Archive | Tháng Một 2017

TMCS : Đầu năm khai laptop

Dear Huynh Đệ TỈ Muội,
Năm nay , đệ ko khai bút mà khai”laptop”, mất hơn sáu giờ đồng hồ gõ đi gõ lại được hai bản Anh và Hán, tuy còn “lẩm cẩm” chưa chải chuốt, nhưng xin kính gửi cả nhà làm quà “mộc mạc” đầu xuân.
Đệ chọn cụ Vũ Đình Liên  vì cụ là bạn học cùng thời ở trường Bưởi với ông chú đệ và là bạn quen lâu năm của gia đình đệ. Cụ sinh 1913, đỗ tú tài  rồi vào ĐH , đỗ cử nhân luật. Đã làm Trưởng khoa Pháp ĐHSP sau vì ko phải là Đv nên chỉ là chuyên viên, năm nào cũng dự 14 Juillet (QK Pháp) cùng Tôn Thất Tùng, Nguyễn Tuân, …các vị trí thức, văn nghệ sĩ lớp cũ…ở Sứ quán Pháp. Đệ chỉ là dân chầu rìa, hàng năm làm lễ tân ko công cho các đời ĐSứ Pháp ở HN. Cụ sáng tác và dịch tới hơn bốn ngàn  bài nhưng chỉ ra mắt có vài bài…
Có lần cụ gặp một thiếu phụ điên ở ga Lưu Xá (Thái nguyên), Cụ viết tặng bài thơ (có dịp đệ sẽ giới thiệu trên TTTB@) và dúi vào túi bà ấy. Nhiều năm về sau, bà ấy chữa khỏi bệnh điên, theo đ/c trên bài thơ , bà ấy đã về tận HN cám ơn thi sĩ VĐ Liên. Chuyện hay lắm mà ít người biết…Đệ quý cụ Liên ở cái đức mà dịch thơ cụ, chứ vốn Ăng-lê và Hán của đệ thì cọc cạch lắm…Đệ thì kiến thức chính quy nông cạn,  nhưng chuyện ngoài lề thì hóng hớt nhiều. Giá mà họ xét tuyển học hàm học vị theo hướng linh tinh chắc đệ đỗ đạt to, mấy vị G/s ngữ văn đệ quen (cả trong, ngoài nước) chịu chết chả biết những chuyện đệ kẻ tào lao trên TTTB@. Những mẩu linh tinh về Hồ Dzếnh, Huyền Trân, Anh Thơ, Hoàng Cầm, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Tô Hoài…họ chỉ biết những chuyện đã đăng báo công khai !
Bài dưới là đệ mới dịch- chưa tỉa tót chút nào. Nó là rung cảm đầu tiên, gọt rũa đi có thể bóng bảy hơn , nhưng  sẽ có mất mát…Mời cả nhà thưởng thức bản dịch mới ra lò, nóng hổi:
( Chữ thành quách trong đó chữ quách là chỉ lớp  ngoài, chữ thành là lớp trong. Chữ quách này viết khác chữ quách  trong cụm “trong quan ngoài quách”. Hai chữ quách này viết khác nhau đấy .  Thành quách :  , 
 Tường lớn bao quanh kinh đô hoặc một khu vực để phòng vệ. § Ở trong gọi là thành , ở ngoài gọi là quách . ◇Lí Bạch Thanh san hoành bắc quách, Bạch thủy nhiễu đông thành (Tống hữu nhân ) Núi xanh che ngang quách phía bắc, Nước trắng bao quanh thành phía đông.
 
 Còn chữ quách là phần ngoài quan tài viết như câu sau :
 Cái quách, để bọc ngoài áo quan. Có khi viết là quách . ◇Luận Ngữ Lí dã tử, hữu quan nhi vô quách  (Tiên tiến ) Lí (con Khổng Tử) chết, có quan tài nhưng không có quách (bọc áo quan
Ôi! phức tạp quá, sểnh ra là nhầm như chơi ! Hai chữ quách này , đệ phải lần mò trong thơ cổ mới ra đấy !)
 
 
 
LÒNG TA LÀ NHỮNG HÀNG THÀNH QUÁCH CŨ

        

Vũ Đình Liên

Dậy đi thôi con thuyền nằm dưới bến, 
Vì đêm nay ta lại căng buồm đi 
Mái chèo mơ để bâng khuâng trôi đến 
Một phương trời mây lọc bóng trăng khuya 

Gió không thổi, nước sông trôi giá lạnh 
Thuyền đi trong bóng tối luỹ thành xưa 
Trên chòi cao, từ ngàn năm sực tỉnh 
Trong trăng khuya bỗng vẳng tiếng loa mơ 

Từ ngàn năm cả hồn xưa sực tỉnh 
Tiếng loa vang giây lát động trăng khuya 
Nhưng giây lát lại rơi im hiu quạnh 
Cả hồn xưa im lặng trong trăng khuya 

Trôi đi thuyền! cứ trôi đi xa nữa 
Vỗ trăng khuya bơi mãi! cánh chèo mơ 
Lòng ta là những hàng thành quách cũ 
Từ ngàn năm bỗng vẳng tiếng loa xưa.

Làm sau khi xem lễ Nam giao 1936. 

Đăng trên báo Tinh hoa. 

Nguồn: Hoài Thanh, Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, 2007


MY MIND – THE ANCIENT RAMPARTS AND FORTIFICATIONS.
        (Poem by Vũ Đình Liên. Translation by TMCS)

Please, wake up, the boat lying at the dock!
Because we’ll glide our full sail tonight.
Our oars are dreaming of the skies
Where clouds would purify the moonlight

The river cold water doesn’t run and the wind doesn’t blow.
The boat slides in the rampart and fortification shadows.
Like in a dream, they suddenly hear the horn
Of thousands of years ago
From a watch-tower which is so high
Sounding in the moonlight of that deep night. 

Suddenly the soul of so long ago,
Wakes up with a start by the  horn
Stirring the moon light of that deep night.
Then into the tranquility 
The horn sound falls down so quickly!
And the soul of the past falls silent instantaneously.

 
Let the boat drifts further and further…
In the dream, the oars stir the moonlight in the river.
My mind is like the ancient fortifications and ramparts
Where the horn of thousands of years ago
Suddenly revives lots of memories of the past. 
 NGÃ TÂM VI CỔ ĐẠI THÀNH QUÁCH.
(Vũ đình Liên thi- TMCS dịch)

Khởi lai! tại độ thuyền đương ngoạ  Dậy đi con thuyền đang nằm ở bến
Thử dạ  trương phàm tướng khởi hành Đêm nay sẽ căng buồm khởi hành
Mộng lí thuyền tương lưu viễn xứ  Trong mơ mái chèo trôi tới viễn xứ
Khán vân ư  lộc nguyệt quang minh Xem mây đang lọc ánh trăng  trong

Phong bất xuy,  giang trung lãnh thuỹ.Gió không thổi, nước dòng sông lạnh ngắt
Cổ thành âm ảnh thuyền lưu hành Thuyền đi trong bóng đen của thành cổ
Thiên niên cao tháp thượng lai tỉnh Ngàn năm tỉnh lại trên tháp cao
Thâm dạ nguyệt quang, lạt bá thanh   Ánh trăng đêm khuya , vang tiếng loa..

Hốt nhiên thiên tuế hồn lai tỉnh Bỗng nhiên hồn  ngàn năm thức dậy
Lạt bá kinh thâm dạ nguyệt quang Loa rung đông ánh trăng đêm khuya
Khoảnh khắc  chi trung hựu  tĩnh tại Trong khoảnh khắc lại chìm vào tĩnh lặng
Cổ thời hồn phách nguỵệt quang man  Hồn phách thời xưa tràn ngập áng trăng

Lưu khứ, thử thuyền lưu viễn xứ Trôi đi, thuyền này trôi đi viễn xứ
Nguyệt quang dao động,mộng thuyền hành Lay động ánh trăng, thuyềmộng trôi
Ngã tâm vi cổ đại thành quách       Lòng tôi là thành quách thời cổ
Hốt thính thiên niên lạt bá thanh    Bỗng nghe thấy tiếng loa ngàn năm xưa.
我心為古代城郭 
(武廷蓮詩-相梅居士譯)  
 
起來在渡船當臥
此夜張帆將起行
夢裡船桨流遠處
看雲於漉月光明
 
風不吹江中冷水 
古城陰影船流行
千年高塔上來醒
深夜月光喇叭聲
 
忽然千歲魂來醒
喇叭驚深夜月光
頃刻之中又靜在
古時魂魄月光漫
 
流去此船流遠處
月光搖動夢船行
我心為古代城郭
忽聽千年喇叭聲 
Advertisements

TMCS: CHÚC MỪNG NĂM MỚI ĐINH ĐẬU

 Đúng vào thời khắc thiêng liêng của GIAO THỪA VIỄN XỨ,* TMCS xin kính gửi quý bạn đọc thân yêu lời               
 
               
                                            Thứ bảy  a còng tiểu thuyết gia
                                            Tương Mai cư sĩ tự phương xa
                              Chúc mừng bạn đọc Năm Đinh Dậu:
                              Hạnh phúc- An khang khắp mọi nhà.
 
     Kèm tấm ảnh, có câu vè
Thay tràng pháo tết, xuân về cùng vui.
 
                                              VÈ HOA SÚNG 
                       (kèm ảnh Tât niên do TMCS chụp tại vườn nhà)
 
                               Lắng nghe hoa súng Hoà bình
                           Nở ra trong ánh bình minh tuyệt vời:
                               Ước gì Người biết yêu Người!
                           Hạ cây súng xuống , yêu Đời như Hoa !
 
           Inline image

Vẫn  là thơ dịch với hoa
Nét tranh nguệch ngoạc , ghi ta bập bùng…
Đời “hiu” chả lẽ ngồi không
Có gì góp nấy. vui chung với đời !
                                                 TMCS
Chú:
* Giao thừa ở đây – Liên bang chuột túi- tương đương 8h tối giờ Hà nội.

Nguyễn Gia Thiều : Cung oán (Tiếp theo và hết) – Nguyễn Chân dịch sang Pháp Nga

321.Tình rầu rĩ làm khuây nhĩ mục

Chốn phòng không như giục mây mưa

Giấc chiêm bao những đêm xưa

Giọt mưa cửu hạn còn mơ đến rày

 

321.Dissipant les pensées lugubres, j’ouvre yeux et oreilles

Dans la chambre désete se rallument les désirs d’amour

Les rêveries des nuits d’autrefois se réveillent

Telles pluies après sécheresse, j’envie de vous voir

 

321.Рассея скорбные мысли, открою глаза и уха

Пустая комната как вызвала плотские желания

Вспоминаясь о сновидениях протёкших лет

Жажду их как капели дожди после долгой засухи

 

325.Trên chín bệ có hay chăng nhẽ

Khách quần thoa mà để lạnh lùng

Thù nhau ru, hỡi đông phong

Góc vườn dãi nắng cầm bông hoa đào

 

325.Sur le Trône Auguste,  connaissez-vous ma peine?

Laisser une femme dans telle solitude

Est-ce vrai que tu me hais, Ô, Vent d’Orient?

Une fleur de pêcher au parc ensoleillé, tu retiens

 

325.На Престоле знали Вы моё огорчение

Отставили в холоде такую красавицу

Ненавидите ли меня? Ах, Восточный Bетер!

На сонечном уголке сада удержал свежий цветок

 

329.Tay  tạo hóa cớ sao mà độc

Buộc người vào kim ốc mà chơi

Chống tay ngồi ngắm sự đời

Muốn kêu một tiếng cho dài, khỏi căm

 

329.Pourquoi la main du Créateur est si cruelle?

Pour s’amuser à m’attacher dans le Palais d’Or

Assise, appuyée sur les bras, méditant aux chose du monde

J’envie de pousser un long cri pour exprimer ma haine!

 

329.Творец! Почему Вы такой слишком коварный?

Меня привязали в Золотом Дворце как щутка

Сидя, опираюсь на руду, думую о жизни

Хочела громко кричать, чтобы снять cвой гнев

 

333.Nơi lạnh lẽo, nơi xem gần gặn

Há phai son lạt phấn ru mà

Trêu ngươi chi mấy, trăng già

Sao con chỉ thắm mà ra tơ mành?

 

333.Ici, solitude, là-bas, à côté du Roi

Est-ce vrai-mon rouge et mon fard sont tout délavés?

Encore t’amuses-tu à me taquiner, Vieillard de la Lune?

Pourquoi mon fil rouge l’as tu fait si ténu?

 

333.Здесь холодная глушь, там полно ласками

Возможно ли, я полностью поблекнула?

Зачем меня раздражили ли так, Старая Луна?

Пурпуровая нить превратилась в тонкое волокно!

 

337.Lòng ngán ngẩm buồn tênh mọi nỗi

Khúc sầu tràng bối rối dường tơ

Ngọn đèn phòng động đêm xưa

Chòm hoa tịnh đế trơ trơ chưa tàn

 

337.Mon cœur blasé, ma tristesse répand sur toutes choses

Mes entrailles s’embrouillent comme les fils de soie

Sur la lampe éclairant l’ancienne chambre nuptiale

Les fleurs jumelles gardent encore leur fraîcheur

 

337.С угнечённым состоянием я грустила по всем

Душа моя растрепалась как волокна

Спаренная лампа в бывшой cвадебной комнате

Как и раньше без никаких измененний осталась

 

341.Mà lượng thánh đa đoan kíp mấy

Bỗng ra lòng run rẩy vì đâu

Bõ già tỏ nỗi xưa sau

Chẳng đem nỗi ấy mà tâu ngự cùng

 

341.Mais les sentiments du Roi ont changé en peu de temps

Soudain, pour quelle raison, il m’a mal considérée

Mon vieux serviteur! Vous avez l’informé de toutres choses

Pourquoi n’avez vous rien  dit à Sa Majesté?

 

341.Но чувство Короля очень быстро поменяло

Вдруг нет причины он меня покинул

Ах,  Покорный слуга! вы меня прекрасно знаете

Почему вы об этом нечeго ему не сказали

 

345.Đêm phong vũ lạnh lùng có một

Giọt ba tiêu thánh thót cầm canh

Bên tường thấp thoáng bóng huỳnh

Vách sương nghi ngút, đèn xanh lờ mờ

 

345….Dans la nuit orageuse je suis seule au monde transie

Les gouttes sur le bananier en rythmes tintent les veilles

Rasant les murs scintille la lueur des lucioles

Sur la cloison brumeuse ondule le clair de la lampe imprécise

 

345.В этой грозовой ночи чуствую одинокой

На листьах отмечают кануны капли дождя

Вдоль и поперёк стены мелкают облески светлячок

На перегородках струятся мглы, тускнеет лампа

 

349.Mắt chưa nhắp, đồng hồ đã cạn

Cảnh tiêu điều ngao ngán nhường bao

Buồn này mới gọi buồn sao

Một đêm nhớ cảnh biết bao nhiêu tình!

 

349.À peine fermés les yeux, l’horloge à eau est tarie

L’alentour est morne, le spectacle est navrant

Quel nom pourrait-on appeler cette mélancolie

Toute la nuit, je me souviens de ma situation

pleine d’émotions

 

(KẾT LUẬN)

 

353.Bóng câu  thoáng bên mành mấy nỗi

Những gương sầu phận  tủi bao xong

Phòng khi động đến cửu trùng

Giữ sao cho được má hồng như xưa!

 

(CONCLUSION)

 

353.L’ombre du poulain blanc file devant mes stores

Pourrais-je un jour finir avec mes tristesses et tracas

Pour qu’au cas, où Sa Majesté se rappelle

J’ai encore conservé mes joues roses d’antan

 

(ЗАКЛЮЧЕНИЕ)

 

353.Мелькнули перед шторой мои прекрасные дни

Как могла кочиться с грусью и горем пред зеркалом!

На случае размягчения сердца Короля

Могла бы сохранить ранние розовые щёки

 

NGUYỄN CHÂN phỏng dịch 31.08.2016

 

Nguyễn Đức Thanh (Đỗ Anh Thơ- Docago) : Cảm tác khi nghe cuốc kêu ngoài Rạch Chiếc

        

Nước Thục (*) còn đâu , chỉ Kim Liêu !

Trùn Nam(**) sông Chiếc , có nhiều nhiều.

Bờ kênh lặn lội tha hồ kiếm

Nặng bụng là tiên ! sao cứ kêu ?

      (*) Chim cuốc hay Thục điểu .

       (**) Chơi chữ . Trùn (giun ) còn gọi là địa long .

.

Kỷ niệm về lại Nam Long ăn Tết ông Táo

Đinh Dậu 2017

Phản hồi : 

TVK : Họa bài Nghe tiếng cuốc kêu… của ĐAT

Thảo nào

Mơ hồn Thục đế …giữa trời Liêu

Sao lại tìm… nơi Rạch Chiếc nhiều ?

Lặn lội hoá ra vì cái bụng

Thảo nào cuốc lủi suốt ngày kêu !

 

TTCh :

Chẳng Thục, chẳng Ngô, chẳng Kim Liêu

Rạch Chiếc đáo lui chỉ mỗi điều,

Nuôi chó nuôi chim tha hồ kiếm

Để lộn vào ra  có tiền tiêu

 

TMCS : CHÚC TẾT ĐINH DẬU

Nhân dịp Tết Đinh Dậu, TTB@ xin kính chúc toàn thể bạn đọc trong ngoài nước và bạn đọc người nước ngoài, cùng thân quyến  lời chúc mừng tốt đẹp nhất.
Nhân dịp này, TTTB@ xin chân thành cảm tạ quý dịch giả Trịnh Phúc Nguyên, Nguyễn Chân, Phan Hoàng Manh đã thường xuyên góp phần quyết định cho mục dịch thơ Việt ra các ngoại ngữ Pháp , Nga, hai nhóm sinh viên tình nguyện đã giúp TTTB@ dịch phần Dạo đầu rất thành công ra Anh ngữ, đồng thời cám ơn toàn thể các bạn đọc đã thường xuyên gửi phản hồi tới TTTB@ và các  cộng tác viên phát hành đã giúp TTTB@ ngày càng có đông đảo bạn đọc ở trong nước và thế giới.
TTTB@ xin phép quý bạn đọc nghỉ Tết số thứ bảy 28/1/2017.
                                                      THÂN KÍNH
                                                     TMCS- NTTÚ
HOA VỚI RƯỢU (Khổ 15-16)
Thơ Nguyễn Bính
 Dịch:
TMCS: Anh, Hán.
Nguyễn Chân: Pháp , Nga.
Trịnh Phúc Nguyên : Pháp
Phan Hoàng Mạnh : Pháp
HOA VÀ RƯỢU (khổ 15-16)
Thơ Nguyễn Bính
 
Ngày xưa còn bé Nhi còn đẹp ,
Huống nữa giờ Nhi đã đến thì .
Tháng tháng mươi mười lăm buổi chợ,
Cho người thiên hạ phải say Nhi .
Xóm chị em Nhi ở mấy nhà ?
Bến đò đông vắng ? Chợ gần xa ?
Nhà Nhi thuê có vườn không nhỉ ?
Vườn có trồng cam có nở hoa ?
Anh: TMCS
Even in her childhood, Nhi- the little girl was so pretty
Much more then now, she is in her puberty.
Every month there are ten or fifteen market days,
Nhi’s liquor makes so many people tipsy.
How many houses are there
In the hamlet where Nhi and her sister live?
In the boat-dock are  there many passengers or a few only?
The market is  near or so far ?
Is there a garden behind the house that Nhi rents?
In which are there many blossoming flowers of oranges ?
Hán- Phiên âm và nghĩa: TMCS
Vãng nhật ấu niên Nhi dĩ mỹ          Khi xưa lúc nhỏ Nhi đã đẹp
Huống hồ hiện tại cập kê thì     Huồng hồ nay đã vào lúc dậy thì
Thập thiên mỗi nguyệt Nhi lai thị  Mỗi tháng mươi ngày Nhi đi chợ
Thiên hạ nhân nhân yếu tuý Nhi. Mọi người trong thiên hạ phải say Nhi
Thư muội  cư thôn đa thiểu ốc?      Xóm hai chị em ở có mấy nhà?
Độ hà đa khách? Thị dao ma?     Bến đò có đông ko? chợ xa không?
Nhi tô cư trạch hữu viên thổ?    Nhà Nhi thuê có đất vườn không?
Cam chủng tại viên dĩ hữu hoa? Trong vườn trồng cam đã ra hoa chưa?
 
Chữ Hán: TMCS
往日幼年儿已美
况乎现在及笄时
十天每月儿来市
天下人人要醉儿
姐妹居村多少屋
渡河多客市遥么
儿租居宅有园土
柑种在园已有花
Pháp: Nguyễn Chân
Aurefois, encor fillette, tu étais charmante
D’autant plus, tu es déjà pubère maintenant
Chaque mois quelques séances de marché
Tu incite tant de gens à éprendre de toi
 
Le hameau où vous logez a combien de foyers?
L’ambarcadère est-il peuplé? Le marché est loin ou près?
Le logis que vous louez a-t-il un jardin?
Où on a planté des orangers? Fleurisssent-ils?
 
Nga: Nguyễn Chân
В детском возрасте ты красива была
К тому же, теперь ты уже на выданье
Ежемесячно десяти базарных дней
Заставляешь многих в тебя влюбится
 
В посёлке, куда переселилась твоя семя
имеются сколько домов
Многолюдно ли причал, далёк ли рынок?
Дом конорый вы сниммали имеет ли сад?
На саду есть ли цветы апельсиновых деревьев?  
Pháp: Trịnh Phúc Nguyên
Autrefois,tu étais déjà jolie enfant,
D’autant plus,maintenant,belle adolescente!
Par mois,dix ou quinze jours,tu vas au marché
Pour enivrer tout le monde dans la cité.
 
Y a-t’il combien de toits dans votre hameau?
L’embarcadère est-il très ou peu fréquentế?
Et encore le marché,est-il proche ou éloigné?
Y a-t’il un jardin près de ta maison louée?
Y a-t’il des orangers,et eux sont-ils fleuris?
Pháp: Phan Hoàng Mạnh
Jadis, étant encore petite, Nhi était déjà bien belle.
D’autant plus maintenent qu’elle était à l’âge de puberté.
Chaque mois, des dizaines de jours de vente au marché,
Sans doute, tant de gens seraient amoureux d’elle.
Le hameau de Nhi comportait combien de maisons?
Le débarcadère était-il animé ou désert? Le marché
                                                      proche ou lointain?
La maison de Nhi possèdait-elle un petit jardin?
Et y éclosaient-elles des fleurs d’oranger?

TMCS :DẠO ĐẦU TTTB@ No98

Inline image
   Ảnh:TMCS
THƯ GIÃN
ĐÔI DIỀU TẢN MẠN VỀ NHỚ VÀ QUÊN
Với TMCS, viết “Tản mạn” là loại việc “không vội được đâu” cứ từng câu từng chữ, khề khà thư thả mà xả “stress” cho người viết – ( ý nói TMCS không hẳn đang trong trạng thái “stress” : être stressé, être tendu, cần giải toả, mà chỉ muốn “kể nỗi hàn ôn” như bà H Thanh Quan thôi !). TMCS gõ mục này cũng chịu không lường trước được dài ngắn, không có mục đích, không theo trình tự, nội dung quy ước nào cả, tức là hoàn toàn ngẫu hứng và phóng túng khi “gõ” , tựa như người ôm cây đàn tì bà thuở xưa hay ghi-ta thời nay, trăng thanh gió mát, một mình một cõi mây trời non nước mông mênh, lênh đênh vô tư vô lự, buông một lá thuyền… cứ tuỳ cái hứng nổi lên trong lòng mà bật ra các cung bậc âm thanh “đầu Ngô, mình Sở”, tuỳ tiện chứ không theo bài bản sẵn có nào cả, cốt sao cho tâm hồn mình được buông chùng nhẹ nhàng, thanh thản, đồng thời cũng là đề phòng và chữa trị  “stress” cho bạn đọc nào  đồng cảm với sự thú vị và hợp “gu”. Vị nào không có nhu cầu, không nhất thiết đọc mục này ! Vị nào đang thư thái (không cần xả stress), nhưng tò mò, xin mời thử làm “nghệ sĩ – tài tử dân gian” đọc chơi bời dăm mươi dòng , thích thì đọc tiếp, ngán thì “phăng teo” ở bất kì dòng nào, câu nào, chữ nào… miến là có ngó đến cho bõ công gõ kí cách kì cạch là TMCS vui lòng hởi dạ lắm lắm rồi…Nói văn vẻ ra thì đây chính là lúc TMCS đang làm cái việc :
                            Thong dong buông một điệu đàn,
                       Chùng tơ lòng gửi muôn ngàn trùng xa…
                                                                          TMCS
                                                     X
Nhớ và Quên là hai điều trái ngược nhau hoàn toàn như : trắng với đen,  ngày với đêm, nóng với lạnh, âm với dương…v.v và v.v…Dưới đây là những dòng tản mạn lan man – khôn lường trước nội dung và độ dài – về hai điều trái ngược này…
Hơn tám chục năm ròng tồn tại. lăn lóc trong cõi nhân gian, nếm trải khá nhiều buồn vui, sướng khổ, cay đắng, ngọt bùi…dẫu rằng kinh lịch so với nhiều người quanh mình, chứ chưa dám so với cả bàn dân thiên hạ, chưa bằng nửa hạt bụi so với  vũ trụ mênh mông, nhưng TMCS đã đủ thấm thía ngộ ra rằng trong khái niệm NHỚ  VÀ QUÊN có khía cạnh rất biện chứng: Không phải điều gì cũng nên NHỚ, chẳng phải việc gì cũng được QUÊN, ngược lại có nhiều điều bắt buộc phải NHỚ mà cũng có những việc nhất thiết phải QUÊN !  
Chợt nhớ thuở còn để tóc trái đào, mặc áo dài thâm, quần chúc bâu* trắng, ngày lại ngày, loẹt quẹt lê guốc mộc đến nhà thày đồ quạt nước, pha trà, thông điếu… và học chữ thánh hiền.  Sau này khi ngấp nghé tuổi  ‘hiu”, TMCS được ngồi vào ghế làm Thày dạy tại gia, cũng dạy học viên phải quét nhà (trong gian phòng dùng làm lớp học), rửa ấm chén, đun nước, pha trà nhưng thày trò cùng nhâm nhi trước và sau giờ học Ăng-lê hoặc Frăng-xe cho học viên ta, hoặc tiếng Việt cho  s/v nước ngoài… Học viên tây đầm biết chuyện, thấy hay hay cũng xin được theo gương học viên ta làm đủ mọi việc “tạp nham” theo bổn phận của một môn sinh nơi cửa Khổng sân Trình thời @, cốt để giữ lấy chữ Lễ trong quan hệ Thày và Trò… khiến tình cảm thày trò gắn bó đằm thắm, sâu nặng  mãi mãi…Riêng tây đầm thì thấm thía hiểu được một nét “văn hoá” cổ điển đã mai một ở VN mà thày đã cất công sưu tầm, khôi phục nhưng có cải tiến ở chỗ thày trò cùng thưởng trà do học trò rửa ấm chén, đun nước, pha trà chính trong căn phòng mà họ đã quét dọn tinh tươm…Các em cả TA và TÂY cho là suốt đời không quên được cung cách học ở nhà Thày: Vừa HỌC CHỮ NGHĨA  vừa HỌC VĂN HOÁ . Hàng xóm thuở ấy có người cho là TMCS lập dị, có người cho là “đại sáng kiến” trong khoa Sư phạm thời a còng @… mà chẳng phải Thày, Cô nào trong giới “tư thục tại gia” cũng có đủ “ đảm lượng” và “vi tính” (uy tín) để thu phục học viên răm rắp tự nguyên hăng hái làm việc này… ( TMCS không hề có tư tưởng lợi dụng lao động của các em thay vì thuê ô-xin mà chủ yếu muốn bảo tồn và cải biên chút ít một nét VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG mà lớp trẻ đã không được biết, các bạn nước ngoài lại càng không biết gì . Tất nhiên việc giới thiệu nhiều v/đ khác là quan trọng hơn. Tdụ : các thành tựu KTXH, các chiến thắng, các địa điểm du lịch hái ra  $… nhưng  chớ nên coi nhẹ v/đ VĂN HOÁ VN trong con mắt người nước ngoài…Cũng cực kì quan trọng đấy, lâu nay hình như có một số  người chưa quan tâm lắm…) .
Qua đây có thể thấy rõ : Truyền thống tốt đẹp của cha ông để lại ta  phải cần Nhớ chớ Quên  và có thể cải biên chút ít cho phù hợp thời đại. 
Thời TMCS đi học, có hôm  Thày đồ cho bài chỉ có mươi chữ: 
施 恩 不 求 报 , 受 恩 莫 可 忘  
(Thi ân bất cầu báo- Thọ ân mạc khả vong: Làm ơn không cầu  báo đáp, Chịu ơn không thể  quên đi)
thày viết chữ son cho các trò về tô, rồi thày giảng cả  buổi về làm ơn và chịu ơn , về Nhớ và Quên. Thày còn dẫn cả tích trong Kiều :
     
      Nhớ khi lỡ bước sẩy vời
Non vàng chưa dễ đền bồi tấm thương
      Nghìn vàng gọi chút lễ thường
Mà lòng Phiếu mẫu mấy vàng cho cân.
( Thày giảng  Vời là vị, tức địa vị, vị trí – chưa thấy có chú giải nào khác )
Hơn bảy mươi năm đã trôi qua từ buổi học ấy mà sự tích Hàn Tín lúc hàn vi nghèo đói từng phải sống nhờ bát cơm của bà già giặt giũ, lại có lúc bị anh hàng thịt làm nhục bắt chui qua khố, đến khi vinh hiển đã trả ơn bà Phiếu mẫu ra sao còn in đậm trong tâm trí TMCS cùng với tích Kiều hậu đãi bà quản gia và vãi  Giác Duyên…khi Từ Hải dấy binh thành công…
 Lại lan man chợt nhớ khi được dịch giả kì cựu của TTTB@ mà TMCS thường tôn xưng là Đại huynh TPN, tặng cho cuốn Histoire de Kiều (bản dịch Lê Cao Phan), khi đọc đến bốn câu trên, TMCS đã đọc lời chú giải sau của LCP :
Phiếu mẫu : la vieille lavandière Phiếu avait donné un bol de riz à Hàn Tín (sous les Hán en Chine)…Devenu plustard premier ministre, ce dernier en l’en récompensa par mile taels d’or. 
Ở đây không bàn về nghệ thuật chuyển ngữ bốn câu trên trong Truyện Kiều của LCP mà thấy rằng nếu không biết đầy đủ tích  Hàn Tín từ lúc hàn vi, đến khi vinh hiển rồi chết dưới tay Lã Hậu cũng như không biết tí teo gì về các nhân vật liên quan như Trương Lương, Tử Phòng , Tiêu Hà, Hán vương, Sở vương…trong bối cảnh lịch sử hỗn tạp thời đó thì hình như sự thưởng thức mấy câu Kiều trên e có phần hạn chế. Nhưng cũng khó đòi hỏi dịch giả LCP chú giải tỉ mỉ hơn, vì trong truyện Kiều còn vô số điển tích làm sao chú giải kĩ lưỡng từng điển được. Nhưng riêng v/đ “UN BOL DE RIZ” thì có vẻ chưa ổn. Cả thời gian Hàn Tín đói khát, bà Phiếu mẫu đã bao lần cho cơm  chứ đâu chỉ có một lần mà  ghi chú là “một bát cơm “ ! Trong tích này: Hàn Tín NHỚ ơn Phiếu mẫu là đúng đạo nghĩa, nhưng không QUÊN được Hận với anh hàng thịt để trả đũa là chưa “quân tử” lắm…
Hoá ra trong Bắc sử cũng có sự tích hàm chứa triết lý Nhớ và Quên đáng cho hậu thế suy ngẫm !
TMCS từ hồi nghe thày đồ giảng về Nhớ và Quên đã luôn xét mình để xác định Nhớ và Quên cho đúng với lời dạy của thày. 
Còn nhớ có hôm ngồi xe taxi cùng ba  anh bạn học từ thời lớp Đồng ấu ( cours Enfantin) – xưa gọi nôm na là lớp “bét” bậc tiểu học ( tương đương lớp một  thời nay), anh lái xe ngoài bốn mươi tuổi lấy làm lạ hỏi: các cụ tám mấy cả  mà sao còn thân nhau thế nhỉ, bây giờ chúng con ra trường ít năm sau là hoạ chăng nhớ được một hai đứa ở năm học cuối …TMCS mau miệng đỡ lời các bạn già mà rằng : Bon mình NHỚ rõ, ngày xưa, thày chúng mình dạy thế ! Anh lái xe phụ hoạ ngay “tắp lự” : “Ôi, bao giờ cho đến  NGÀY XƯA !”
Thì ra, trong cuộc sống của những người bình thường như TMCS và lũ bạn tuổi nhóc xa xưa, suốt đời không hề dính dáng đến chuyện mưu bá đồ vương như trong sử sách, cũng hàm chứa Triết lý Nhớ và Quên !
Hôm trước, TMCS đọc được phản hồi của một bạn đọc trong nước, người miền Trung, viết rằng: TMCS nhớ và yêu quê hương và các món ăn quê nhà thế có lẽ vì ở xa, trong lòng không chứa chất điều hờn tủi gì…như chúng tôi…. Xin bộc bạch: Ấy cũng nhờ NHỚ lời thày dạy khi nhỏ : Nhớ điều cần Nhớ, Quên việc phải Quên ! Sau ngày nghỉ “hiu”, TMCS cứ cưỡi xe máy qua cơ quan cũ là nhất định phải rẽ vào thăm đồng nghiệp, thời gian đầu còn có nhiều ngưởi cùng làm việc, sau dần dà quen toàn bạn trẻ mới ra trường vào cơ quan l/v, vì lứa đồng liêu lần lượt nghỉ hưu cả. Đến nay, cuối 2016 vẫn vậy, có dịp là như thường niên, “mổ lợn tiết kiệm” lấy ít $ mua vé bay khứ hồi về nước, ngoài anh chị em, họ hàng, làng nước… TMCS vẫn đi gặp các bạn học từ hồi thơ ấu, đến cơ quan thăm lớp trẻ kế tục thế hệ mình, ngoài ra còn triệu tập các lớp học viên học mình ngoại ngữ từ nhiều năm về trước…gặp nhau, tay bắt mặt mừng, vui cười hớn hở, mừng mừng tủi tủi… Bao nhiêu chuyện không vừa ý, hài lòng vấp váp, va chạm, đụng độ trong quá khứ với bất kỳ ai … đều coi như đổ xuống sông xuống biển hết…tẩy rửa, xoá sạch sẽ khỏi bộ nhớ. Trong cuộc đời phiêu bạt giang hồ, TMCS gặp đủ người Pháp, người Nhật, người Mỹ, người Hàn, người Australia…ở tận xứ sở họ, có người là cựu chiến binh từng tham chiến ở VN, giờ đây họ muốn là bạn với dân mình, nước mình…TMCS chả hận gì họ mà còn trải lòng với họ: khép lại quá khứ,…QUÊN điều phải QUÊN, NHỚ việc đáng NHỚ ! 
Có lẽ TMCS chỉ căm ghét bọn bành trướng ngoan cố, vô liêm sỉ, quyết tâm  chiếm đoạt các vùng lãnh thổ, lãnh hải, hải đảo của tổ quốc thân yêu. Điều này thì không bao giờ TMCS cho phép mình Quên ! Người Việt nào mà quên điều này thì TMCS coi họ không còn là người Việt nữa ! ( Chính vì thế mà TMCS đã dịch bài Hoàng hôn ải Bắc chẳng những ra Ăng-lê mà cả Chinese  để tung đi khắp thế giới  và giao kết thâm tình với nhà thơ Bùi Quang Thanh, tác giả  bài thơ đó)
Thôi, giấy vắn, ý lắm – tình dài, mời chư vị thưởng lãm tấm ảnh trên cùng. Đối với TMCS, đây không phải chỉ là cam, là chuối, là ngô mà TMCS hay thưởng thức sau giờ làm lụng ngoài vườn vào lúc “kiến” bò bụng mà HƠN THẾ NHIỀU : đó là NỖI NHỚ QUÊ HƯƠNG! Trời rét ăn vào ấm dạ, trời nóng ăn vào mát lòng. Đó cũng là chữ NHỚ mà thày đồ xưa đã dạy TMCS từ thuở tóc trái đào, quần chúc bâu, chân guốc mộc. Bài học Nhớ Quên không thể nào QUÊN cũng tương tự như những khúc ca trong GIAI ĐIỆU TỰ HÀO phát sóng vào Thứ bảy  cuối mỗi tháng trên VTV1 và VTV4 phát lại, tất cả cũng hao hao, na ná như những bài hát gắn với lịch sử Quê hương trong đêm kỉ niệm sinh nhật lần thứ 88 nhạc sĩ Phạm Tuyên, không phải chỉ dội vào thính giác mà thấm sâu và tận ngóc ngách thầm kín nhất trong tâm tưởng một lão già U90 đa tư, cả nghĩ…thông cảm cao độ với hoàn cảnh gia đình ông thời bùng nổ CM tháng  8/1945 ở Huế. PT chỉ là  người “dưng”, với TMCS  chả họ hàng dây mơ rễ má gì, chỉ hay gặp trước đây khi cùng đi họp phụ huynh học sinh ở HN với ông hoặc phu nhân Ánh Tuyết của ông. Ông là người tài hoa, có Tâm có Đức, cả nước yêu quý và ngưỡng mộ, còn TMCS chỉ là một khách giang hồ, lưu lạc chân trời góc biển, số phận quăng quật  đã quá nửa kiếp phong trần. Ông bà ( bà đã mất được bảy, tám năm – để lại cuốn hồi kí chân thực) và cháu Hồng Tuyến trăm công ngàn việc có thể đã quên TMCS, nhưng TMCS thì vẫn nhớ tất cả họ. Không học được cái TÀI của ông thì mình  cố học cái TÂM, cái ĐỨC của cả  ông và bà vậy. 
Nhớ và Quên tồn tại mọi nơi, mọi lúc, mọi người, ta cần xử lí tốt phạm trù này để cuộc đời ngày càng đẹp và ý nghĩa hơn!
Đó cũng là điều TMCS muốn tâm sự và củng cố chút thu hoạch từ bài học xa xưa trong mục THƯ GIÃN  kì này.
*GHI CHÚ:
Lâu ngày TMCS quên nhiều và ỷ vào tuổi tác thường lười tra cứu – chỉ còn mang máng : Chúc bâu ( có khi là trúc bâu cũng nên ? ) là loại vải “ta” dệt thủ công trên khung  cửi thành từng tấm. Mỗi tấm dài vài mét , chiều ngang (khổ vải) chừng 40cm. Khi mua bán vải, người xưa thường nói : vuông vải, tức là họ gấp thành từng đoạn 40x40cm. Td: mua ba vuông vải, tức là mua mảnh vải  dài 120cm, rộng 40cm. Thật là rất tiện lợi, thông minh chả cần dùng thước, đo đạc mất công, cồng kềnh phức tạp…
Thời gian và tuổi tác đã xoá mờ đi nhiều lắm những điều xưa kia vốn dĩ cực kì đơn giản và gần gũi với TMCS. Thảo nào mà đêm nhạc Phạm Tuyên lấy tên là NHỚ QUÊN ! Chí lí vậy thay !!!  Có lẽ vì thế mà các cô hàng bán vải ngày xưa được gọi là cô hàng tấm, tấm vải, tấm the, tấm lụa mà cũng thật buồn cười : TẤM CHỒNG, tại sao chồng lại cũng là TẤM  nhỉ? Lại còn TẤM LÒNG, mà lại chỉ Người TỐT mới có TẤM lòng, người ta chỉ nói TẤM lòng  vàng chứ có ai nói tấm lòng xấu xa đâu, khó  lí giải thật! Chợt nhớ :
Thân em như tấm lụa đào,
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai !
TMCS thầm nghĩ: Cô nào “nghêu ngao” ra câu này chắc cũng phải xinh lắm, vì TẤM lụa đào cơ mà ! 
TMCS suy bụng ta ra bụng người, chả  cứ NB, ai mà chả yêu và say mê cái ĐẸP, khác nhau là ở cái Tài nêu lên cảm thụ của mình…
Ôi! Tiếng Việt của mình sao mà thần thánh, kì diệu, đáng yêu đến vậy ! Chỉ riêng một chữ Tấm , chưa hiểu thấu đáo, đã thấy đẹp, thấy hay vô  cùng ! Xưa Phạm Quỳnh – thân phụ Phạm Tuyên viết: “Tiếng Việt còn, nước Nam còn”. Phạm Duy ( tức Phạm Duy Cẩn) soạn khúc hát để đời : Tôi yêu tiếng nước tôi… mà cô sơn ca tóc ngắn SV96 – Mỹ LInh từng hát như rót từng lời ca vào hồn thính giả… 
TMCS khá lẩm cẩm rồi, chỉ “CHÚA” sở trường nhớ “tào lao” vậy !
Nhân thể xin hỏi quý vị : về từ Hàng xén. 
Thơ Hoàng Cầm. Bên kia sông Đuống: 
Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu toả nắng…
Hàng xén là hàng thường bán ở chợ các thứ lặt vặt như kim chỉ,  giấy bút, bao diêm, xà phòng, khăn mặt… tóm lại là các thứ tạp hoá thường gồm gia dụng hàng ngày, rẻ tiền. Người bán thường là các bà, các chị…
Oái oăm là từ XÉN, thường thì bán thứ gì gọi là hàng nấy ( hàng vôi, hàng mắm, hàng muối, hàng tôm, hàng thịt, hàng cá…) , còn XÉN ở đây là gì?
TMCS ôm đầu nghĩ mãi chẳng ra đành suy luận loăng quăng: Xén là  cắt, tỉa ra từ cả khối lớn hơn: xén giấy thừa, xén bờ rào  cây cho phẳng…Hàng xén là hàng bán lẻ các thứ vặt chứ ko bán cả lô lớn. Chả biết gốc gác có phải thế không? Mong chờ sự chỉ dẫn cao minh từ quý vị).
Xin có thông điệp TỰ VỊNH bằng thất ngôn tứ tuyệt :
TỰ VỊNH
(TMCS)
Tối tăm, tẩn mẩn, hay tò mò,
Muốn biết thật nhiều, Giời chẳng cho.
Chạy vạy khắp nơi, xin chỉ giáo,
Sao đành không biết, chịu nằm co !
Thật là:
Nhớ Quên , đôi chữ lan man
Chưa chi đã gõ mấy trang lòng thòng..
Mong quý vị thông cảm về cái tội “dây cà dây muống” và “ đầu Ngô mình Sở” linh tinh, lang tang bất khả điều trị của TMCS !
Những dòng trên đây, Nhớ hay Quên đều vô thưởng vô phạt, quý vị  cứ yên tâm đọc tiếp phần  dưới về NB…
                                                              X
TRỞ LẠI VỚI NGUYỄN BÍNH…
Trên thi đàn VN từng có một thi “sãi”  được phong là ông Hoàng THƠ  TÌNH – nghe cứ hao hao cái  “hão danh” của Mr Đàm – trên đường phố: người trẻ gọi là Mixtơ Đàm, người già gọi là Me-xừ Đàm- được lăng xê là ông HOÀNG NHẠC VIÊT.  Đó là “ca công” Đàm Vĩnh Hưng, người trước đây từng chịu tai tiếng về lỗi  bất kính với cố lão nhạc sĩ “Nguyễn Ánh 9 “ – chả biết vì sao trên giấy tờ chính thức ông không dùng “Chín “ mà lại dùng chữ sô  9 – rồi gần đây Mixtơ Đàm lại bị lùm xùm về cái video vừa khóc mếu máo vừa kể tội mẹ mình thua bạc bắt con trai phải trả nợ 20 tỉ đồng trên “phây-xờ-búc” (face book), khiến mạng xã hội dậy sóng với hai luồng ý kiến  trái chiều: bên này thông cảm, phía kia mắng mỏ: hay hớm gì mà đưa lên “phây” chuyện này…
Trong cái nghề hát xướng đã có ông Hoàng thì trong thơ cũng cố giữ một ông Hoàng cho “cân”  nhau ! Không ai khác là ông Hoàng thơ tình : Xuân Diệu.
 Xin vội có đôi lời về ông Hoàng thơ Tình : Ông này có bằng cấp khá cao trong số thi sĩ được giới thiệu trong thi nhân VN: đỗ Tú tài tây, làm tham tán Thương chính (douane : tương đương sở Hải quan, Thuế quan bây giờ) – chắc là rành thơ Tây hơn nhiều thi sĩ đương thời chưa học đến bậc học ấy. Kính mời quý vị nhàn lãm áng thơ tình sau :
VÌ SAO? (1938 ?)
Tặng Đoàn Phú Tứ 
Bữa trước giêng hai dưới nắng đào, 
Nhìn tôi cô muốn hỏi “vì sao?” 
Khi tôi đến kiếm trên môi đẹp 
Một thoáng cười yêu thoả khát khao. 
– Vì sao giáp mặt buổi đầu tiên, 
Tôi đã đày thân giữa xứ phiền, 
Không thể vô tình qua trước cửa, 
Biết rằng gặp gỡ đã vô duyên? – 
Ai đem phân chất một mùi hương 
Hay bản cầm ca! Tôi chỉ thương, 
Chỉ lặng chuồi theo giòng cảm xúc 
Như thuyền ngư phủ lạc trong sương 
Làm sao cắt nghĩa được tình yêu! 
Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều 
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt, 
Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu… 
Cô hãy là nơi mấy khóm dừa 
Dầm chân trong nước, đứng say sưa, 
Để tôi là kẻ qua sa mạc 
Tạm lánh hè gay; – thế cũng vừa. 
Rồi một ngày mai tôi sẽ đi. 
Vì sao, ai nỡ bỏ làm chi! 
Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá 
Chỉ biết yêu thôi, chẳng hiểu gì.
Nguồn: Tuyển tập Tự lực văn đoàn (tập III), NXB Hội nhà văn, 2004
Rõ ràng tình tứ và lời thơ rất “tân thời”, rất bóng bảy, nhè nhẹ kiểu Tây. Nhà thơ chả mấy khi -dù là bóng gió xa xôi-  có bài thơ về tình yêu với một cô nàng cụ thể nào cả, nhưng lại vồ vập như với một giai nhân bằng xương bằng thịt trước thiên nhiên : Hỡi Xuân hồng ta muốn CẮN vào Ngươi  (Thơ thơ 1938 – tặng Vũ đình Liên), nhưng nhiều khi lại  cố “giả bộ ngây thơ cụ” , như hai câu cuối bài thơ trên:
Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá 
Chỉ biết yêu thôi, chẳng hiểu gì.
Tất nhiên , giọng điệu “tân thời” , hành vi và rung cảm kiểu “Âu hoá” đó chỉ  hợp gu với  giới thông thái “tân học” có trình độ học vấn từ bậc thành chung ( Trung học cơ sở – cấp hai) trở lên  còn với quảng đại quần chúng  – vào cái thời mà ngót 100% nông dân ta còn mù chữ abc thì đại loại thơ của Ông Hoàng Thơ tình này không lọt qua luỹ tre xanh được nói chi vào đến trái tim chân chất của những người cả đời cày cấy, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời được ! Bà con thôn xóm, anh thợ cày chị thơ cấy nghe những giọng  điệu của Người kĩ nữ, Vội vàng, Vì sao…ngơ ngác   như vịt nghe sấm…
Nhưng họ rất mê Lỡ bước sang ngang, Chân quê,…của Nguyễn Bính. Họ thuộc lòng để hát ru em, ru con, rồi ru cháu…. Đó là tiếng lòng của họ, tâm sự của họ, mối tình của họ. Họ lấy thơ NB làm ca từ, lấy giai điệu hát ru có sẵn từ ngàn đời, vạn kiếp làm nền nhạc phổ vào thơ NB mà ngân nga theo nhịp kẽo kẹt của tiếng võng với đủ cung bậc luyến láy trong những tiếng à ơi ơi, ạ ời ời… …… bởi thế mới có câu nói bất hủ của cô lái đò Trần thị Thoa  trên bến sông Châu  với nhà văn Chu Văn  khi hay tin Nguyễn Bính qua đời: “ Giá mà chết thay được bác ấy…” Còn ông Hoàng thơ tình XD ngất ngưởng trên ngai vàng lạnh lẽo, cô đơn chắc chắn chỉ loanh quanh chốn phồn hoa, trên đường nhựa và dưới ánh điện các đô thị mà thôi… 
Nguyễn Bính là một nhà thơ bình dân. Hoài Thanh và Hoài Chân đã viết: trong nhiều nhà thơ của phong trào thơ Mới, chỉ có số it có bằng tú tài hoặc đại học (ông hoàng thơ tình XD, Nguyễn Nhược Pháp..: tú tài tây, ông Cù  Huy Cận kĩ sư canh nông…), còn lại đa số là thành chung trở xuống. Trong đó nữ sĩ Anh Thơ học dở dang Cours Élémentaire (chưa thi Sơ học yếu lược – lớp ba tiểu học, xưa gọi là lớp Sơ đẳng) đã bỏ học sau buổi bị phạt quỳ trên lớp. Nguyễn Bính thì chỉ học ở nhà do ông anh ruột là Trúc Đường Nguyễn Mạnh Phác kèm cặp… Có lẽ theo TMCS, những thi sĩ, cả văn sĩ không có hoặc ít bằng cấp như Anh Thơ, Nguyễn Bính, Tô Hoài (Dế  mèn phiêu li kí)… lại có lợi thế : họ nhìn con người và xã hội, họ rung động và xúc cảm, vui buồn, thương khóc…đều thuần Việt, ngôn từ, hình tượng của họ chủ yếu từ nguồn dân gian… không hoặc rất ít bị lai căng như các vị giỏi tiếng Tây từ xấp tú tài trở lên.
Riêng Nguyễn Bính thì cả đến phong thái cư xử, tác phong sinh hoạt cũng vẫn đặc sệt nông dân: hút thuốc lào, uống nước vối, chè tươi , la cà ngay hàng quán bên đường, trong chợ…Anh Thơ  trong hồi kí Viết từ sông Thương  có phần ngoa ngôn nhưng cũng có phần tả thực : Trong khi Anh Thơ trang điểm quý phái, tân thời với tóc bồng, áo dài tha thướt, nước hoa, kiềng Huế… hình dung sẽ gặp một NB thanh cao tao nhã như Kim Trọng (lỏng buông tay khấu , bước lần dặm băng…) thì lại thấy một anh chàng tóc tai lộn xộn, vứt vội cái điều cày đang rít dở, từ quán nước chân đê lao ra, cười với hàm răng  sạm khói thuốc và phả hơi thuốc vào sát mặt giai nhân…
Người như NB chỉ hợp với Nhi -em cô hàng rượu quê nhà, đó là hiện thân của Diệm , cô bạn nhí – vào Thơ NB có tên là NHI- xinh xinh từ bé, người đồng hương của NB , chị cô bé cũng rất  bình dị, họ hợp với nhau và thương mến nhau được. Nguyễn Bính vương vấn với Anh Thơ, Tôn nữ… chẳng khác nào câu ví von xa xưa: Đũa mốc chòi mâm son! 
Nguyễn Bính thích “xê dịch” giống như Nguyễn Tuân, cây đại thụ văn xuôi về thể kí, tản văn, truyên ngắn, phóng sự…cũng vừa đa tài , vừa đa dạng nhưng NT không đa tình như Nguyễn Bính…Chuyện kể rằng sau khi Vang bóng một thời tiếng tăm lừng lẫy khắp ba kỳ Trung Nam Bắc thì rất nhiều nữ độc giả trẻ mê mệt vì văn tài của Nguyễn Tuân…Có một gã đã giả danh tự nhận là Nguyễn Tuân nhờ giọng  nói Bắc kỳ mà cưới được một thiếu nữ  xinh đẹp. Sau ngày  giải phóng Sài Gòn, Nguyễn Tuân vào Nam sáng tác. Có người biết chuyện cô gái cưới phải Nguyễn Tuân giả bây giờ đang sống cô đơn. muốn bảo Nguyễn Tuân tới gặp…Nguyễn Tuân trả lời thẳng thắn vì chút tiếng tăm của mình mà làm người ta lỡ dở  còn mặt mũi nào mà gặp ! 
Nguyễn Bính xê dịch từ Nam định lên Hà nội , rồi từ Hà nội đi các tỉnh  Bắc kì, và để lại những bài thơ, những mối tình…Nổi bật nhất là tình Sông Thương ở Bắc giang với Anh thơ với nhiều áng thơ tình hay nhưng buồn. Lên Thái nguyên NB để lại bức tranh thơ đẹp như một bức sơn dầu đậm nét Trung du :
ĐƯỜNG RỪNG CHIỀU (Thơ Thái Nguyên)
Nguyễn Bính
Lữ hành bắt gặp quán cơm,
Bầy ong bắt gặp mùi thơm hoa rừng.
Đèo cao con suối ngập ngừng,
Nắng thoai thoải nắng chiều lưng lửng chiều.
Trăng non như một cành diều,
Trẻ con phất dối thả liều trên mây.
Chim nào kêu mỏi ngàn cây,
Ngẩn ngơ đôi chiếc ngựa gầy dong xe.
Đồi sim dan díu nương chè,
Trắng phau khói núi, xanh lè áo ai…
Còn đây là thơ Phú thọ : 
XA CÁCH :
Nhà em cách bốn quả đồi
Cách ba ngọn suối cách đôi cánh rừng
Nhà em xa cách quá chừng
Em van anh đấy, anh đừng yêu em.
và thơ Phú thọ nữa :

Nguyễn Gia Thiều : Cung oán ( tiếp) Nguyễn Chân dịch sang Pháp Nga

293.Miếng cao lương phong lưu nhưng lợm

Mùi hoắc lê thanh đạm mà ngon

Cùng nhau một giấc hành môn

Lau nhau ríu rít cò con cũng tình

 

293.Les mets sont recherchés et raffinés mais causent des nausées

Les simples légumes sont frugaux, mais appétissants

Vivons ensemble sous une humble cabane

Avec de nombreux petits enfanrs, c’est bien là le bonheur

 

293.Изысканные еда деликатные, но тошные

Овошные блюда скромны, но вкусные

Вместе двоим проживём под скромой крышой

Со многими детишкими как птичкими, точное счастье

 

297.Mình có biết phận mình ra thế

Dải kết điều ỏe ọe làm chi?

Thà rằng cục kịch nhà quê

Dẫu lòng nũng nịu nguyệt kia hoa này

 

297.Si j’avais su que mon sort serait comme cela

Lié les fils d’amour comme simagrée, je n’aurais pas

Et j’aurais choisi une vie à la campagne

Sans ferais pas dorloter ni lune et ni fleur

 

297.Знала бы, что своя судьба так откланялась

Зачем мне эти притворности с красными нитками

Не луше бы была нескладной крестьянкой

Не вызывала капризы с луной и цветом

 

301.Chiều tịch mịch đã gầy bóng thỏ

Vẻ tiêu tao lại võ hoa đèn

Muốn đem ca tiếu giải phiền

Cười nên tiếng khóc, hát nên  giọng sầu

 

301….S’estompe silencieusement l’ombre de la lune

Mélancoliquement s’amaigrit la flamme de la lampe

Je voudrais rire et chanter pour trancher mon chagrin

Mais les rires  se font sanglots et les chansons-gémissements

 

301.Тихим вечером стушевается свет луны

Унылый вид кончика фитиля лампы

Хочется мне петь и смеять чтоб разгонять тоску

Но cмехи стались плачами, а песни-с грусным тоном

 

305.Ngọn tâm hỏa đốt rầu nét liễu

Giọt hồng băng thấm ráo lòng son

Dơ buồn đến cảnh con con

Chè chuyên nước nhất, hương dồn khói đôi

 

305.La flamme de mon cœur brûle mes beaux sourcils

Mes larmes, tel du givre enlèvent tout mon fard

Ma honte  et tristesse se répandent sur toute choses

Le thé à peine infusé, l’encens étire des volutes

 

305.Cердечная пламя скорбит мои брови

Красный иней сушит мои алые губы

Печаль моя пропитывает малые веши

Перед мной пресный чай, ладан на два завитка

 

309.Trong gang tấc mặt trời xa mấy

Phận hẩm hiu dường ấy vì đâu

Sinh li đòi rất thời ngâu

Một năm còn thấy mặt nhau một lần

 

309.Seul d’un empan me sépare dе l’Auguste Soleil

Qui est imputable de ma triste destiné

Faut-il prolonger сette séparation comme les époux Ngâu

Mais ils peuvent se revoir une fois chaque année

 

309.Я разделена от солнца-одна пядь только

Отчего такая несчастливая моя судьба?

Хуже даже супружеских Пастуха и Ткачихи

Которые ежегодно могут один раз встретится

 

313.Huống chi cũng lạm phần son phấn

Luống năm năm chực phận buồng không

Khéo vô duyên với cửu trùng

Thắm vào nhuộm lại tơ hồng cho tươi

 

313.D’autant plus, je suis ornée des rouges et des fards

Mais d’année en année je reste dans ma chambre déserte

Que vous êtes insensible, Mon Empereur!

De quel pourpre faut-il biser les anciens fils d’’hymen?

 

313.Тем более,  я тоже одна красавица

Но год за годом ждаю его в пустой комнате

Как такой лишённый обаяня, Король!

Как могла краснить нити, что бы они посвежели

 

317.Vườn thượng uyển hoa cười với nắng

Lối di về ai chẳng chiều ong

Duyềnh Nhâm một dải nông nông

Bóng dương bên ấy đứng trông bên này

 

317.Dans les jardins royaux les fleurs sourirent au soleil

Le chemin est libre, qui n’aurait pas aider les abeilles

Un ruisseaau ombragé peu profond nous sépare

Debout sur un bord, je contemple les peupliers sur l’autre

 

317.В королевском саду цветы смеятся под солнцем

Свободный путь ко мне, кто запрещает пчёлям

Неглубокий тенистый ручей нас разделяет

На одном береге, я гляжу на тополь на другом