TMCS : THƯ GIÃN. LAN MAN về “TÌNH ĐẸP _ THƠ HAY “.

Chúng ta mấy ai chẳng từng mê mệt, say sưa trước những áng văn thơ vào hàng tuỵệt tác với những đoạn, những câu tả tình, tả cảnh vô giá   mà bao thế hệ người Việt cảm phục, nâng niu gìn giữ như trong Kiều, Chinh Phụ ngâm, … và cả trong kho tàng ca dao quý báu của văn học dân gian nước nhà…Đến nửa đầu thế kỉ 20, ở VN bỗng xuất hiện một thi nhân  viết về một thôn xóm nhỏ,  bình dị như trăm ngàn thôn xóm  khác của vùng đồng bằng Bắc bộ , mà đẹp đến ngỡ ngàng bằng những câu lục bát thoạt tiên cứ  tưởng là đơn sơ, hoá ra đã trau chuốt đến độ cực kì tinh xảo, mới đọc thầm bằng mắt mà đã thấy lung linh, du dương như khi vừa thưởng thức một bức danh hoạ trăm hồng ngàn tía vừa chìm vào giai điệu trầm bổng với sáu thanh kì diệu trong tiếng Việt của một   khúc nhạc theo cung điệu sáu tám mê li tuyệt đỉnh: 

Thôn Vân có biếc, có hồng 

Hồng trong nắng sớm, biếc trong vườn chiều. 

Đê cao có đất thả diều 

Trời cao lắm lắm có nhiều chim bay. 

Quả lành nặng trĩu từng cây 

Sen đầy ao cá, cá đầy ao sen. 

Hiu hiu gió quạt, trăng đèn 

Với dăm trẻ nhỏ thả thuyền ta chơi. 

Ăn gỏi cá, đánh cờ người 

Thần tiên riêng một góc trời thôn Vân

(Trích Anh về quê cũ của Nguyễn Bính)

Đấy quả là một bức tranh “sơn thuỷ hữu Tình” đẹp tuyệt vời được vẽ bằng hơn hai chục chữ cái a,b,c theo thể loại lục bát dân gian.  Đúng là một bức tranh vừa có  “Thần” vừa giàu “Tình”, rất xứng đáng được đánh giá là “Thần tình  Thi – Hoạ – Nhạc phẩm ” ba trong một, một gồm ba ! Chẳng cần có trình độ thẩm mỹ cao siêu, ai ai cũng cảm nhận rõ mồn một nét đẹp thuần Việt ở nơi được coi là cái nôi của nền văn minh sông Hồng, có nền văn hoá lúa nước rạng rỡ mấy ngàn năm lịch sử…

Giang sơn gấm vóc của nước Việt ta đâu chỉ nức danh thiên hạ nhờ những kì công của Tạo hoá như Vịnh Hạ long…mà còn nhờ vô số những xóm làng thân yêu như thôn Vân, mà bài thơ trên của NB là một bức chân dung chân thực vừa bình dị vừa thần kì, hoàn hảo !

TMCS thường tự hỏi: tại sao trước cùng một cảnh ngộ, một tình huống, một phong cảnh, một cảm xúc… lại có những nhà thơ  diễn đạt Tài và Tình vượt trội lên, hơn hẳn bao nhiêu người khác thế nhỉ ? Gọi là tuyệt kĩ , lời vàng ý ngọc… nhưng soi vào từng câu, từng chữ thì quá thân thuộc, toàn những từ ngữ đơn giản quá chừng mà sao họ sắp xếp thế nào mà rung động lòng người, xao động tâm hồn đến thế ! Câu thơ của họ viết chưa cần ngâm nga thành tiếng, cứ đảo mắt xem qua đã thấy ngọt lịm tựa như nhìn thấy quả mơ, quả mận lả ứa nước miếng, tuy đầu lưõi mình chưa hề tiếp xúc với trái cây hàm chứa vị chua còn ở đâu đó,  khá xa kia vậy !

Gặp những trường hợp quý hiếm này, ta hầu như cạn hết từ ngữ để ngợi khen mà chỉ còn biết bình rằng : Quả là vừa Tài vừa Tình, cũng là rất Thần, rất Tình…Cái Tình quá Đẹp làm cho Thơ cũng Đẹp như Tình vậy !

TMCS đã bao lần trăn trở, cuối cùng đành quay về luận cứ kinh điển : Văn thị nhân dã ( văn là người vậy !) – Thơ cũng tức là Người ! Những nhà thơ có tâm hồn Đẹp thì mới viết được những câu thơ Đẹp… Trong mấy câu trên ta thấy thôn Vân quá đẹp, ấy cũng chỉ vì cái Tình của tác giả với thôn Vân quá Đẹp !Muốn có được cái tình Đẹp đến như vậy , NB phải có một tâm hồn Đẹp tương xứng với mức Đẹp của Tình yêu thôn Vân … ! 

Và nhân đây , TMCS cũng xin mạnh dạn nêu một khía cạnh của cái Hay trong thơ :

Phải chăng một bài thơ được coi là Hay hoặc Không cũng còn tuỳ cảm nhận của người đọc. Chỉ những ai đồng cảm với tác giả mới thấy bài thơ HAY, những người cảm thụ theo hướng khác sẽ chẳng thấy chỗ HAY mà ngược lại còn cho là nhàm chán ! Thường thì những bài Thơ phù hợp với cảm nhận chung của công chúng thơ sẽ được CÔNG nhận là thơ Hay và được lưu truyền qua nhiều thế hệ…

Ở trình độ còn “lỗ mỗ”, chưa dám hạ một KL võ đoán, nhưng về cảm tính, TMCS  đã thấy: Thơ HAY chẳng những  phải có Lời thơ, Tứ thơ đẹp mà trước tiên phải có TÌNH ĐẸP, nhiều khi yếu tố  này q/đ tất cả.

Thí dụ: bài thơ Ông Đồ của Vũ Đình Liên, hình ảnh và con người Đẹp, câu kết cũng quá Đẹp – tạo ra Tình trong thơ rất ĐẸP, đã làm cho bài thơ trở nên Hay đến bất tử :

Những người muôn năm cũ 

Hồn ở đâu bây giờ !

Xin nêu một thí dụ cụ thể nữa – TMCS xin phép quý vị đánh bạo  võ đoán nhận định qua một thí dụ về một trường hợp rất, rất độc đáo- : có những bài trong đó lời thơ còn sơ sài, mộc mạc, vốn dĩ chỉ  là một bản sơ thảo, một bức “tốc” hoạ, thậm chí cá biệt có câu chữ còn chưa thực hoàn hảo, ấy thế mà nhờ Tình trong thơ Đẹp  khiến cho cả bài  vẫn đương nhiên lung linh Đẹp như một tuyệt tác đã hoàn chỉnh…Người đọc dễ dàng cho qua chỗ còn sơ xuất trong bài thơ để tiếp nhận cái ĐẸP bao trùm tất cả ! 

Có thể ai đó đọc đến đây sẽ tủm tỉm cười: – Ôi! TMCS, người lại muốn lập dị đưa ra ý kiến khác đời chăng? – Xin quý vị hãy bình tĩnh đọc tiếp đến cuối bài đặng thấy rõ tất cả…

 TMCS lại xin cố ý lạc đề lan man chút xíu trước khi đi vào trường hợp hi hữu đã dự kiến sẵn : 

Nhiều năm về trước, bước sang nửa sau của thế ki 20, một hôm TMCS ngắm bức ảnh chụp Ông đồ của Trần Văn Lưu, bức tranh vẽ Ông đồ của Bùi Xuân Phái  trong một số báo Xuân…rồi lẩm nhẩm ngâm bài : Mỗi năm hoa đào nở… (của VĐLiên ) chợt nảy hứng dịch bài này sang chữ Hán, lúc ấy thi hứng cuồn cuộn dâng lên, bèn lấy bút lông, mực Tàu chép ra giấy Xuyến chỉ ( còn gọi là  giấy Tuyên- loại giấy này quý lắm,  có lịch sử trên ngàn rưởi  năm) đem đến ông chú vốn là bạn học bảy năm Trường Bưởi với nhà thơ Vũ Đình Liên, để “vòi”  ông dẫn đến tư gia nhà thơ VĐL trao tận tay tác giả bài dịch chữ Hán . Hôm ấy, cụ Liên chỉ cho hai chú cháu xem bức ảnh lồng kính  cụ chụp chung với nhiếp ảnh gia Trần Văn Lưu, hoạ sĩ Bùi Xuân Phái – ba vị này đều chung một dòng cảm hứng về ÔNG ĐỒ: người thì chụp ảnh, người thì vẽ, người lại làm thơ cùng xoay quanh chủ đề Ông đồ  ! Cụ VĐL đọc xong bản dịch của TMCS, bảo thích những  câu dịch Lá vàng rơi trên giấy, Ngoài trời mưa bụi bay , và Bao nhiêu người thuê viết, Tấm tắc ngợi khen tài…Mấy hôm sau cụ nhờ ông chú chuyển cho TMCS bài thất ngôn bát cú để cám ơn trong đó có hai câu :

“Mang mang châm vũ” lời thơ đẹp

“Khẩu dị ngôn đồng” ý tứ sâu.

Ở cái tuổi “tam thập nhi lập” được cha chú, lại là một nhà thơ lớn cỡ VĐL khen thì còn gì sướng bằng. TMCS  vì hay có việc liên quan, nên được biết VĐL không chỉ nổi tiếng với người VN mà cả với các sứ quán  sử dụng tiếng Pháp nhờ bài Ông đồ được dịch sang thơ Pháp lưu truyền khá rộng rãi thời kì đó,  Mấy đời  ĐSứ và tuỳ viên sứ quán Pháp ở Vn đều biết đùa VĐ Liên là Bô-đờ- Liên* vì cánh cụ Tôn Thất Tùng , Nguyễn Tuân …trong các buổi SQ Pháp tiếp xúc riêng với trí thức , văn nghệ sĩ thời đó đã giới thiệu với đoàn  NGiao Pháp: VĐL là “Le fervent de Beaudelaire” gọi chệch là Bô-đờ-Liên ! TMCS chỉ nhờ “bẻm mép” văn nói  song ngữ nên kì nào cũng thường được “vời” đến làm tình nguyện viên tiếp tân trong các cuộc giao lưu văn hoá ( Thời đó tuyệt đối ko có thù lao “bồi dưỡng”, phong bì, phong bao  gì cả).

(*Charles Baudelaire (1821-1867) là nhà thơ lớn của văn học Pháp thế kỷ XIX thuộc trường phái tượng trưng chủ nghĩa. Ông sinh tại Paris, mồ côi cha lúc 6 tuổi, mẹ tái giá và đã gửi ông vào một ký túc xá. Ông theo gia đình sang Ấn Độ vào năm 1841, sau đó trở về Paris, sống cuộc đời kham khổ, thiếu thốn và bắt đầu sáng tác. Ông tham gia cuộc cách mạng tháng 2-1848 một thời gian ngắn. Thi sĩ đã gặp vài kiều nữ như Jeanne Duval, Marie Daubrun, Apollonie Sabatier, và chính những người phụ nữ đẹp này đã đem nhiều cảm xúc, cuồng nhiệt và thi hứng cho những dòng thơ chập chờn mộng ảo của ông. Năm 1867 ông bị bệnh ốm nặng, qua đời sau một thời gian bị bại liệt tàn phế. Thi phẩm Les fleurs du mal (Hoa khổ đau, 1857) là một thi phẩm nổi tiếng của ông).

 

Cả ba vị gồm nhiếp ảnh gia, hoạ sĩ và nhà thơ đều giống nhau ở tâm hồn rất Đẹp nên mới có được những tác phẩm Đẹp đến vậy !

Xin kính mời quý vị xem bức ảnh treo ở nhà cụ VĐL năm TMCS đến tặng cụ bản dịch chữ Hán bài thơ Ông Đồ  mà báo chí sau này đã giới thiệu bức ảnh đó do con trai cụ VĐL cung cấp:

Con trai danh hoa Bui Xuan Phai cong bo anh quy ve Vu Dinh Lien ben 'ong do gia' - Anh 3

Từ trái qua: Nhiếp ảnh gia Trần Văn Lưu – Vũ Đình Liên – Bùi Xuân Phái. Ảnh tư liệu gia đình họa sĩ Bùi Thanh Phương.

Bây giờ xin mời quý vị coi cái thí dụ mà TMCS muốn thuật hầu quý vị :

Tuần này, TMCS xin giới thiệu hầu quý vị một nét đẹp về thi nhân Vũ Đình Liên qua  bài thơ “Người đàn bà điên ở ga Lưu xá” để chứng minh rằng:

TÌNH ĐẸP trong Thơ mới là yếu tố hàng đầu khiến một bài thơ trở nên HAY , mặc dù lời thơ đơn sơ như lời kể chuyện, tứ thơ không có gì đặc sắc lắm. Thậm chí theo TMCS, cá biệt có câu chữ còn chưa “ổn” , thế mà toàn bài vẫn cứ Hay và có thể là Rât Hay !!!

… … Số là năm ấy cụ Liên đi du Xuân bằng tàu hoả lên Thái Nguyên, cụ mang theo bánh chưng và mứt tết. Trên tàu cụ thấy một bà điên dáng vẻ  xinh đẹp, ăn mặc rất tiều tuỵ, hôi hám- ai hình như cũng muốn tránh xa… Đến ga Lưu xá, cụ Liên lấy bánh chưng và mứt sen ra  làm quà Tết trao cho bà điên rồi tranh thủ hí hoáy  viết một bài thơ, sau đó cũng chẳng  mấy để ý sửa sang hoàn chỉnh. … Nhà thơ và bà điên chia tay nhau , không ai ngỏ một lời hẹn hò tái ngộ với ai…Khoảng mươi năm sau, VĐL gặp lại bà điên ấy vẫn ở ga Lưu xá, nhưng lần này bà ta đã đỡ tiều tuỵ, tỉnh táo  hơn và hình như đã lờ mờ nhớ ra chút gì đó và biết “ dăm câu ba điều” trước lúc chào từ biệt VĐL …

Khoảng mười lăm  năm sau tính từ cuộc gặp lần đầu, một hôm có một thiếu phụ xinh đẹp, ăn mặc lich sự gõ cửa tìm gặp VĐL tại nhà riêng ở HN , đó là bà điên năm nào ở ga Lưu Xá  nay đã hoàn toàn bình phục…

Người ngoài cuộc khó mà mường tượng được niềm vui tột độ của họ : Bà điên năm xưa mừng mừng tủi tủi gặp được người coi như ân nhân đã quan tâm đến thân phận rồ dại của mình. Cụ Liên  thì rào rạt niềm vui trong trái tim đầy lòng nhân ái trước  một phận hồng nhan đã thoát khỏi những năm tháng khốn khổ, tưởng chừng bênh tật đã huỷ hoại tan nát một ĐỜI HOA !

Vũ Đình Liên đã viết về người thiếu phụ trong cuộc tái ngộ đó:

      Thịt da trầm tỏa hương bay

 Như hồi đôi tám thơ ngây má hồng. 

Đọc được hai câu này, TMCS vô cùng cảm động mà rằng :

       Người điên trở lại Nàng Tiên,

TÌNH trang thơ Vũ Đình Liên sáng ngời !

       Xét cho cùng ở trên đời,

Có chi sánh kịp Tình Người nặng sâu.

       Muôn sau sông núi dài lâu

Vang lời thơ Đẹp, thắm câu Nghĩa Tình…

Cũng để bớt gánh nặng cho các cháu  sinh viên VN hải ngoại, tinh nguyện viên thân thiết của TTTB@, TMCS xin tạm dịch ra Ăng-lê luôn bài thơ dưới đây và có đôi lời giới thiệu tóm tắt về bánh chưng để bạn đọc nước ngoài chưa đến VN biết được sơ sơ thế nào là bánh chưng.

NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐIÊN GA LƯU XÁ 

 

Thơ Vũ Đình Liên

Người đàn bà điên ga Lưu Xá

 Ngồi ngay trước mặt dưới chân tôi

 Ai vẽ được thiên tài hội họa

 Chân dung kia kinh tởm tuyệt vời

 Công chúa điên rồ và rách rưới

 Hình ảnh lạ lùng chửa có hai

 Cả tưởng tượng Đông Tây cộng lại

 Khôn dựng nên dù một phần mười

Bao tải xơ ni lông nát vụn

 Sợi dây thừng buộc mũ rách bông

… Tôi ngồi ngắm mắt không hề mỏi

 Đống rác kia xưa đã là hoa…

 Ai run rủi và ai sắp đặt

Một nhà thơ với một người điên

 Tôi bắt gặp ba lần cặp mắt

 Nhẹ căm thù như muốn làm duyên

 

Nhà thơ Vũ Đình Liên kể tiếp chuyện gặp người đàn bà điên ở ga Lưu Xá cho mọi người nghe, ông viết : khi trong toa xe mọi người đã xuống hết, không còn ai nữa. Ông lấy trong túi xách ra một gói bánh chưng và mứt  sen,  hai tay nâng gói quà Tết trao cho người đàn bà điên:

 

Người nhận quà đưa tay đón tay

 Chẳng rằng chẳng nói mặt như ngây

 Chia tay không một lời hò hẹn

 Hai mặt ảnh hình bốn mắt ghi…

 Tôi đi tìm đến những người thân

 Bè bạn cháu con xa với gần

 Ngày Tết cổ truyền vui thiếu đủ

 Nhìn mặt người như ngắm hoa xuân

 Còn tôi biết cuộc đời đã trút

Lên hoa kia sương tuyết nặng dày

 Đời độc ác lòng người bội bạc

 Làm hoa kia thành đống rác này

 Đời sẽ đổi lòng người sẽ đổi

Sẽ trở về tình xót nghĩa thương

 Hãy trút hết áo quần hôi thối

 Cho thịt da lại toả hương thơm

 Người em Lưu Xá ở đâu đây

Có thấy ấm lòng xuân nắng hây

Một đóa hoa tàn nay nở lại

 Thắm hồng trong buổi mới xuân nay”.

THE MAD WOMAN AT LƯU XÁ RAILWAY STATION

(Poem by Vũ Đình Liên – Translation by TMCS)

At Lưu Xá railway station,

That mad woman is sitting 

In front of me, near my legs. 

Only a  genius painter coming here

Can make a terrible and. wonderful portrait

Of  that mad and ragged princess.

This weird image is incomparable,

Even with the combine

Of the Eastern and Western imagination,

They cannot portray 

Even  a very small  part of that piece of life!

She is in a big ragged plastic bag

And an old cotton hat roped on her head. 

I untiringly contemplate her

That heap of garbage in the past was a flower !

By someone’s preparation or by the arrangement of fate,

So that  a mad woman can meet with a poet.

More than once, I see in these two eyes

The hatefulness is already lessening

And the discreet charms are revealing.

…. At Lưu Xá railway station, after  all passengers get off from the coach, Vũ Đình Liên  takes from his  bag  “bánh chưng”* and “mứt sen” (sugar preserved lotus seeds)  in a very friendly manner  gives it to   this mad lady as his gift of Lunar New Year day : 

The receiver extends her hands to the donor’s hands.

She doesn’t speak any  word,

The stupidity seems to appear on her face at the moment.

At their separation, not any appointment is given.

In the eyes of each of them is the figure of the other.

On the Lunar New Year Day,

When I visit my relatives  and my friends,

All of them are as brilliant as the spring flowers,

Despite being rich or poor men.

I know well that this woman

Was also like a flower

But upon which heavy mist and snow 

From this world fell down  !

This cruel world and people with unfaithful hearts

Have transformed this flower into a heap of garbage. 

This world and people must be changed

The pity will return to them in the end.

All fetid clothes of hers will be rejected one day

So that from her  the fragrance  will spread away.

Oh! dear Lady of Lưu Xá station

Do you feel the sunny spring in your mind?

A withered flower blooms again, It’s so nice,

And so pink in this dawn of spring and of life!

Note:

* Bánh chưng is a traditional Vietnamese rice cake which is made from glutinous rice, green bean, pork and other ingredients. Its origin is told by the legend of Lang Liêu, a prince of the  king of the Sixth Hùng Dynasty, who became the successor thanks to his creation of bánh chưng and bánh dầy, which symbolised, respectively, the Earth and the Sky. Considered an essential element of the family altar on the occasion of tết, the making and eating of bánh chưng during this time is a well-preserved tradition of Vietnamese people.

Bài thơ này rất ít người biết. TMCS đã đọc được ở nhà ông chú mình và ghi lại, còn tình tiết lai lịch bài thơ thì đã lãng đãng nhớ nhớ quên quên…,nay chủ yếu xin giới thiệu hầu  quý vị  nội dung bài thơ để thấy rằng tuy lời lẽ chưa kịp trau chuốt kĩ càng, câu ba về cấu trúc còn tối nghĩa (tuy rằng đọc lên ai cũng nhận ra tác giả nói gì) và mấy câu tiếp sau thậm chí còn hơi “ thô, vụng” nhưng tâm hồn Đẹp của nhà thơ tác giả Ông đồ vẫn làm cho bài   “Người đàn bà điên ở ga Lưu xá”  trở thành một tuyệt tác hiếm hoi, lấp lánh sáng đẹp  tựa như một viên ngọc quý chưa hề tốn nhiều công sức mài giũa ! Đó là một vẻ Đẹp tự nhiên, rất tinh khiết, gặp người đọc đa cảm và đồng cảm sẽ có khi sức lôi cuốn, cảm thụ vượt xa những bài dày công tỉa tót, trau chuốt mượt mà quá mức, nhiều khi gây cảm giác gượng gạo, có chút gì đó gọi “nôm na” là phóng đại, tô màu… bởi lẽ khi mài giũa quá tay, tác giả  đã vô tình “gọt” đi mất một phần tính chân thực để đổi lấy vẻ  ‘bóng lộn” cho bài thơ khi mới hình thành…

Rất có thể, trong số quý vị – ấy là TMCS đoán già đoán non  – đọc xong phần thơ trên sẽ tặc lưỡi : Chưa đến nỗi dở thôi, có gì “lấp lánh” như TMCS nhận xét đâu  ! Cho dẫu sự thể có như vậy, TMCS cũng chẳng thấy bất ngờ ! Sở dĩ vị nào có lỡ nhận xét như vậy, cũng là điều dễ hiểu : Quý vị chưa có dịp tiếp xúc trực tiếp với “Bô-đờ- Liên”. Chỉ qua việc chút ưu ái cho một người điên trên tàu đã là nét đẹp nhân văn đáng làm gương tốt vè tính nhân văn nhân ái rồi. Còn nếu ta biết được hàng ngày, những sự việc lặt vặt như “ bà con lối xóm” người nọ kể cho người kia, còn truyền khẩu mãi… thì càng dễ cảm nhận chất thơ VĐL.

Có hôm cụ Liên đi đâu về gần đến nhà , thấy một người đàn ông đang thượng cẳng tay, hạ  cẳng chân đánh đập túi bụi một cháu bé, cụ đã động lòng thương trẻ, dừng bước năn nỉ, can ngăn bằng được người cha đang cơn nóng giận…Tối đến, vào giờ cơm nước xong, người đàn ông nọ đã mang gói trà Ba đình sang tạ ơn cụ Liên và hứa từ nay sẽ không nóng nảy như vậy. Họ uống trà với nhau tối hôm đó và sau này trở thành thân thiết như chỗ a/e họ mạc, sớm lửa tối đèn có nhau… Còn cháu bé vì trốn học đi chơi bị trận đòn mê tơi kia lần nào gặp cụ Liên cũng khoanh tay “Chào ông ạ”! 

Lại có lần, trời vừa mưa xong đường còn lầy lội, cụ Liên gặp một  ông cụ đi qua gần nhà  chẳng may trượt chân ngã, lấm be bét cả. Cụ Liên chẳng những dừng lại đỡ cụ già dậy, mà còn dìu ra vòi nước máy công cộng, mở vòi nước  giúp  ông cụ rửa những chỗ lấm láp. Thấy  ông cụ  rét run  lấy bẩy, cụ Liên tặng luôn ông cụ  chiếc mũ be-rê đang đội trên đầu…

Những chuyện tưởng chừng “nhỏ như con thỏ” ( Ngôn ngữ đường phố trong cuốn sách của NXB Nhã Nam “Sát thủ đầu nung mủ” từng bị ăn đòn, ném đá tơi bời) thường xuyên xảy ra một cách tự nhiên đối với một cử nhân luật trước 1945, dạy Pháp văn ở hai trường ĐH ở thủ đô HN, từng kinh qua Trưởng khoa Pháp, hơn nữa lại là một thi nhân Tiền chiến  từng lọt vào “mắt xanh” của hai nhà bình Thơ nổi tiếng HT và HC, có hai bài bất hủ “ông Đồ” và “Lòng ta là những hàng thành quách cũ” được giới thiệu trong Thi nhân VN ngay sau Tản Đà và Thế Lữ, với  4000 bài nữa chưa công bố rộng rãi

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s