chính trị, Hàn Tín tỏ ra thua kém Lưu Bang, Lưu Bang chỉ dùng chức tước quyền lực đã thoả mãn tham vọng chinh phục được  Hàn Tín, cho nên Hàn Tín khi làm Tề Vương  không nghe lời Khoái Kiệt chia ba thiên hạ. Nếu không  thì không chắc gì Lưu Bang có thể thắng, Lưu Bang không nghe lời Trương Lương, Hàn Tín, dùng Ngụy Báo làm Nguyên Soái kết cuộc đại bại thảm hại suýt chết. Không có Hàn Tín, Hạng Vũ không bị Lưu Bang đánh bại. Hán Vương nổi giận khi nghe Hàn Tín đòi phong làm Tề Vương, nhưng sớm nghe lời Trương Lương vì biết rằng chỉ có Hàn Tín mới diệt nổi Hạng Vũ.  Không có Hàn Tín, Lưu Bang không đủ tài để đưa Hạng Vũ vào thế cùng. Cái khôn khéo của Trương Lương biết Hàn Tín là kẻ ham danh vọng, phải ban cho Hàn Tín đầy đủ danh vọng thoả mãn lòng khao khát của Hàn Tín, tất Hàn Tín không đòi hỏi nữa mà trung thành với nhà Hán.

Nhiều người phê phán Lưu Bang là vị vua xảo trá nhất trong lịch sử Trung Quốc. Cái chết của Hàn Tín, chỉ nằm trong danh sách dài các công thần bị  Lưu Bang Hán Cao Tổ giết:  Hàn Vương Tín (dòng dõi vua Hàn, trùng tên họ với Hàn Tín), Lương Vương Bành Việt, Hoài Nam Vương Anh Bố, Yên Vương Tang Đồ, Yên Vương Lư Quán, Triệu Vương Trương Ngao, Trần Hy..                  Lê Quý Đôn phê phán Lưu Bang là một anh đình trưởng bội bạc, chẳng kém gì anh đình trưởng Nam Xương. Cái tội của Hàn Tín là lập nên công trạng quá to, lấn áp cả ông vua  Hán Cao Tổ, khiên ông ăn ngủ không yên.  Hàn Tín chưa phản bội, nhưng Lưu Bang  đã lo lắng  cách chi chống lại. Những tội gán cho Hàn Tín, không có bằng cớ gì rõ ràng, nếu có tội cớ gì  bắt Hàn Tín trói bỏ vào cũi tù rồi giả vờ đại xá thiên hạ, rồi lại tha giáng còn tước hầu. Lưu Bang chỉ  vì đề phòng đã phải tước dần quyền lực Hàn Tín. Từ Tề Vương một nơi có quyền lực một giang sơn rộng lớn, rơi xuống Sở Vương không nhiều  quyền lực, rồi bị  mưu giả vờ đi chơi đầm Vân Mộng, bắt trói rồi lại tha, giáng xuống hai tước còn Hoài Âm Hầu.  Hán Vương nghe lời Trần Bình không thể đem quân đến bắt Hàn Tín, vì quân Hán Vương đánh không lại Hàn Tín, và đẩy Hàn Tín vào thế làm phản, trong thế yếu bị tước hết quyền lực. Hàn Tín đã chua cay khi thấy mình ngang hàng với  Phàn Khoái với  hai tướng Chu Bột , Quán Anh. Cuối cùng nhân loạn Trần Hy lấy cớ Hàn Tín thông đồng với Trần Hy, việc thông đồng với Trần Hy chỉ là bức thư ngụy tạo không có bằng cớ rõ ràng chi cả. Lưu Bang đã để cho vợ là Lữ Hậu ra tay tru di tam tộc và phân thây xé thịt. Xưa nay những  Đệ nhất công thần thường bị rơi vào hoàn cảnh như Hàn Tín. Từ Văn Chủng đối với Việt Vương Câu Tiển đến Lâm Bưu đối với Mạo Trạch Đông. Tại nước ta triều Lê : Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn không thoát khỏi. Triều Nguyễn theo phò vua Gia Long từ thuở  khởi nghiệp một danh sách dài  các công thần  từ Đỗ Thành Nhân, đến Trung quân Nguyễn Văn Thành thống lĩnh toàn quân đội, Binh Bộ Thượng thư Đặng Trần Thường,  Tham Hiệp Yên Quảng Trần Phúc Hiển (chồng Hồ Xuân Hương) không thoát khỏi số phận tương tự.

Vua Trần Anh Tông (1276-1320) tên húy Trần Thuyên có viết một bài thơ về Hán Cao Tổ Lưu Bang. Nhà vua vì lòng trung quân đã  bênh vực Hán Cao Tổ, nhà vua cho rằng không phải Cao Tổ ơn đức bạc, mà do Hàn Tín, Bành Việt tự hại mình .

HÁN CAO TỔ

Pha Tần, diệt Hạng cứu sinh linh,

Sai khiến anh hùng nghiệp lớn thành.

Đâu phải nhà vua ơn đức bạc,

Hàn, Bành làm chết lấy Hàn , Bành.

Bản dịch Nguyễn Đổng Chi

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

HÁN CAO TỔ

Tru Tần diệt Hạng cứu sinh linh,

Giá ngự anh hùng đại nghiệp thành.

Bất thị Cao Hoàng ân đức bạc,

Hàn, Bành chung tự khí Hàn Bành.

Thơ Văn Lý Trần tập I I.nxb KHXH Hà Nội 1989 tr 570.

Paris , 6-4-2016

PHẠM TRỌNG CHÁNH

Đỗ Anh Thơ( Docago)(Hồi ky) : Đền Mưỡu (*)

   (*) Có người gọi là đền “Miệu” . tên chữ là Độc Lôi.  ” Mưỡu hay Miệu là do chữ Miếu ( 庙 ) mà ra.

Năm 1945,  thằng Thinh mới lên 10 đang học lớp nhì đệ nhị (cours moyen deux) trường cấp 1 toàn câp duy nhất của huyện Nghi Lộc. Trường do thày Ước vừa mới về thay thày Nguyên làm Hiệu Trưởng. Thày kiêm luôn giáo viên đứng lớp Nhì.

Hè năm đó, chính phủ Trần Trọng Kim có chủ trương cho cả hai lớp Nhất và Nhì cùng thi lấy bằng Certificat d’etude Primaire toàn tỉnh, dự định tổ chức tại Nam Đàn.

Thinh còn bé lắm, được mẹ thuê một anh tên là Xán cõng từ Nghi Lộc lên Nam Dần để dự thi . Được đi thi cùng các anh lớp trên, Thinh vừa mừng vừa lo. Bố Thinh thì đang ốm nặng .Xế trưa hôm đó, hai anh em vừa lên đến Cầu Mưỡu thì được tin vì chiến sự nên kỳ thi bị hoãn. Đến lúc đó Thinh mới thở phào nhẹ nhõm. Anh Xán mở cơm nắm ra ăn và mua cho Thinh một đĩa bánh mướt to. Bánh tráng dày có rất nhiều hành lá và mộc nhĩ rất ngon, nên cậu ta chén sạch trơn mà vẫn còn thom thèm.

Ăn xong, hai anh em vào ngã lưng trước thêm của đền .Phía sau đền, trên núi là một cánh rừng rậm rạp đã có đến mấy trăm năm, mọc từ chân cho đến gần ngọn núi đá cao hơn 100 mét.

Thinh nhớ như in, nhớ đến tận bây giờ, tuy hắn đã trở thành lão Docago lẩm cẩm , rằng lúc đó trước đền có một cây cau hai ngọn. Ai cũng cho là điềm lạ và thiêng…. Dân quanh vùng thường từ thị trấn Nam Đàn xuống và từ cổng Chốt lên cúng bái, khói hương nghi ngút.

( còn nữa)

06/4/2016

Đỗ Anh Thơ

 

          Sưu tầm bài đọc thêm:

                    Đào Tam Tĩnh: Về lai lịch một vị tướng được tôn vinh ở Đền Miệu

 

Đền Độc Lôi, còn gọi là Đền Miệu, thờ một vị tướng quân thời nhà Lý có công đánh giặc Tống và Chiêm Thành, Ai Lao. Đền được nhân dân lập để thờ ông khi ông đang sống. Để làm sáng rõ thêm công tích và sự nghiệp vị thần Độc Lôi, chúng tôi xin cung cấp một số tài liệu quý mới phát hiện được.
Tài liệu chữ Hán “Bách thần sự tích” (sự tích 100 vị thần) ở xứ Nghệ, trang 4, có ghi về đền thờ và vị thần Độc Lôi.Thần tích này được ghi chép vào cuối triều Nguyễn. Thần được thờ chính miếu ở Đền Miệu (dưới chân núi Độc Lôi). Người dân ở hai xã Hữu Biệt (nay là xã Nam Giang) và xã Trường Cát (nay là xã Nam Cát) cùng có trách nhiệm phụng thờ. Đền Độc Lôi bị bom Mỹ đánh tan, rất may một số đồ tế khí, tượng, được dân hai xã đưa về hai ngôi đền xã Nam Giang và Nam Cát để thờ. Đáng chú ý, trong các di vật còn lại ở “Chỉ Thiện đàn” (còn gọi là Đền Mĩ Thiện), còn lưu một số bản sắc phong cho vị thần Độc Lôi họ Phạm.
Qua các tài liệu trên, chúng ta chỉ biết thần núi Độc Lôi là Phạm Lãnh binh, tức Lãnh binh họ Phạm, chưa rõ tên thật của Thần, chức vụ của thần là Lãnh binh Phiếu Kị uý, Thượng tướng quân Uy liệt hầu. Thần rất linh thiêng, được sắc phong với nhiều mĩ tự, trợ hiệu để phù hộ cho nhân dân và bảo vệ quốc gia.
Rất may, gần đây có ông Trần Đại Sỹ, một người Việt đang sống ở nước ngoài, là đoàn viên, rồi Trưởng đoàn đoàn trao đổi Y học Pháp – Hoa, nhiều năm công tác tại Trung Quốc. Ông đã có công đi các thư viện lớn ở Trung Quốc để đọc các tài liệu sử học nước nhà, nhất là thời Lý chống Tống. Ông đã gặp hầu hết các gia đình có các nhân vật quan trọng liên quan đến cuộc chiến tranh Tống – Việt để xin đọc gia phả, tài liệu. Ông đã được đọc 2 cuốn nhật ký hành quân của 2 tướng Tổng chỉ huy cuộc xâm lăng Đại Việt (1076- 1077): Quách thị Nam chinh của Quách Quỳ và Triệu thị chinh tiễu Giao Chỉ ký của Triệu Tiết. Ông Nguyễn Bá Mão tóm lược lai lịch của vị thần Độc Lôi, được ghi chép trong các tài liệu do ông Trần Đại Sỹ cung cấp (đã đăng trong Tạp chí Văn hoá Nghệ An gần đây). Chúng tôi xin khái quát lại như sau:
Thần tên thật là Phạm Trọng Y (1052 -1077), chưa rõ quê quán (?). Cha là Phạm Trọng Khâm, mẹ là Quách Thị Phương. Ông mồ côi cha mẹ lúc 7 tuổi, được cậu đưa về nuôi và đổi tên là Quách Y. 10 tuổi cậu mất, ông bơ vơ phải đi ăn xin độ nhật tại Thăng Long. Ông kết thân làm anh em với 6 người khác cùng cảnh ngộ: Trần Di (Vũ Thư, Thái Bình), Dương Minh, Triều Thu (Cao Xá, Nghệ An), Mai Cầm (Vạn Phần, Nghệ An), Ngô Ức (Đường Lâm, Sơn Tây), Tạ Duy (An Lĩnh, Thanh Hoá). Họ được nhà sư Minh Không nhận làm đệ tử và gửi cho Hoàng tử Lý Chiêu Văn làm con nuôi. Họ được Vương Phụ Hoàng của Hoàng tử dạy cho văn võ song toàn. Họ tập luyện ở Hồ Tây và lặn giỏi như giao long. Họ lại được Ỷ Lan phu nhân Lê Thị Yến Loan nhận làm con nuôi và được giới thiệu tài năng với nhà vua. Vua đã ban cho họ mỹ hiệu là “Tây Hồ thất kiệt”. Quách Quỳ ghi trong Quách Thị Nam chinh về 7 ông là “Giao Long thất quái” và sách Triệu Thị Chinh Tiễu Giao Chỉ ký lại gọi họ là “Giao Chỉ thất Long”. “Tây Hồ Thất Kiệt” đã tập hợp được 500 thiếu niên cùng khổ, đem nuôi dạy họ thành đội quân có bản lĩnh, bơi lội dưới nước như rái cá, có tài thuỷ chiến. Vua Lý Thánh Tông đã ban cho họ mỹ hiệu “Giao Long Tây Hồ”. Năm 1069, đội Giao Long theo 7 vị hộ tống Vua Lý Thánh Tông bình Chiêm, lập nhiều công trong các trận Nam Giới, Nhật Lệ, Thi Nại, Phan Rang. Trở về, 7 vị được phong tước bá, giữ chức Đô Thống, mỗi vị được chỉ huy hiệu Thiên Tử Bình. Phạm Trọng Y được giao chỉ huy hiệu Thiên Tử Bình Bổng Thánh. Ỷ Lan thần phi hỏi vợ cho 7 vị, hỏi cho Phạm Y tiểu thư Phạm Phương Tiên, con quan Kinh lược Ân và Sứ trấn Thanh Hoa Phạm Nhật Chiêu.
Một lần dẫn quân đi đánh Chiêm Thành, Phạm Trọng Y cho quân dừng nghỉ ở Rú Miệu. Vùng Rú Miệu lúc ấy rừng rậm hoang vu, có nhiều thú dữ, ông đã cho quân dùng nỏ lớn mã não, hoàng thạch tiêu diệt hết đàn chó sói, cứu nạn cho dân. Dân biết ơn, đã lập đền thờ sống ông ở Rú Miệu.
Năm 1075, để chặn trước âm mưu cướp nước ta, Vua Lý đã cho quân vượt biên giới tấn công các châu Ung, Liêm, Khâm, Dung, Nghi, Bạch của nước Tống. “Tây Hồ Thất Kiệt” đã theo Lý Thường Kiệt Bắc chinh, lập được công lớn. Bảy vị cùng được phong Đại tướng quân tước hầu. Phạm Trọng Y được phong Minh uy Đại tướng quân, tước Minh Tâm hầu và vợ là Nhất phẩm phu nhân.
Năm 1076, bảy vị cùng quân sĩ đánh trả quân Tống những trận kinh thiên động địa ở trận tuyến sông Như Nguyệt, buộc quân địch phải rút lui. Cả 7 vị và phu nhân “Tây Hồ Thất Kiệt” đều hy sinh oanh liệt ngay tại trận tuyến!
Sau khi hết giặc, bảy vị được truy phong tước Đại Vương, các phu nhân được phong Quận chúa và được triều đình truyền lập đền thờ. Ông Phạm Trọng Y được truy phong Minh uy Lôi trấn Đại Vương và phu nhân được truy phong Trang Thanh Quận Chúa. Nhà vua cho lập đền thờ ông ở Rú Miệu và ban ruộng cho nhân dân địa phương để hương khói.
Đền Độc Lôi sơn thần Phạm Trọng Y bị san phẳng từ lâu, nhưng khu nền di tích còn lại phía trước bãi đá cũ và gần Cầu Miệu, cần được xây dựng lại để tôn vinh một nhân vật có công lao với dân tộc, đất nước. Ông Tổng Giám đốc hãng Bia Sài Gòn, chủ đầu tư Nhà máy bia Cầu Miệu, đã có dự định cho xây dựng lại Đền Miệu. Đấy là việc làm cần được ủng hộ!

Đào Tam Tỉnh – Thư viện Nghệ An