TMCS :DẠO ĐẦU TTTB@ No98

Inline image
   Ảnh:TMCS
THƯ GIÃN
ĐÔI DIỀU TẢN MẠN VỀ NHỚ VÀ QUÊN
Với TMCS, viết “Tản mạn” là loại việc “không vội được đâu” cứ từng câu từng chữ, khề khà thư thả mà xả “stress” cho người viết – ( ý nói TMCS không hẳn đang trong trạng thái “stress” : être stressé, être tendu, cần giải toả, mà chỉ muốn “kể nỗi hàn ôn” như bà H Thanh Quan thôi !). TMCS gõ mục này cũng chịu không lường trước được dài ngắn, không có mục đích, không theo trình tự, nội dung quy ước nào cả, tức là hoàn toàn ngẫu hứng và phóng túng khi “gõ” , tựa như người ôm cây đàn tì bà thuở xưa hay ghi-ta thời nay, trăng thanh gió mát, một mình một cõi mây trời non nước mông mênh, lênh đênh vô tư vô lự, buông một lá thuyền… cứ tuỳ cái hứng nổi lên trong lòng mà bật ra các cung bậc âm thanh “đầu Ngô, mình Sở”, tuỳ tiện chứ không theo bài bản sẵn có nào cả, cốt sao cho tâm hồn mình được buông chùng nhẹ nhàng, thanh thản, đồng thời cũng là đề phòng và chữa trị  “stress” cho bạn đọc nào  đồng cảm với sự thú vị và hợp “gu”. Vị nào không có nhu cầu, không nhất thiết đọc mục này ! Vị nào đang thư thái (không cần xả stress), nhưng tò mò, xin mời thử làm “nghệ sĩ – tài tử dân gian” đọc chơi bời dăm mươi dòng , thích thì đọc tiếp, ngán thì “phăng teo” ở bất kì dòng nào, câu nào, chữ nào… miến là có ngó đến cho bõ công gõ kí cách kì cạch là TMCS vui lòng hởi dạ lắm lắm rồi…Nói văn vẻ ra thì đây chính là lúc TMCS đang làm cái việc :
                            Thong dong buông một điệu đàn,
                       Chùng tơ lòng gửi muôn ngàn trùng xa…
                                                                          TMCS
                                                     X
Nhớ và Quên là hai điều trái ngược nhau hoàn toàn như : trắng với đen,  ngày với đêm, nóng với lạnh, âm với dương…v.v và v.v…Dưới đây là những dòng tản mạn lan man – khôn lường trước nội dung và độ dài – về hai điều trái ngược này…
Hơn tám chục năm ròng tồn tại. lăn lóc trong cõi nhân gian, nếm trải khá nhiều buồn vui, sướng khổ, cay đắng, ngọt bùi…dẫu rằng kinh lịch so với nhiều người quanh mình, chứ chưa dám so với cả bàn dân thiên hạ, chưa bằng nửa hạt bụi so với  vũ trụ mênh mông, nhưng TMCS đã đủ thấm thía ngộ ra rằng trong khái niệm NHỚ  VÀ QUÊN có khía cạnh rất biện chứng: Không phải điều gì cũng nên NHỚ, chẳng phải việc gì cũng được QUÊN, ngược lại có nhiều điều bắt buộc phải NHỚ mà cũng có những việc nhất thiết phải QUÊN !  
Chợt nhớ thuở còn để tóc trái đào, mặc áo dài thâm, quần chúc bâu* trắng, ngày lại ngày, loẹt quẹt lê guốc mộc đến nhà thày đồ quạt nước, pha trà, thông điếu… và học chữ thánh hiền.  Sau này khi ngấp nghé tuổi  ‘hiu”, TMCS được ngồi vào ghế làm Thày dạy tại gia, cũng dạy học viên phải quét nhà (trong gian phòng dùng làm lớp học), rửa ấm chén, đun nước, pha trà nhưng thày trò cùng nhâm nhi trước và sau giờ học Ăng-lê hoặc Frăng-xe cho học viên ta, hoặc tiếng Việt cho  s/v nước ngoài… Học viên tây đầm biết chuyện, thấy hay hay cũng xin được theo gương học viên ta làm đủ mọi việc “tạp nham” theo bổn phận của một môn sinh nơi cửa Khổng sân Trình thời @, cốt để giữ lấy chữ Lễ trong quan hệ Thày và Trò… khiến tình cảm thày trò gắn bó đằm thắm, sâu nặng  mãi mãi…Riêng tây đầm thì thấm thía hiểu được một nét “văn hoá” cổ điển đã mai một ở VN mà thày đã cất công sưu tầm, khôi phục nhưng có cải tiến ở chỗ thày trò cùng thưởng trà do học trò rửa ấm chén, đun nước, pha trà chính trong căn phòng mà họ đã quét dọn tinh tươm…Các em cả TA và TÂY cho là suốt đời không quên được cung cách học ở nhà Thày: Vừa HỌC CHỮ NGHĨA  vừa HỌC VĂN HOÁ . Hàng xóm thuở ấy có người cho là TMCS lập dị, có người cho là “đại sáng kiến” trong khoa Sư phạm thời a còng @… mà chẳng phải Thày, Cô nào trong giới “tư thục tại gia” cũng có đủ “ đảm lượng” và “vi tính” (uy tín) để thu phục học viên răm rắp tự nguyên hăng hái làm việc này… ( TMCS không hề có tư tưởng lợi dụng lao động của các em thay vì thuê ô-xin mà chủ yếu muốn bảo tồn và cải biên chút ít một nét VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG mà lớp trẻ đã không được biết, các bạn nước ngoài lại càng không biết gì . Tất nhiên việc giới thiệu nhiều v/đ khác là quan trọng hơn. Tdụ : các thành tựu KTXH, các chiến thắng, các địa điểm du lịch hái ra  $… nhưng  chớ nên coi nhẹ v/đ VĂN HOÁ VN trong con mắt người nước ngoài…Cũng cực kì quan trọng đấy, lâu nay hình như có một số  người chưa quan tâm lắm…) .
Qua đây có thể thấy rõ : Truyền thống tốt đẹp của cha ông để lại ta  phải cần Nhớ chớ Quên  và có thể cải biên chút ít cho phù hợp thời đại. 
Thời TMCS đi học, có hôm  Thày đồ cho bài chỉ có mươi chữ: 
施 恩 不 求 报 , 受 恩 莫 可 忘  
(Thi ân bất cầu báo- Thọ ân mạc khả vong: Làm ơn không cầu  báo đáp, Chịu ơn không thể  quên đi)
thày viết chữ son cho các trò về tô, rồi thày giảng cả  buổi về làm ơn và chịu ơn , về Nhớ và Quên. Thày còn dẫn cả tích trong Kiều :
     
      Nhớ khi lỡ bước sẩy vời
Non vàng chưa dễ đền bồi tấm thương
      Nghìn vàng gọi chút lễ thường
Mà lòng Phiếu mẫu mấy vàng cho cân.
( Thày giảng  Vời là vị, tức địa vị, vị trí – chưa thấy có chú giải nào khác )
Hơn bảy mươi năm đã trôi qua từ buổi học ấy mà sự tích Hàn Tín lúc hàn vi nghèo đói từng phải sống nhờ bát cơm của bà già giặt giũ, lại có lúc bị anh hàng thịt làm nhục bắt chui qua khố, đến khi vinh hiển đã trả ơn bà Phiếu mẫu ra sao còn in đậm trong tâm trí TMCS cùng với tích Kiều hậu đãi bà quản gia và vãi  Giác Duyên…khi Từ Hải dấy binh thành công…
 Lại lan man chợt nhớ khi được dịch giả kì cựu của TTTB@ mà TMCS thường tôn xưng là Đại huynh TPN, tặng cho cuốn Histoire de Kiều (bản dịch Lê Cao Phan), khi đọc đến bốn câu trên, TMCS đã đọc lời chú giải sau của LCP :
Phiếu mẫu : la vieille lavandière Phiếu avait donné un bol de riz à Hàn Tín (sous les Hán en Chine)…Devenu plustard premier ministre, ce dernier en l’en récompensa par mile taels d’or. 
Ở đây không bàn về nghệ thuật chuyển ngữ bốn câu trên trong Truyện Kiều của LCP mà thấy rằng nếu không biết đầy đủ tích  Hàn Tín từ lúc hàn vi, đến khi vinh hiển rồi chết dưới tay Lã Hậu cũng như không biết tí teo gì về các nhân vật liên quan như Trương Lương, Tử Phòng , Tiêu Hà, Hán vương, Sở vương…trong bối cảnh lịch sử hỗn tạp thời đó thì hình như sự thưởng thức mấy câu Kiều trên e có phần hạn chế. Nhưng cũng khó đòi hỏi dịch giả LCP chú giải tỉ mỉ hơn, vì trong truyện Kiều còn vô số điển tích làm sao chú giải kĩ lưỡng từng điển được. Nhưng riêng v/đ “UN BOL DE RIZ” thì có vẻ chưa ổn. Cả thời gian Hàn Tín đói khát, bà Phiếu mẫu đã bao lần cho cơm  chứ đâu chỉ có một lần mà  ghi chú là “một bát cơm “ ! Trong tích này: Hàn Tín NHỚ ơn Phiếu mẫu là đúng đạo nghĩa, nhưng không QUÊN được Hận với anh hàng thịt để trả đũa là chưa “quân tử” lắm…
Hoá ra trong Bắc sử cũng có sự tích hàm chứa triết lý Nhớ và Quên đáng cho hậu thế suy ngẫm !
TMCS từ hồi nghe thày đồ giảng về Nhớ và Quên đã luôn xét mình để xác định Nhớ và Quên cho đúng với lời dạy của thày. 
Còn nhớ có hôm ngồi xe taxi cùng ba  anh bạn học từ thời lớp Đồng ấu ( cours Enfantin) – xưa gọi nôm na là lớp “bét” bậc tiểu học ( tương đương lớp một  thời nay), anh lái xe ngoài bốn mươi tuổi lấy làm lạ hỏi: các cụ tám mấy cả  mà sao còn thân nhau thế nhỉ, bây giờ chúng con ra trường ít năm sau là hoạ chăng nhớ được một hai đứa ở năm học cuối …TMCS mau miệng đỡ lời các bạn già mà rằng : Bon mình NHỚ rõ, ngày xưa, thày chúng mình dạy thế ! Anh lái xe phụ hoạ ngay “tắp lự” : “Ôi, bao giờ cho đến  NGÀY XƯA !”
Thì ra, trong cuộc sống của những người bình thường như TMCS và lũ bạn tuổi nhóc xa xưa, suốt đời không hề dính dáng đến chuyện mưu bá đồ vương như trong sử sách, cũng hàm chứa Triết lý Nhớ và Quên !
Hôm trước, TMCS đọc được phản hồi của một bạn đọc trong nước, người miền Trung, viết rằng: TMCS nhớ và yêu quê hương và các món ăn quê nhà thế có lẽ vì ở xa, trong lòng không chứa chất điều hờn tủi gì…như chúng tôi…. Xin bộc bạch: Ấy cũng nhờ NHỚ lời thày dạy khi nhỏ : Nhớ điều cần Nhớ, Quên việc phải Quên ! Sau ngày nghỉ “hiu”, TMCS cứ cưỡi xe máy qua cơ quan cũ là nhất định phải rẽ vào thăm đồng nghiệp, thời gian đầu còn có nhiều ngưởi cùng làm việc, sau dần dà quen toàn bạn trẻ mới ra trường vào cơ quan l/v, vì lứa đồng liêu lần lượt nghỉ hưu cả. Đến nay, cuối 2016 vẫn vậy, có dịp là như thường niên, “mổ lợn tiết kiệm” lấy ít $ mua vé bay khứ hồi về nước, ngoài anh chị em, họ hàng, làng nước… TMCS vẫn đi gặp các bạn học từ hồi thơ ấu, đến cơ quan thăm lớp trẻ kế tục thế hệ mình, ngoài ra còn triệu tập các lớp học viên học mình ngoại ngữ từ nhiều năm về trước…gặp nhau, tay bắt mặt mừng, vui cười hớn hở, mừng mừng tủi tủi… Bao nhiêu chuyện không vừa ý, hài lòng vấp váp, va chạm, đụng độ trong quá khứ với bất kỳ ai … đều coi như đổ xuống sông xuống biển hết…tẩy rửa, xoá sạch sẽ khỏi bộ nhớ. Trong cuộc đời phiêu bạt giang hồ, TMCS gặp đủ người Pháp, người Nhật, người Mỹ, người Hàn, người Australia…ở tận xứ sở họ, có người là cựu chiến binh từng tham chiến ở VN, giờ đây họ muốn là bạn với dân mình, nước mình…TMCS chả hận gì họ mà còn trải lòng với họ: khép lại quá khứ,…QUÊN điều phải QUÊN, NHỚ việc đáng NHỚ ! 
Có lẽ TMCS chỉ căm ghét bọn bành trướng ngoan cố, vô liêm sỉ, quyết tâm  chiếm đoạt các vùng lãnh thổ, lãnh hải, hải đảo của tổ quốc thân yêu. Điều này thì không bao giờ TMCS cho phép mình Quên ! Người Việt nào mà quên điều này thì TMCS coi họ không còn là người Việt nữa ! ( Chính vì thế mà TMCS đã dịch bài Hoàng hôn ải Bắc chẳng những ra Ăng-lê mà cả Chinese  để tung đi khắp thế giới  và giao kết thâm tình với nhà thơ Bùi Quang Thanh, tác giả  bài thơ đó)
Thôi, giấy vắn, ý lắm – tình dài, mời chư vị thưởng lãm tấm ảnh trên cùng. Đối với TMCS, đây không phải chỉ là cam, là chuối, là ngô mà TMCS hay thưởng thức sau giờ làm lụng ngoài vườn vào lúc “kiến” bò bụng mà HƠN THẾ NHIỀU : đó là NỖI NHỚ QUÊ HƯƠNG! Trời rét ăn vào ấm dạ, trời nóng ăn vào mát lòng. Đó cũng là chữ NHỚ mà thày đồ xưa đã dạy TMCS từ thuở tóc trái đào, quần chúc bâu, chân guốc mộc. Bài học Nhớ Quên không thể nào QUÊN cũng tương tự như những khúc ca trong GIAI ĐIỆU TỰ HÀO phát sóng vào Thứ bảy  cuối mỗi tháng trên VTV1 và VTV4 phát lại, tất cả cũng hao hao, na ná như những bài hát gắn với lịch sử Quê hương trong đêm kỉ niệm sinh nhật lần thứ 88 nhạc sĩ Phạm Tuyên, không phải chỉ dội vào thính giác mà thấm sâu và tận ngóc ngách thầm kín nhất trong tâm tưởng một lão già U90 đa tư, cả nghĩ…thông cảm cao độ với hoàn cảnh gia đình ông thời bùng nổ CM tháng  8/1945 ở Huế. PT chỉ là  người “dưng”, với TMCS  chả họ hàng dây mơ rễ má gì, chỉ hay gặp trước đây khi cùng đi họp phụ huynh học sinh ở HN với ông hoặc phu nhân Ánh Tuyết của ông. Ông là người tài hoa, có Tâm có Đức, cả nước yêu quý và ngưỡng mộ, còn TMCS chỉ là một khách giang hồ, lưu lạc chân trời góc biển, số phận quăng quật  đã quá nửa kiếp phong trần. Ông bà ( bà đã mất được bảy, tám năm – để lại cuốn hồi kí chân thực) và cháu Hồng Tuyến trăm công ngàn việc có thể đã quên TMCS, nhưng TMCS thì vẫn nhớ tất cả họ. Không học được cái TÀI của ông thì mình  cố học cái TÂM, cái ĐỨC của cả  ông và bà vậy. 
Nhớ và Quên tồn tại mọi nơi, mọi lúc, mọi người, ta cần xử lí tốt phạm trù này để cuộc đời ngày càng đẹp và ý nghĩa hơn!
Đó cũng là điều TMCS muốn tâm sự và củng cố chút thu hoạch từ bài học xa xưa trong mục THƯ GIÃN  kì này.
*GHI CHÚ:
Lâu ngày TMCS quên nhiều và ỷ vào tuổi tác thường lười tra cứu – chỉ còn mang máng : Chúc bâu ( có khi là trúc bâu cũng nên ? ) là loại vải “ta” dệt thủ công trên khung  cửi thành từng tấm. Mỗi tấm dài vài mét , chiều ngang (khổ vải) chừng 40cm. Khi mua bán vải, người xưa thường nói : vuông vải, tức là họ gấp thành từng đoạn 40x40cm. Td: mua ba vuông vải, tức là mua mảnh vải  dài 120cm, rộng 40cm. Thật là rất tiện lợi, thông minh chả cần dùng thước, đo đạc mất công, cồng kềnh phức tạp…
Thời gian và tuổi tác đã xoá mờ đi nhiều lắm những điều xưa kia vốn dĩ cực kì đơn giản và gần gũi với TMCS. Thảo nào mà đêm nhạc Phạm Tuyên lấy tên là NHỚ QUÊN ! Chí lí vậy thay !!!  Có lẽ vì thế mà các cô hàng bán vải ngày xưa được gọi là cô hàng tấm, tấm vải, tấm the, tấm lụa mà cũng thật buồn cười : TẤM CHỒNG, tại sao chồng lại cũng là TẤM  nhỉ? Lại còn TẤM LÒNG, mà lại chỉ Người TỐT mới có TẤM lòng, người ta chỉ nói TẤM lòng  vàng chứ có ai nói tấm lòng xấu xa đâu, khó  lí giải thật! Chợt nhớ :
Thân em như tấm lụa đào,
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai !
TMCS thầm nghĩ: Cô nào “nghêu ngao” ra câu này chắc cũng phải xinh lắm, vì TẤM lụa đào cơ mà ! 
TMCS suy bụng ta ra bụng người, chả  cứ NB, ai mà chả yêu và say mê cái ĐẸP, khác nhau là ở cái Tài nêu lên cảm thụ của mình…
Ôi! Tiếng Việt của mình sao mà thần thánh, kì diệu, đáng yêu đến vậy ! Chỉ riêng một chữ Tấm , chưa hiểu thấu đáo, đã thấy đẹp, thấy hay vô  cùng ! Xưa Phạm Quỳnh – thân phụ Phạm Tuyên viết: “Tiếng Việt còn, nước Nam còn”. Phạm Duy ( tức Phạm Duy Cẩn) soạn khúc hát để đời : Tôi yêu tiếng nước tôi… mà cô sơn ca tóc ngắn SV96 – Mỹ LInh từng hát như rót từng lời ca vào hồn thính giả… 
TMCS khá lẩm cẩm rồi, chỉ “CHÚA” sở trường nhớ “tào lao” vậy !
Nhân thể xin hỏi quý vị : về từ Hàng xén. 
Thơ Hoàng Cầm. Bên kia sông Đuống: 
Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu toả nắng…
Hàng xén là hàng thường bán ở chợ các thứ lặt vặt như kim chỉ,  giấy bút, bao diêm, xà phòng, khăn mặt… tóm lại là các thứ tạp hoá thường gồm gia dụng hàng ngày, rẻ tiền. Người bán thường là các bà, các chị…
Oái oăm là từ XÉN, thường thì bán thứ gì gọi là hàng nấy ( hàng vôi, hàng mắm, hàng muối, hàng tôm, hàng thịt, hàng cá…) , còn XÉN ở đây là gì?
TMCS ôm đầu nghĩ mãi chẳng ra đành suy luận loăng quăng: Xén là  cắt, tỉa ra từ cả khối lớn hơn: xén giấy thừa, xén bờ rào  cây cho phẳng…Hàng xén là hàng bán lẻ các thứ vặt chứ ko bán cả lô lớn. Chả biết gốc gác có phải thế không? Mong chờ sự chỉ dẫn cao minh từ quý vị).
Xin có thông điệp TỰ VỊNH bằng thất ngôn tứ tuyệt :
TỰ VỊNH
(TMCS)
Tối tăm, tẩn mẩn, hay tò mò,
Muốn biết thật nhiều, Giời chẳng cho.
Chạy vạy khắp nơi, xin chỉ giáo,
Sao đành không biết, chịu nằm co !
Thật là:
Nhớ Quên , đôi chữ lan man
Chưa chi đã gõ mấy trang lòng thòng..
Mong quý vị thông cảm về cái tội “dây cà dây muống” và “ đầu Ngô mình Sở” linh tinh, lang tang bất khả điều trị của TMCS !
Những dòng trên đây, Nhớ hay Quên đều vô thưởng vô phạt, quý vị  cứ yên tâm đọc tiếp phần  dưới về NB…
                                                              X
TRỞ LẠI VỚI NGUYỄN BÍNH…
Trên thi đàn VN từng có một thi “sãi”  được phong là ông Hoàng THƠ  TÌNH – nghe cứ hao hao cái  “hão danh” của Mr Đàm – trên đường phố: người trẻ gọi là Mixtơ Đàm, người già gọi là Me-xừ Đàm- được lăng xê là ông HOÀNG NHẠC VIÊT.  Đó là “ca công” Đàm Vĩnh Hưng, người trước đây từng chịu tai tiếng về lỗi  bất kính với cố lão nhạc sĩ “Nguyễn Ánh 9 “ – chả biết vì sao trên giấy tờ chính thức ông không dùng “Chín “ mà lại dùng chữ sô  9 – rồi gần đây Mixtơ Đàm lại bị lùm xùm về cái video vừa khóc mếu máo vừa kể tội mẹ mình thua bạc bắt con trai phải trả nợ 20 tỉ đồng trên “phây-xờ-búc” (face book), khiến mạng xã hội dậy sóng với hai luồng ý kiến  trái chiều: bên này thông cảm, phía kia mắng mỏ: hay hớm gì mà đưa lên “phây” chuyện này…
Trong cái nghề hát xướng đã có ông Hoàng thì trong thơ cũng cố giữ một ông Hoàng cho “cân”  nhau ! Không ai khác là ông Hoàng thơ tình : Xuân Diệu.
 Xin vội có đôi lời về ông Hoàng thơ Tình : Ông này có bằng cấp khá cao trong số thi sĩ được giới thiệu trong thi nhân VN: đỗ Tú tài tây, làm tham tán Thương chính (douane : tương đương sở Hải quan, Thuế quan bây giờ) – chắc là rành thơ Tây hơn nhiều thi sĩ đương thời chưa học đến bậc học ấy. Kính mời quý vị nhàn lãm áng thơ tình sau :
VÌ SAO? (1938 ?)
Tặng Đoàn Phú Tứ 
Bữa trước giêng hai dưới nắng đào, 
Nhìn tôi cô muốn hỏi “vì sao?” 
Khi tôi đến kiếm trên môi đẹp 
Một thoáng cười yêu thoả khát khao. 
– Vì sao giáp mặt buổi đầu tiên, 
Tôi đã đày thân giữa xứ phiền, 
Không thể vô tình qua trước cửa, 
Biết rằng gặp gỡ đã vô duyên? – 
Ai đem phân chất một mùi hương 
Hay bản cầm ca! Tôi chỉ thương, 
Chỉ lặng chuồi theo giòng cảm xúc 
Như thuyền ngư phủ lạc trong sương 
Làm sao cắt nghĩa được tình yêu! 
Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều 
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt, 
Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu… 
Cô hãy là nơi mấy khóm dừa 
Dầm chân trong nước, đứng say sưa, 
Để tôi là kẻ qua sa mạc 
Tạm lánh hè gay; – thế cũng vừa. 
Rồi một ngày mai tôi sẽ đi. 
Vì sao, ai nỡ bỏ làm chi! 
Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá 
Chỉ biết yêu thôi, chẳng hiểu gì.
Nguồn: Tuyển tập Tự lực văn đoàn (tập III), NXB Hội nhà văn, 2004
Rõ ràng tình tứ và lời thơ rất “tân thời”, rất bóng bảy, nhè nhẹ kiểu Tây. Nhà thơ chả mấy khi -dù là bóng gió xa xôi-  có bài thơ về tình yêu với một cô nàng cụ thể nào cả, nhưng lại vồ vập như với một giai nhân bằng xương bằng thịt trước thiên nhiên : Hỡi Xuân hồng ta muốn CẮN vào Ngươi  (Thơ thơ 1938 – tặng Vũ đình Liên), nhưng nhiều khi lại  cố “giả bộ ngây thơ cụ” , như hai câu cuối bài thơ trên:
Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá 
Chỉ biết yêu thôi, chẳng hiểu gì.
Tất nhiên , giọng điệu “tân thời” , hành vi và rung cảm kiểu “Âu hoá” đó chỉ  hợp gu với  giới thông thái “tân học” có trình độ học vấn từ bậc thành chung ( Trung học cơ sở – cấp hai) trở lên  còn với quảng đại quần chúng  – vào cái thời mà ngót 100% nông dân ta còn mù chữ abc thì đại loại thơ của Ông Hoàng Thơ tình này không lọt qua luỹ tre xanh được nói chi vào đến trái tim chân chất của những người cả đời cày cấy, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời được ! Bà con thôn xóm, anh thợ cày chị thơ cấy nghe những giọng  điệu của Người kĩ nữ, Vội vàng, Vì sao…ngơ ngác   như vịt nghe sấm…
Nhưng họ rất mê Lỡ bước sang ngang, Chân quê,…của Nguyễn Bính. Họ thuộc lòng để hát ru em, ru con, rồi ru cháu…. Đó là tiếng lòng của họ, tâm sự của họ, mối tình của họ. Họ lấy thơ NB làm ca từ, lấy giai điệu hát ru có sẵn từ ngàn đời, vạn kiếp làm nền nhạc phổ vào thơ NB mà ngân nga theo nhịp kẽo kẹt của tiếng võng với đủ cung bậc luyến láy trong những tiếng à ơi ơi, ạ ời ời… …… bởi thế mới có câu nói bất hủ của cô lái đò Trần thị Thoa  trên bến sông Châu  với nhà văn Chu Văn  khi hay tin Nguyễn Bính qua đời: “ Giá mà chết thay được bác ấy…” Còn ông Hoàng thơ tình XD ngất ngưởng trên ngai vàng lạnh lẽo, cô đơn chắc chắn chỉ loanh quanh chốn phồn hoa, trên đường nhựa và dưới ánh điện các đô thị mà thôi… 
Nguyễn Bính là một nhà thơ bình dân. Hoài Thanh và Hoài Chân đã viết: trong nhiều nhà thơ của phong trào thơ Mới, chỉ có số it có bằng tú tài hoặc đại học (ông hoàng thơ tình XD, Nguyễn Nhược Pháp..: tú tài tây, ông Cù  Huy Cận kĩ sư canh nông…), còn lại đa số là thành chung trở xuống. Trong đó nữ sĩ Anh Thơ học dở dang Cours Élémentaire (chưa thi Sơ học yếu lược – lớp ba tiểu học, xưa gọi là lớp Sơ đẳng) đã bỏ học sau buổi bị phạt quỳ trên lớp. Nguyễn Bính thì chỉ học ở nhà do ông anh ruột là Trúc Đường Nguyễn Mạnh Phác kèm cặp… Có lẽ theo TMCS, những thi sĩ, cả văn sĩ không có hoặc ít bằng cấp như Anh Thơ, Nguyễn Bính, Tô Hoài (Dế  mèn phiêu li kí)… lại có lợi thế : họ nhìn con người và xã hội, họ rung động và xúc cảm, vui buồn, thương khóc…đều thuần Việt, ngôn từ, hình tượng của họ chủ yếu từ nguồn dân gian… không hoặc rất ít bị lai căng như các vị giỏi tiếng Tây từ xấp tú tài trở lên.
Riêng Nguyễn Bính thì cả đến phong thái cư xử, tác phong sinh hoạt cũng vẫn đặc sệt nông dân: hút thuốc lào, uống nước vối, chè tươi , la cà ngay hàng quán bên đường, trong chợ…Anh Thơ  trong hồi kí Viết từ sông Thương  có phần ngoa ngôn nhưng cũng có phần tả thực : Trong khi Anh Thơ trang điểm quý phái, tân thời với tóc bồng, áo dài tha thướt, nước hoa, kiềng Huế… hình dung sẽ gặp một NB thanh cao tao nhã như Kim Trọng (lỏng buông tay khấu , bước lần dặm băng…) thì lại thấy một anh chàng tóc tai lộn xộn, vứt vội cái điều cày đang rít dở, từ quán nước chân đê lao ra, cười với hàm răng  sạm khói thuốc và phả hơi thuốc vào sát mặt giai nhân…
Người như NB chỉ hợp với Nhi -em cô hàng rượu quê nhà, đó là hiện thân của Diệm , cô bạn nhí – vào Thơ NB có tên là NHI- xinh xinh từ bé, người đồng hương của NB , chị cô bé cũng rất  bình dị, họ hợp với nhau và thương mến nhau được. Nguyễn Bính vương vấn với Anh Thơ, Tôn nữ… chẳng khác nào câu ví von xa xưa: Đũa mốc chòi mâm son! 
Nguyễn Bính thích “xê dịch” giống như Nguyễn Tuân, cây đại thụ văn xuôi về thể kí, tản văn, truyên ngắn, phóng sự…cũng vừa đa tài , vừa đa dạng nhưng NT không đa tình như Nguyễn Bính…Chuyện kể rằng sau khi Vang bóng một thời tiếng tăm lừng lẫy khắp ba kỳ Trung Nam Bắc thì rất nhiều nữ độc giả trẻ mê mệt vì văn tài của Nguyễn Tuân…Có một gã đã giả danh tự nhận là Nguyễn Tuân nhờ giọng  nói Bắc kỳ mà cưới được một thiếu nữ  xinh đẹp. Sau ngày  giải phóng Sài Gòn, Nguyễn Tuân vào Nam sáng tác. Có người biết chuyện cô gái cưới phải Nguyễn Tuân giả bây giờ đang sống cô đơn. muốn bảo Nguyễn Tuân tới gặp…Nguyễn Tuân trả lời thẳng thắn vì chút tiếng tăm của mình mà làm người ta lỡ dở  còn mặt mũi nào mà gặp ! 
Nguyễn Bính xê dịch từ Nam định lên Hà nội , rồi từ Hà nội đi các tỉnh  Bắc kì, và để lại những bài thơ, những mối tình…Nổi bật nhất là tình Sông Thương ở Bắc giang với Anh thơ với nhiều áng thơ tình hay nhưng buồn. Lên Thái nguyên NB để lại bức tranh thơ đẹp như một bức sơn dầu đậm nét Trung du :
ĐƯỜNG RỪNG CHIỀU (Thơ Thái Nguyên)
Nguyễn Bính
Lữ hành bắt gặp quán cơm,
Bầy ong bắt gặp mùi thơm hoa rừng.
Đèo cao con suối ngập ngừng,
Nắng thoai thoải nắng chiều lưng lửng chiều.
Trăng non như một cành diều,
Trẻ con phất dối thả liều trên mây.
Chim nào kêu mỏi ngàn cây,
Ngẩn ngơ đôi chiếc ngựa gầy dong xe.
Đồi sim dan díu nương chè,
Trắng phau khói núi, xanh lè áo ai…
Còn đây là thơ Phú thọ : 
XA CÁCH :
Nhà em cách bốn quả đồi
Cách ba ngọn suối cách đôi cánh rừng
Nhà em xa cách quá chừng
Em van anh đấy, anh đừng yêu em.
và thơ Phú thọ nữa :
Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s