TMCS : DẠO ĐẦU TTTB@ No94

 

Kì này chẳng phải bắt đầu với một tấm ảnh TMCS chụp hay một bức tranh TMCS sĩ vẽ mà Dạo đầu TTTB@ No94 xin “khai mào” để quý vị thư giãn trước khi lạc vô “mê cung” văn xuôi tràng giang đại hải” của mình bằng một bài VÈ NHẬT TỤNG  VÔ TẬN do TMCS  vào thoáng chốc  ngẫu hứng đã siêu tốc “bịa” ra trong khoảnh khắc chưa đầy “vài  chớp mắt”, cũng vẫn là do cảnh “nghèo”, phải quà cáp bằng “lao động” cây nhà lá vườn vậy :

                                       … … …

                            Đời vui, ta có quản gì,

                Muôn phương y hẹn, đến kì  tiến dâng.

                        Mọi điều góp ý xin Vâng,

                Được nhời khen  cũng lâng lâng nức lòng. 

                          Lẽ nào “xe cát biển Đông”,

               Nhọc lòng rồi sẽ thành công có ngày.

                          Mấy lời tâm sự giãi bày:

               Thân tầm rút ruột đêm ngày quản chi…

                                     … … …

 Xin mời quay lại câu đầu theo “nhịp” 6/8 – lục / bát –  moderato –  vần “ i “ liên chi hồ điệp – 连枝 : bướm bay hết cành này sang cành khác… )

                       

Phỏng vè :  Con kiến mà leo cành đa,  leo phải cành cụt… 

… miễn là bạn đọc vui vui, TMCS chẳng quản gì và …đến hẹn lại lên “Hầu chuyện”, “ Dâng Thơ” ,”Tiến Văn”, “Tặng tranh”, “Trao ảnh” và “Biếu Vè “…… Xin kính thỉnh chư vị …            

                                                        X

Thật là vô cùng cảm động, ngay trong ngày Dạo đầu TTTB@ No 93 ra mắt bạn đọc với nội dung “thám tử nửa mùa” TMCS học đòi phương pháp tư duy của Arsène Lupin, Sherlock Homes và Poiret truy tìm dấu vết trong một số bài thơ  của Nguyễn  Bính để xác minh mối tình NB-AT đã có hơn một trăm phản hồi nhiệt liệt hoan nghênh bài viết vừa “thi vị” vừa “li kì” của TMCS. Câu chuyện không mới toanh, sự kiện cũng cũ mèm, nhưng bài viết đã hấp dẫn bạn đọc  vi theo ý kiến trong  các phản hồi là do viết khá “kung fu” và có nhiều tìm tòi, dẫn chứng mạch lạc. Bạn đọc trong ngoài nước, nhiều lứa tuổi đều thấy TTTB@ thay đổi cách viết như vậy là rất hấp dẫn. 

Điều may mắn nhất với TMCS là toàn thể bạn đọc trong các phản hồi đều hiểu rõ mục đích việc làm này của TMCS không nhằm “hút khách” cho TTTB@ mà chỉ là một “thủ pháp” để giúp bạn đọc “thấm thía” hơn nữa  mảng thơ TÌNH đầy tính Nhân văn và nghệ thuật đỉnh cao của thi nhân Nguyễn Bính. Bài viết cũng chủ yếu nhằm nêu bật thi tài NB chứ ko hề có ý định phê phán nữ sĩ Anh Thơ. Bạn đọc hiểu như vậy là điều rất tâm đắc với TMCS. Hi vọng trong những phản hồi  tiếp  theo cũng vậy, sẽ không có ai hiểu sai mục đích cách viết  này của TMCS trên TTTB@.

Xin trích một đoạn phản hồi rất vô tư về nội dung viết liên quan đến các nhà thơ Vn và cuộc đời họ, do một cựu chiến binh Mỹ  đã không bỏ sót một số TTTB@ nào đã viết :

“ …Bài viet tôt, đa connect thanh công  ba nhà trinh thám Number 1 của Pháp, Anh và Bi vào cac bài thơ tình yeu của ông Binh Nguyên liên quan đen cuộc tinh yêu với bà AT. Vợ tôi là mọt người trí thức Vietnam , cư nhân ĐH  Sai gon, cũng chi biet vè  ông Binh Nguyen và bà AT la hai nguoi viet thơ gioi, nhưng không hay biet ho còn là hai người yeu cua nhau. Các cau tho ma TMCS trich ra, vo tôi cung khong nhơ . Chung tôi cung nhau đọc, vợ tôi rát like. Tôi càng like hơn ba ây. Đè nghi  khong   lam ngăn đi, chi tiết nào cùng la có  ich  cho chung tôi…

 Chào chân thanh.”

Nhiều bạn – nhất là các bạn nước ngoài và VN hải ngoại có lòng yêu mến thơ Việt-  có thể chưa đọc truyện hoặc xem phim về ba nhà thám tử , thậm chí chưa biết chút nào về mối tình NB- AT, cũng vẫn rất hào hứng với phong cách phân tích rất lôgich về các “từ khoá” trong một loạt bài thơ đỉnh cao   của NB để đi đến KL một cách rất thuyết phục.( Từ khoá – key word- chả biết trong thực tế người Nga, người Pháp có dùng những từ Ключевое слово hay mot-clé không, hay chỉ là TMCS hoang tưởng, từ Ăng-lê suy ra? người Tàu thì chắc chắn gọi key word là 关键词 quan kiện từ : từ then chốt, nêu bật ý tứ quan trọng). Một số độc giả rất thích thú và muốn hỏi kinh ngiệm của TMCS để tiếp tục tự mầy mò nghiên cứu các mối tình khác của NB với các nhân vật như Lan, Uyên, Oanh, Dung, Nhi, Trúc…v.v… : làm thế nào để trong mênh mông bát ngát thơ tình của NB tìm ra được những bài, những câu, những từ key word làm “bật” ra được những dấu vết bằng chứng không thể phủ nhận liên quan đến kết luận về từng mối tình . 

Theo TMCS, trong chuyện này, ta phải theo nguyên lí : không có lửa sao có khói – từ khói sẽ truy ra lửa, rồi xác minh lửa  thật hay lửa ảo… 

Thực tế  từ khi cụ AT xuất bản ba tập hồi kí văn học mang tên : Từ bến sông Thương, Tiếng chim tu hú  và Bên dòng chia cắt, trong đó có nêu ra sáu cuộc tình, người đọc mới để ý  đến nội dung mỗi cuộc tình do chính cụ là người trong cuộc viết ra dưới thể “hồi kí”- nghĩa là cơ bản  câu chyện đã có thật chứ không phải hư cấu như trong các thể loại văn xuôi khác.  Các cuộc tình ấy vốn là chuyện privacy (Riêng tư), dù hồi  cụ cùng các nhân vật hữu quan còn son trẻ dư luận đương thời có tò mò, biết được ít nhiều các mối quan hệ yêu đương giữa các cụ với nhau thì chuyện trong hồi kí có viết hay không vẫn là tuỳ ý tác giả, thí dụ cụ không nhất thiết phải viết đủ sáu cuộc mà có thể lược bớt, thậm chí “lờ tịt” chả viết cuộc nào, tất nhiên gọi là hồi kí văn học thì cụ có thể  hư cấu (bịa thêm cho hấp dẫn) một vài chi tiết vô thưởng vô phạt trong mỗi cuộc tình,  nhưng cụ  bắt buộc phải tôn trọng”người trong cuộc”, tránh đề cao bản thân để khỏi bị chê trách là đã gây ra ấn tượng không hay cho người đọc…  . Riêng chuyện tình NB-AT quá nhiều nhân chứng đã phát hiện những nội dung bất cập và đưa lên báo chí dồn dập, khiến TMCS phải lùng sục đọc đủ ba tập hồi kí và ít bỏ sót các “phản ứng” của dư luận thời đó. Khi soạn Dạo đầu No93, TMCS chỉ việc “lim dim” nhớ lại  và khi “bí” mới lên mạng tra cứu thẩm định…Trong khi viết  lại, TMCS đã cố ý loại bỏ những lời lẽ gay gắt phê phán nữ sĩ AT…Cả truyện ba nhà thám tử trên TMCS cũng chỉ nói về tài ba của họ…Tóm lại, khi đóng vai “thám tử”, TMCS cũng đã phải chọn những câu thơ dẫn chứng chặt chẽ, qua các tình tiết đã minh xác  trong cuộc tình NB-AT, tuyệt đối trung thực không dám hư cấu chút nào… đề phòng nếu bị “truy vấn” đều có thể nói có sách , mách có chứng cả ! 

“Khói” đã bị TMCS phát hiện từ những ý kiến trái nhau giữa dư luận thời đó với nội dung cuốn hồi kí của nữ sĩ AT. Nhiều bài báo thời đó đã điểm danh nhân chứng, sự kiện, thi phẩm của NB để xác minh rõ quan hệ NB-AT. TMCS đã ghi nhận và tự đặt câu hỏi :tại sao AT không có nửa câu thơ nào về NB và đã tự giải đáp: mới chỉ làm thơ tả cảnh đồng quê mà AT đã bao lần chịu” đòn roi ” của nghiêm phụ, sao dám làm thơ TÌNH. Như vậy là không phải TMCS đã bỏ sót một vế như  một phản hồi cá biệt đã gợi ý. Tất nhiên khi đã lần ra một sợi khói, thì sẽ đễ dàng tìm thấy cả đám khói, rồi cả ngọn lửa nơi đám khói xuất phát.

TMCS sẽ tiếp tục hầu quý vị về đề tài thơ TÌNH và người TÌNH trong thơ NB, nhưng sẽ quay về cách làm truyền thống và trút bỏ phong cách  “Thám tử” ! Lí do rất đơn giản : Các trường hợp sau không có “mô típ” (motive – motif ) rắc rối như trong tình sử NB-AT, vả chăng “món ngon” dùng lại ngay sẽ nhàm chán, dù là sơn hào hải vị ! Xin đưa ra cảnh báo với quý vị :TMCS rất dễ bị lan man khi cao hứng, quý vị ngán đâu, xin tuỳ nghi nghỉ đó…hết mệt lại đọc tiếp…

                                                    X

Nhiều người quen biết NB kể rằng: NB có những chiếc hộp bánh quy bằng sắt tây, trong đó lưu trữ rất nhiều thư từ của người hâm mộ, đặc biệt là của “phái Đẹp”. Những lúc rảnh rang, NB thường mở hộp “tình cảm” ra đọc và cảm hứng thơ của vị thi sĩ đa tình này thường được khêu gợi và thăng hoa từ những bức thư đó…để rồi những bài thơ tình lai láng khởi nguồn từ những bức thư trong các hộp đó của NB cũng được cất giữ chung  trong cùng một kho báu .

Trong cái kho báu tí hon đánh số No1 có một bài thơ  bốn câu đầu đời, tất nhiên là thơ TÌNH ĐẦU, lúc NB mới 14 tuổi do chính NB là tác giả- (Xin quý vị đừng lạ : Hoàng Cầm lúc 8 tuổi đã “giác ngộ” sớm mà  “phải lòng “ bà chị họ 16 tuổi, có thế mới có bài thơ Lá Diêu bông , có dịp TMCS sẽ hầu chuyện quý vị, cả chuyên  sớm yêu của thi sĩ bên Tây nữa , đại để vắn tắt: Ở I-ta-li-a có thiên tình sử của Dante Alighieri – thường gọi tắt: Dante – khi mới 12 tuổi gia đình nhắm cho Dante một đám danh giá  thì  phát hiện Dante đang yêu một cô bé lên 9 tên là Beatrice Portinan chỉ sau một cái nhún chào điệu nghệ của cô bé ấy. Nếu không có mối tình đầu đời này thì người I-ta-li-a đâu có được thi phẩm tuyệt vời LA VITA NUOVA – La vie nouvelle: Cuộc đời mới- để mà tự hào suốt mấy thế kỉ với châu Âu và thế giới ! ) Cái nhịp rung đầu tiên có phần NGẪU NHIÊN, ĐỘT NGỘT của TÌNH YÊU trong trái tim niên thiếu cuả NB,  người Pháp thường gọi là coup de foudre , còn  tiểu thuyết diễm tình của Ăng-lê gọi là Love at first sight (Tình yêu trong ánh mắt đầu tiên), người Nga cũng có một cụm từ rất hay mà TMCS quên khuấy mất, quý vị nào còn nhớ xin mách giúp bảo giùm, chả lẽ lại máy móc mượn của Ăng lê : любовь с первого взгляда …( thực ra thì “có tuổi” mà “bất thình lình trúng “đòn” tình”   người Tây cũng vẫn cứ gọi là bị coup de foudre, kiểu như ở ta gọi là  SAY NẮNG ! cụm từ này có thể dùng cho bất kì lứa tuổi nào ?! )

Theo TMCS, bốn câu “lơ tơ mơ THƠ” đầu đời (bên dưới) đã trở thành  Xput-nhích No 1 để sau đó liên tục vút lên bàu trời thi ca Việt nam những thi phẩm bất hủ như Cô lái đò, Cô hái mơ và cao trào là Lỡ bước sang ngang… Mấy cái hộp bánh quy kia  – theo tưởng tượng của TMCS chẳng khác nào những  kho TÊN LỬA VŨ TRỤ  mang đầu đạn  TÌNH YÊU của NB lấy trái tim của nhà thơ ĐA TÌNH này làm BỆ PHÓNG !

Bốn câu thơ thần kì, lãnh ấn tiên phong trong trăm ngàn câu thơ TÌNH bất hủ của NB ấy lại  đơn sơ nhất , mộc mạc nhất, chẳng hề chau truốt tí tẹo nào: 

Em ở cõi trần hay cõi tiên

Phủ đền nhang khói nức hương em

Xin đi chầm chậm cho theo với

LỘC THÁNH DÂNG NGƯỜI MỘT TRÁI TIM.

Đơn giản mà Tuỵệt vời, có giai nhân, mỹ nữ nào mà không bị “níu” chân !!! Bản thông điệp TỎ TÌNH THẦN THÁNH này không có tựa đề, đến sư phụ của Arsène Lupin, Sherlock Homes, Poiret…cũng bó tay  không thể điều tra nổi lai lịch xuất xứ, xác định cụ thể đối tượng  NGHI CAN , huống hồ “tép riu” nửa mùa như TMCS, đã vậy chi còn nước phải lắng nghe đích thân NB tâm sự qua ghi chép của một người bạn ông:

“Làng Vân Cát quê mình có Hội Phủ Giày thật tuyệt, từ bé mình đã mê những sắc màu xanh đỏ tím vàng của lễ hội tưng bừng, mê hát chầu văn, mê những buổi lên đồng của các con nhang đệ tử, mê quá nên nhiều khi quên cả về nhà. Có thể nói màu sắc âm thanh của lễ hội mãi về sau vẫn còn ám vào thơ mình, gợi lên cái hương vị hồn quê. Năm ấy mình mười bốn tuổi, đầu tháng Ba Âm Lịch về chơi hội, mưa bay cuối xuân đưa chân phơi phới, đang ngồi xem hầu bóng, chợt thấy một cô gái chắc cũng ang áng tuổi mình, mặc áo cánh sen, thắt lưng hoa lý, chít vành khăn nhung, thà chiếc đuôi gà sau gáy, dáng dong dỏng cao, bước đi thanh thoát, y như vừa bước ra từ một bức tranh tố nữ. Người đi bên cô dáng chừng là mẹ, mặt phúc hậu, miệng luôn lẩm nhẩm như tụng kinh. Mình vội đi theo, khi đi ngang qua, nhìn khuôn mặt trái xoan của cô, nước da trắng hồng, mình ngơ ngẩn cả người. Cả buổi ấy, mình cứ đi theo mẹ con cô, lạy cùng lạy, khấn cùng khấn, đôi khi ghé sát bên cô, mong được cô nhìn đến, nhưng cô gái dịu dàng mà nghiêm trang quá, chỉ có một lần đuôi con mắt cô khẽ chạm vào cái nhìn của mình rồi quay vội đi. Phủ ở giữa, một bên chùa, một bên đền, khách thập phương nối nhau đi từng dòng, khói hương chỗ mịt mù, nơi thoang thoảng, mọi thứ đối với mình đều như mơ hồ, chỉ có bóng cô gái là không rời khỏi mắt mình.

Mình theo riết cô ấy từ Phủ Giầy (làng Vân Cát) sang Phủ chính (làng Tiên Hương), đến ngày thứ tư thì lén giúi vào tay cô mấy câu thơ, đến nay vẫn chưa quên:

Em ở cõi trần hay cõi tiên

Phủ đền nhang khói nức hương em

Xin đi chầm chậm cho theo với

Lộc thánh dâng người một trái tim

Hồi hộp và vui sướng nhất là cô nhanh nhẹn cầm lấy mảnh giấy, mắt cô ngó lơ nơi khác, chà “Giai nhân thông thái tự sinh thành!”. Chiều ngày thứ năm (lễ hội diễn ra trong mười ngày), trong khi mẹ cô đang say sưa với phiên hầu bóng của một đồng cô nổi tiếng là múa đẹp, cô gái lẻn bước ra ngoài. Cơ hội ngàn vàng đến với mình, mình theo bén gót ra cửa phủ. Chợt cô dừng lại nói như bâng quơ: “Mai về Mỹ Trọng rồi!” (Mỹ Trọng nay thuộc Nam Định, lúc ấy là một làng ngoại thành). Mình đánh bạo nắm lấy bàn tay cô nhưng cô rụt lại, quay nhanh vào chỗ hầu bóng. Một cảm xúc bồi hồi dâng lên trong lòng mình, hiểu rằng hình ảnh của cô đã in vào tâm khảm của mình rồi ! Hôm sau mình quyết chí theo mẹ con cô về tận Mỹ Trọng. Nhà cô ở gần một cái chợ, vào loại khá giả, có năm người con, cô thứ tư, chưa hề được đi học nhưng nhờ người anh dạy chữ quốc ngữ nên cũng biết đọc biết viết. Mình trao đổi những bức thư ngắn ngủi với cô, được gặp cô mấy lần ở chợ, biết tên cô là Ngọc Lan. Mỗi lần được gặp, về nhà lại cắm đầu làm thơ, xao nhãng cả việc học hành, bị ông anh Trúc Đường mắng mấy lần nhưng vẫn không chừa. Chừng ba tháng sau thì người tiên biến mất: Bố mẹ cô bán nhà chuyển đi nơi khác, cô không kịp báo, thế là “bóng chim tăm cá”, mình bị hụt hẫng, chao đảo mất một thời gian…”

Nguyễn Bính tâm sự về bài thơ tình đầu đời này năm ông đã 46 tuổi (hai năm trước khi ra đi đột ngột). Thời gian này ông đang ở Nam định “ngồi chơi xơi nước “. Trong một dịp ghé qua NĐ, TMCS tình cờ được biết sự tích trên, chứ chả báo chí nào thời ấy công khai đả động tới những chuyện “vớ vẩn” này cho phiền phức. Trong một lần đàn dúm, kể lại với lũ bạn “thơ thẩn” TMCS có dịp ‘bốc đồng” bịa mấy câu vè :

TÌNH ĐẦU (TMCS tự đặt tiêu đề để đưa vào hồ sơ lưu trữ)

Tưởng là gió thoảng mưa bay

Ai ngờ ông bác tôi say đến già.

Lưng ong rủ tóc đuôi gà

Cánh sen màu áo, nõn nà khăn nhung

Thành hồn quê hút hồn ông

Thành thơ ông khiến tôi lòng nao nao

Tôi nghe  gió nhắn lao xao:

Bốn câu thơ ấy thấm vào hồn ai !

Được lũ bạn tán thưởng, TMCS “phổng mũi” còn ứng khẩu lảy Kiều, lâu lắm rồi chỉ còn nhớ mấy câu :

Lạ gì thanh khí tương hằng *

Tình thơ đã tỏ, ai giằng cho ra.

Đâu cần đào mận lân la,

Nếu không cách trở đã ra đá vàng

Vô duyên nên mất hút Nàng,

Coi như Lỡ bước  sang ngang lần đầu !

… …

                                                           TMCS

  • Đoạn  Thúc Sinh gặp Kiều:

Lạ gì thanh khí lẽ hằng,

Một dây một buộc ai giằng cho ra .

Sớm đào tối mận lân la, 

Trước còn trăng gió sau ra đá vàng.

Xa xưa, hàng quán ở HN ít hơn bây giờ nhiều, đối với bọn TMCS thì cái Quán Gió ở góc công viên Thống Nhất là “lí tưởng” nhứt. Cứ cà phê phin lách tách , tẩm thuốc lá TĐ, ĐB  có khí cháy túi thì Trường sơn ba hào / gói, bí nữa thì thuốc là An-ba-ni khét mù (hình như tên đích thực là Berati vừa đi vừa hút ! rẻ hơn cả Trường sơn- Khi xưa trẻ dại, lại thiếu thông tin nên TMCS cũng đua đòi chúng bạn mà thuốc lá, đôi khi cả “điếu cầy bazoka”, may sau này “giác ngộ” đã bỏ hết…), ngồi nhâm nhi hàng giờ, không nói chuyện chi ngoài  thơ thẩn, và bình “loạn” về phim xi-nê của Mốt-xphim, Len-phim…Bây giờ kẻ mất người còn, hiếm hoi  gặp được nhau để lại đùa nhắc tới cái Quán “Phải” Gió ấy !! Chính ở cái Quán ‘Phải” gió ấy, TMCS  đã “ba hoa chích choè” so sánh  bốn câu gọn gàng trên của NB với LA VITA NOUVA vĩ đại của Dante  mặc dầu vốn tiếng Italia trong đầu TMCS ( bị lai 90% tiếng Portugais dở sống dở chín của TMCS) chỉ là một thứ tử ngữ vừa đọc vừa đoán mò, đoán liều…Ấy thế mà nhờ cái máu “dân tộc”, cả bọn đều nhất trí đặt NB ngang hàng Dante, ít nhất cũng ở khía cạnh Yêu sớm, làm thơ Tình sớm và bài nào cũng đều lay động “hồn” NGƯỜI cả…

Công bằng mà nói: Thơ Nguyễn Bính chưa chắc đã phải No1 của thế kỉ 20 ở VN, nhưng  xét về mức độ chinh phục trái tim người yêu thơ thì TMCS chưa thấy có nhà thơ nào HẠNH PHÚC như NB về mặt được đông đảo người đọc yêu mến sâu sắc. Những nhà thơ MỚI nổi tiếng nhất cũng chỉ có sản phẩm lưu hành loanh quanh chốn tỉnh thành, trong đám người đọc mà Hoài Thanh- Hoài Chân gọi là thông thái. 

TMCS còn nhớ hàng chục trường hợp có thể đưa ra làm minh chứng cho tình người đọc yêu NB sâu đậm đến mức nào, nhưng để khách quan, tránh sự “sầm sì” là TMCS thiếu vô tư vì đã sớm “phải lòng” NB, xin trích dẫn ý kiến của người khác như sau :

…“Hồi Nguyễn Bính theo Ty văn hoá Nam Hà sơ tán về xã Nhân Nghĩa, nhân dân địa phương biết là nhà thơ Nguyễn Bính ở đây nên hay đến tiếp xúc và lấy làm thú vị là được quen biết nhà thơ của quê hương.

Có ông B là thợ cắt tóc, không bao giờ lấy tiền cắt tóc nhà thơ. Đáp lại, Nguyễn Bính thường cắt những bài thơ đăng báo của mình và cả những bài chưa đăng báo tặng ông. Ông B dán ngay lên vách cửa hàng. Hiệu cắt tóc của ông B từ đó rất đông khách, có lẽ một phần khách đến chỉ cốt mong được đọc thơ của Nguyễn Bính. Âu cũng là sự “có đi có lại”một cách ngẫu nhiên.

Cô lái đò sông Châu tên là T cũng vậy, không bao giờ lấy tiền đò thi sĩ. Có lần Nguyễn Bính hỏi cô đã đọc bài thơ “Cô lái đò” của ông chưa. Cô nói đọc rồi và đọc luôn cho ông nghe. Một hôm, cô thú thực với ông là cô cũng có một mối tình gần như thế, nhưng đã 5 năm anh ấy đi bộ đội chưa về mà cô chưa hề “lỗi ước với tình quân”! Nguyễn Bính cảm động có làm một bài thơ mới “Cô lái đò ngày nay” tặng cô (tiếc là chưa sưu tầm được). Khi nghe tin Nguyễn Bính mất cô đã khóc nức nở và nói với Chu Văn, nguyên trưởng Ty văn hóa Nam Hà:

– Giá chết thay được thì cháu xin tự nguyện chết thay để bác ấy sống, bác ấy làm thơ.

Bà chủ nhà mà Nguyễn Bính ở nhà nhờ, nhà cũng nghèo thôi, nhưng trong vườn mùa nào thức ấy, khi trái bưởi, lúc tấm mía, lúc củ khoai luôn trân trọng mời Nguyễn Bính ăn, bà nói là “cây nhà lá vườn”, gọi là “bồi dưỡng” nhà thơ… Khi Nguyễn Bính mất bà đã thắp hương cúng 1 tuần cho thi sĩ…

Người nghệ sĩ chân chính nào chẳng mong muốn có những độc giả chân tình như thế. TMCS cứ nhớ mãi câu của Nguyễn Đình Thi mà dịch giả kì cựu Trịnh Phúc Nguyên đã nhắn gửi tới TMCS: “Hạnh phúc lớn nhất  của người viết là có người đọc mình”.

Ngày nay, TMCS chỉ thay thế từ ‘viết” trong câu của NĐT  bằng từ “dịch” là đủ có bài học LUÂN LÍ để răn mình không bao giò dịch ẩu. Thời đại @ chỉ cần dịch xong, vào mạng nháy Enter là post đi khắp thế giới. Nếu dịch ẩu thì tác hại xuyên tạc khôn lường…

Ối Giời ! Lại dài quá rồi ! Xin phép lảy NB :

   Nắng mưa là bệnh của Giời, 
Lan man là bệnh suốt đời của ta! 

Xin lỗi và xin phép quý vị tạm ngưng gõ ở đây để xin lỗi quý vi.… Quả thật, TMCS rất ngượng ngùng cứ xin lỗi hoài nhưng vẫn phạm lỗi mãi ! Bởi chưng cứ ngồi trước bàn phím, là HỨNG cuồn cuộn như sóng thần nổi lên, nhấn TMCS chìm nghỉm và cứ như thể  người đang hầu đồng, mười ngón tay TMCS bất tuân thượng lệnh, cứ lách tách mổ ra hết dòng này sang dòng khác…  chợt nhớ đến  câu :

Vũ vô kiềm toả năng lưu khách

Sắc bất ba đào dị nịch nhân

bất giác TMCS nhớ đến các cháu sinh viên hải ngoại làm tình nguyện viên cho TTTB@ sẽ chẳng biết đằng nào mà dịch ra Ăng-lê cho các bạn tây đầm khắp nơi hiểu được ý tứ , xuất xứ hai câu trên, nên đành xin phép lan man ngoài lề tí chút về cái lích ra đời đôi câu đối trên (cũng là chút tư liệu giai thoại văn chương VN mà các nhà VN học bốn phương thường hay rất quan tâm . (Đây may ra cũng là một “keo” lạc đề hữu ích, chưa biết chừng với cả bạn đọc trẻ tuổi trong nước…)

Cái tích này liên quan đến Nguyễn Giản Thanh và thầy học là Đàm Thuận Huy.

Nguyễn Giản Thanh (chữ Hán: 阮简清; thường được gọi là Trạng Me; 1482–?) là trạng nguyên khoa thi Đoan Khánh năm thứ tư (1508), đời vua Lê Uy Mục. Ông là con của tiến sĩ Nguyễn Giản Liêm, người làng Ông Mặc (tục gọi là làng Me) huyện Đông Ngàn (nay là Từ Sơn), tỉnh Bắc Ninh.

Ông làm quan đến chức Hàn lâm viện Thị thư kiêm Đông các Đại học sĩ. Sau đó, lại ra làm quan với nhà Mạc và được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc) để cầu phong cho Mạc Đăng Dung. Khi trở về, ông được thăng Thượng thư Bộ Lễ kiêm Hàn lâm viện Thị độc, Chưởng viện sự, tước Trung Phụ bá. Khi mất được tặng tước hầu. 

Giai thoại:

Lúc Nguyễn Giản Thanh còn đi học, thầy học là Đàm Thuận Huy, thấy học trò sắp ra về thì trời đổ mưa to,  không về được, thầy bèn ra vế đối để thử tài học trò:

Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách (雨无钤锁能留客 –Mưa không  then khóa mà có thể giữ được khách).

Nguyễn Giản Thanh liền đối lại là:

Sắc bất ba đào dị nịch nhân (色不波涛易溺人 –  Sắc đẹp  không nổi sóng nhưng dễ nhận chìm người).
Phản hồi : của Trạch Trần :

         Tương truyền, Nguyễn Giản Thanh (làng Me) chỉ đậu bảng nhãn còn Hứa Tam Tỉnh (làng Ngọt) đậu trạng nguyên. Trong buổi lễ ra mắt vua, các tân khoa phải làm một bài phú dâng tặng vua và hoàng thái hậu (mẹ của vua). Hoàng thái hậu thấy Hứa Tam Tỉnh dung mạo xấu xí thì không ưng lắm, trong khi đó Nguyễn Giản Thanh khuôn mặt khôi ngô thanh tú nên bà muốn cất nhắc ông lên làm trạng nguyên. Vua vì muốn chiều lòng mẹ nên đánh giá bài phú của Nguyễn Giản Thanh cao hơn và trao danh hiệu trạng nguyên cho ông.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s