Laiquangnam: Long thành cầm giả ca của Nguyễn Du

Bài thơ này nằm trong loạt bài

“Thử đề nghị một giải pháp giới thiệu thơ tiền nhân”  Long
Laiquangnam

Phần III ,Cần phải có những bản dịch tốt nhất bằng Việt ngữ

Laiquangnam để ý rằng có năm nguyên nhân chính sau đây làm cho việc Giới thiệu thơ tiền nhân có hiệu quả nhất . Một là, chỉ có Việt ngữ mới làm cho thơ văn tiền nhân ta tồn tại. Hai là phải thật Dễ nhớ, dễ thuộc là bước đầu ngay từ khi người Việt cắp sách đến trường

Xưa nay bậc học từ mẫu giáo cho đến hết cấp III luôn là trọng tâm của mọi sự tuyên truyền của mọi chế độ, Người Tàu hủy diệt văn hóa Việt bằng thủ pháp là làm sao cho người Việt “tự Hán Hóa dân tộc mình” một cách hiệu quả nhất ,đó là cổ võ họ dịch Đường, cổ võ ngợi ca dòng thơ Tàu bầng mớ chữ Hán kèm theo văn bản Việt ngữ.

Vậy giải pháp cho chính chúng ta là CẤY VÀO Ký ức TRẺ , qua văn thơ Việt ngữ dễ nhớ dễ thuộc là cách tốt nhất để dòng thơ văn của tiền nhân ta tồn tại và phát triển .

Người Tàu, họ đã Hán hóa thành công dân tộc này ngay thế kỷ năm 1407 ,khi đất nước này bị Minh thuộc . Trong một thời gian rất ngắn ngủi người Tàu đã đặt xong nền tảng “ Quy Hán Tộc “ vào ” giới có ăn học “ người Việt rất hiệu quả . Cho đến tận bây giờ. Phép “ngụy biện lá bùa “ và thủ thuật “ Van vái tứ phương “ vẫn được lớp đàn anh chúng tôi xử dụng thường xuyên. Do việc đất nước này vốn không có chữ viết? hay “ chữ Nôm “ xuất hiện quá trể và chưa kịp hoàn chỉnh là một trong các nguyên nhân buộc người Việt phải nương vào chữ Tàu và văn hóa Tàu .
Giáo trình học hành thi cử và xây dựng thi cử đều dựa sách Tàu thời Nam Tống, được tính từ khi nhà Hậu Lê thế kỷ thứ 15 được thành lập cho mãi đến tận đầu thế kỷ 20 cuối nhà Nguyễn. Chúng ta không lấy làm lạ, trong bài học vở lòng từ khi chúng ta bước vào lớp một, bài ngợi ca Hai Bà Trưng , đoạn thơ văn trích từ Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca của Lê Ngô Cát từ thời Tự Đức,  có các câu này “ bà Trưng quê ở Châu phong” ….đến  cuối bài lại có sự xuất hiện một câu thơ rất tệ hại là “ Nữ nhi sánh với Anh hùng được sao“. Anh hùng đây là ai? , là MÃ VIỆN, kẻ đại tội đồ với dân tộc này. Người Việt vẫn luôn ngợi ca Mã Viện là anh hùng với câu khẩu khí của y “ da ngựa bọc thây “ và trong Chinh Phụ Ngâm thì có câu nhắc đến y “ Đến MAN KHÊ bàn sự Phục Ba “ .Tôi nay đã trên 70 vẫn còn nhớ như in trong đầu mình các bài học thuộc lòng từ hơn 60 năm trước (câu Bà Trưng quê ở Châu Phong ) đến câu trong Chinh Phụ Ngâm từ 50 năm qua khi học lớp Đệ Ngũ thời VNCH. Điều đó có thật từ bản thân tôi. Cay đắng và quá chậm khi tôi ngồi viết lại tâm sự này vào thời điểm giữa tháng ba năm 2017 này tại SG .

Để bước GIỚI THIỆU THƠ TIỀN NHÂN có hiệu quả , bắt buộc người Việt chúng ta phải thông qua con đường duy nhất, đó là phải Việt ngữ hóa các bài thơ bằng chữ Hán của tiền nhân ta. Đó là bước đi đầu tiên và môi trường đê cho nó ươm mầm là ngay chính tại bậc học phổ thông . Qua cách đó bản văn gốc “ họa may “ mới được hàng triệu người Việt biết và sẽ mang ra bình giảng. Giảng văn là điều kiện duy nhất làm cho bài thơ tồn tại và bất tử . Theo kinh nghiệm, một bản văn Việt ngữ tốt là một bản văn phải thoát ly ra khỏi bản văn chữ Hán. Đã có tiền lệ, giáo trình Chinh Phụ Ngâm là một ví dụ và bài Tì Bà Hành của Phan huy Vịnh dịch là một ví dụ khác . Việc giới thiệu bản văn gốc bằng chữ Hán chỉ cần cho giới học thuật và người nghiên cứu và thực sự không mấy cần thiết với nhiều người trong chúng ta . Nó chỉ khiến cho bài giới thiệu trở nên nặng nề hơn mà thôi .Tại đâyđối tượng của chúng ta cần đặc biệt quan tâm là học sinh bậc học phổ thông và lớp người bình dân không hề biết chữ Hán . Trong tinh thần đó, laiquangnam làm thử bằng việc giới thiệu bản văn Long Thành Cầm Giả Ca của thi hào Nguyễn Du qua bản dịch Việt ngữ của mình

Tại sao laiquangnam chọn bài Long Thành Cầm Giả Ca ? .

Một là, đây là một trang viết của người xưa. Vừa là dòng nhật ký, vừa là trang thể hiện quan điểm chính trị của Nguyễn Du về nhà cầm quyền mà ông đã cộng tác . Ông đã tự minh oan mình về sự cộng tác ấy ,  vô cùng hối tiếc về sự nhầm lẫn trong cuộc đời mình với vương triều Nguyễn Gia Long này. Hai là, bản văn Long Thành Cầm Giả Ca xuất hiện đã lâu nhưng các vị ở dạng bậc thầy của chúng tôi đã phác họa về chân dung Nguyễn Du từ thời Việt Nam Cộng hòa với trọn một số Tân Văn đặc biệt mà nay bạn có thể dễ dàng tìm lại tại trang TALAWAS,  họ đã không khai thác tường tận. Rất nhiều phát biểu đã không đúng, theo tôi, về những gì liên quan đến nhân thân Nguyễn Du , họ đã thể hiện khá rõ nét trong các bài viết của họ về Nguyễn Du. Ngày nay các vị “ cây đa cây đề “ tại Hanoi cũng không có ý tưởng gì mới, tuy rằng HANOI đã làm được việc rất tốt là đưa bản văn Long Thành Cầm Giả Ca vào giáo trình ngữ văn lớp 11 từ vài chục năm nay.Tuy nhiên, hiện nay bản văn Long Thành Cầm Giả Ca vẫn không lấn át được bài Tì Bà Hành của Bạch Cư Dị qua bản dịch của Phan huy Vịnh .Tất cả đều từ lỗi của chính chúng ta ,những người trong cuộc đã chậm trễ trong việc “ cùng chung sức dịch ra Việt ngữ bản văn quý giá này “ ra thành một bản văn Việt ngữ  tốt nhất .

Khi dịch thơ từ ngôn ngữ này ra ngôn ngữ khác, dịch giả  khó lòng mà đạt đến hiệu quả 100% như bản văn gốc . Các vị dịch Đoạn Trường Tân Thanh từ Việt ngữ sang Pháp ngữ , Anh ngữ ,hay Trung văn đều phải nương nhờ vào sự giải nghĩa các ẩn dụ trong ngôn ngữ Việt,  khiến cho câu thơ từ nguyên tác bị dãn nở dài hơn trong văn bản đích , tuy nhiên yêu cầu của họ là làm sao mang đến “ cái hay nhất “ mà người dịch giả muốn chuyển đến cho người đọc .Điều đó chúng tôi cũng đã gặp khi phải giải mã một câu thơ trong bài thơ nguyên tác từ chữ Hán của tiền nhân ta ,bài Long Thành Cầm Giả Ca , sang một câu dài hơn là vậy ,nhất là khi dịch “Khúc cung phụng” nội dung một KHÚC ĐÀN trong CUNG CẤM chỉ riêng nhà Vua nghe khi Ngài đang làm việc nước . Việc này nó có thể “bị chê không lấy gì thú vị ”vì người dịch nên để y nguyên tác với sự “ ẩn dụ “ của nó thì hơn đó là ý kiến của một  số người này; nhưng với tôi cách dịch dãn nở  nó làm cho câu thơ dễ hiểu hơn, thú vị hơn đối với một số người khác, đông hơn là các em học sinh và với lớp người tài tử bình dân  . Vói chúng tôi, miễn sao giữ cho ý thơ dịch nó không phản lại ý thơ của tác giả bản văn gốc là đạt yêu cầu . Giới học sinh bậc học phổ thông chỉ cần như thế là đã đủ, và dễ tiếp cận hơn cho “ dân tay ngang “ khác , họ có thể tham gia bình giảng một cách sôi nôỉ hơn ,từ đó bản văn đi vào lòng quần chúng . Tôi hy vọng việc làm của mình sẽ được sự hưởng ứng của các thi nhân tài hoa hơn tôi để bản văn Long Thành Cầm Giả Ca của Nguyễn Du được đời đời tồn tại mà không cần phải có bản văn gốc chữ Hán kèm theo ,đó là sự an ủi và là lời khen tặng hay nhất dành cho chính bản thân chúng tôi, rằng chúng tôi đã lay động trái tim người Việt khắp năm châu,rằng hành trang vào đời trong chiếc balo văn hóa sau lưng thế hệ trẻ người Việt ngày nay đã có thêm chút hành trang về văn hóa cội nguồn, kể từ nay trở đi .

Trong quá trình làm cho bản văn Long Thành Cầm Giả Ca được tồn tại , chúng tôi theo tiếp tục thêm các bước. Một là, chúng tôi cũng đã sẳn sàng cho các bước tiếp theo mà mọi sách Giáo khoa đều phải làm. Chúng tôi đã sắp sẳn các câu hỏi liên quan đến nội dung bản văn này; .Hai là chúng tôi dùng bản văn này để giải mã các câu hỏi liên quan đến Vân học sử và những sai sót mà lớp “ đàn anh“ của chúng tôi đã vô tình đọc một cách “ qua loa “ do bởi họ không được “Ai đó” gợi ý về giá trị của bản văn này nên họ đã “ làm hại phẩm chất KẺ SĨ của người con đất THẦNG LONG này . Ba là ,đây là bài thơ chữ Hán hay nhất của Nguyễn Du trong số hơn 250 bài thơ chữ Hán mà Nguyễn Du đã để lại cho chúng ta mà sự cố gắng của giáo sư có tâm và tầm như giáo sư Nguyễn Huệ Chi đã không đạt được . Tôi rất tiếc cho giáo sư rất tài hoa này .

——o0o——-

Nay xin vào đề phần thứ nhất
Giới thiệu bản văn Việt ngữ Long Thành Cầm Giả Ca đã thoát ly chữ Hán

-Bản dịch sang thơ Quốc Âm

Song thất lục bát

Song thất lục bát là dòng cổ văn do chính người Việt sáng tạo . Nó là thể thơ cổ dùng trong việc tự sự, tường thuật rất vạn năng, ngoài ra nó còn giúp cho học sinh bậc học phổ thông học thuộc lòng khá dễ . Có thuộc lòng thì mới có cơ hội ghi vào ký ức lâu dài và Việt ngữ chúng ta sẽ tồn tại cho dù mọi phong ba bão táp có thể làm cho đất nước này bị tạm thời hủy diệt trong nay mai ? . Con số nằm trước câu thơ là số thứ tự của câu thơ nguyên tác,câu thơ dịch lệch 2 đơn vị giữa bdịch và bản văn gốc  do vì phải dãn nở bốn câu thơ trong CUNG PHỤNG KHÚC.
Long thành cầm giả ca.

Giai nhân thành Thăng Long nước Việt
Lảng danh mình tình thiệt khó lần
Một đời đàn Nguyễn ngón thần
Dân thành theo nghiệp gọi Cầm dấu yêu

Khúc Cung Phụng tiên triều học hỏi
6-Đệ nhất thanh trong cõiNgườiTa,
Thiếu thời nay sực nhớ ra
8-Tiệc đêm hồ Giám, Ai đà ngồi chung?.

Ai ngày ấy ước chừng hăm mốt,
Sắc xuân nồng hong tóc mặt hoa.
Ngây thơ má rượu ráng pha,
12-Năm cung réo rắt tay ngà phím loan.

13-Khúc Khoan!, ”_ lạiNồm đàn thông nhạc”
14-Khúc tình!, “ _ru song hạc hòa mây.”
15- Khúc Cay!, “_sấm dậy từng giây”
Ầm ầm bia nát, tàn ngày công phu!. ”

16-Khúc Bi!, “ _thương thân tù Trang Tịch,
Tiếng quê cha ngâm khúc đời tà”.
17-Chiếu trên chiếu dưới ngà ngà,
18-Khúc đàn đại nội Trung Hòa là đây!

Quan Tây Sơn ngất ngây ngồi rán …
Thả hồn theo, tâm trạng đầy vơi.
_Tháo khăn đầu!, _ tả hữu bồi,
22_Tiền là phấn thổ!, hồi hồi… phà ra.

Hào hoa quá!, _Công hầu phải chịu,
Đám Ngũ Lăng niên thiếu?, _ nín khan,
Nghe chừng băm sáu cung xuân,
26-Đúc nên quốc bảo Trường An một người.

Hai mươi năm, sau ngày tàn tiệc,
Tây Sơn tàn, phải việc vào Nam.
_Thăng Long, bao bước!_lạ lầm,
30-Trong thành tiệc hát?, _ sao kham, _nỗi mình!

Quan Tuyên Phủ thấm tình bày tiệc,
Tuyển ca nhi xinh biết đàn ca,
_Có người ngồi cuối chiếu hoa?,
34_Mặt gầy, da héo tóc đà sang đông!.

Mày phờ phạc, buồn không chải chuốt,
Đệ nhất nhân! _sắc nước một thời,
Khúc xưa rưng rức lệ rơi,
38 Lắng nghe từng tiếng bời bời lòng ta.

Chạnh lòng, _ ra, hai mươi năm trước!,
Từng thấy Ai chiếu tiệc Giám hồ.
Người xưa, thành cũ, _ thuở nao,
42) Bể dâu chợp mắt, dậy bao ngùi ngùi.

Ôi một sớm! _Tây Sơn tiêu sạch *
Làng đàn ca? , _nay mót một ai!
Trăm năm, _ một tiếng thở dài,
46-Bồi hồi chuyện cũ, _ lệ ai vơi đầy.

Rời Nam về, tóc vây bạc thếch,
48-Trách chi người, nhan sắc không phai.
Trừng trừng ai cố nhớ ai,
50-Thương thay! _đối mặt, ngẫm hoài không ra!
Laiquangnam

===================

Ghi chú bên lề

* Ôi một sớm! , Dịch từ nguyên tác “Nhất đán “ . Nhất đán ? ,đán là sớm mai trong tiếng Hán Việt , tuy nhiên “Nhất đán“ trong Việt ngữ còn được hiểu là từ than thở một sự việc ngoài ý muốn xảy ra ,Ví dụ: nhất đán ( chẳng may ) mà việc tính làm sui giữa hai chúng ta không thành thì xin anh cũng đừng buồn . Trong Từ điển Tiếng Việt của ba tác gỉa Minh Tâm – Thanh nghi -Xuân Lãng NXB THANH HÓA ,1998 thì định nghĩa NHẤT ĐÁN là sự việc xảy ra một cách không ngờ ,không lường trước được .Do vì từ NHẤT ĐÁN cực kỳ quan trọng khiến ta hiểu được sự thương tiếc của Nguyễn Du đối với Tây sơn , vì thế ông phải tạm thời làm MÙ MẮT BỌN quan lại Triều Nguyễn khi xảy ra vụ Án giết Cha con vị công thần bậc nhất của vương triều- Nguyễn Văn Thành chết vì bài thơ của con trai trưởng là Nguyễn Văn Thuyên- . Bọn gian ác  tìm và bẻ lệch một ý trong một bài thơ của con ông –Nguyễn Văn Thuyên –, mà vu oan giá họa cho ông –Nguyễn Văn Thành – phải tội chết .Nguyễn Du vì thế phải dè chừng mà viết lời dẫn mà khi ta đọc qua ta tưởng chừng bài thơ này là bài thơ hồi ức về một người đánh đàn. Thấy vậy mà không phải là vậy .

Câu thơ nguyên tác thứ 43 nằm trong bản văn xuất xứ từ Miền Nam Việt Nam do Lãng Nhân Phùng tất Đắc công bố trong bài “Cầm ca gỉả “là 西山基業一旦盡消亡 (LN), //Tây Sơn cơ nghiệp nhứt đán tận tiêu vong . Đây là câu quan trọng nhất trong bản văn của Lãng Nhân Phùng tất Đắc. laiquangnam xin tuyên dương công đức cụ Lãng nhân. Đây là sự đóng góp vô giá trong việc giải mã tình cảm của Nguyễn Du đối với nhà Tây Sơn khi hai từ “ nhất đán “ xuất hiện.Về ngữ cảnh, câu 43 này hợp lý hơn câu của Đào Duy Anh mà Hanọi cho phổ biến rộng rãi là
西山基業盡消亡 , Tây Sơn cơ nghiệp tận tiêu vong
http://chimviet.free.fr/…/phamthao…/pthaong051_longthanh.htm
bởi lẽ nó phù họp với Tiết tấu của câu trong toàn bài ca . Sự hiện diện của nó thúc đẩy bài ca trở nên đồn dập hơn , đầy cảm xúc hơn. Sau một hồi đều đều gồm 7 từ, ngữ điệu được chuyển sang “tông” với các câu dài hơn gồm 9 từ. Vai trò của câu gồm 9 từ khiến câu dài thêm ra và người ngâm sẽ truyền cái thần của nội dung đến cho người nghe do bởi thời gian dài ra vào lúc diễn ngâm.và đây là lúc họ nhấn mạnh đến từ NHẤT ĐÁN đầy “ thương cảm “ .Long Thành Cầm Giả Ca là “bài ca” tuyệt hay là vậy. Khoảng này khá dồn dập, chỉ sau ba đến bốn câu đều đều gồm 7 từ là đến ngay câu 9 từ. Ta lần lượt gặp tại câu 31 (9 từ), 36 (9 từ), 39 (9 từ), 43 (9 từ). Tại câu 43 hai từ than tiếc “nhất đán” xuất hiện kịp lúc, đúng lúc, “nhất đán “ đã kết thúc sự lên giọng bất thường sau đó là các câu thất ngôn (7 từ) cho đến khi hết bài ca. Nhất đán, đán là buổi sớm. Nhất đán là một buổi sớm. Chuyện quá đột ngột. Trong ngôn ngữ của người miền Trung, hai từ “nhất đán” là từ tình cảm chứa vẻ lo âu, chia sẻ nay vẫn còn dùng. Ví dụ: _nhất đán mà mai này tôi có mệnh hệ gì thì … . Nhất đán là từ chỉ điều không may xảy ra, xin đừng thay bằng từ trần trụi là “ đột ngột, bỗng nhiên“. Khi Nguyễn Du dùng từ nhất đán tại câu số 43 là lòng Kẻ Sĩ đã nhiều cảm xúc lắm rồi. Dần theo ngữ cảnh toàn văn nếu ta biết rõ các sự thật như thế này thì ta sẽ hiểu. Tôi đã phân vân nhiều khi phải dịch câu này .Đúng ra là phải dich câu 43 như vầy ,
Tây Sơn cơ nghiệp ==> nghiệp Tây sơn ; nhứt đán = không ngờ thay ,ngoài ý thay , bất ưng thay,có ngờ đâu ; tận tiêu vong là tiêu sạch hết rồi .
Không ngờ thay,_nghiệp Tây Sơn sạch.
Làng đàn ca? , _nay mót một ai!
Trăm năm, _ một tiếng thở dài,
46-Bồi hồi chuyện cũ, _ lệ ai vơi đầy.

hay

Ôi một sớm! _Tây Sơn tiêu sạch *
Làng đàn ca? , _nay mót một ai!
Trăm năm, _ một tiếng thở dài,
46-Bồi hồi chuyện cũ, _ lệ ai vơi đầy.
Long Thành Cầm Giả Ca
Qua Dòng thơ ngũ ngôn .

Không hẹn mà hai nhà thơ dưới đây đã chọn dòng ngũ ngôn để chuyển dịch. Với thứ ngôn ngữ này, lời văn có khả năng chuyển sang Anh ngữ mà không làm bản văn Anh ngữ mất đi cái mượt mà của nó . Để tăng cường sự cảm thông của người đọc Anh văn thì người có ý định dịch chuyển có thể giảng bình ý thơ của tiền nhân ta đính kèm theo với bản dịch sang thơ tiếng Anh như là một văn bản phụ lục.

Dịch thơ cổ văn cả chị ĐLK và anh HNL đều đã thông qua các giai đoạn đọc hiểu kỹ bản văn, do tôi chuyển trước đó thế nên hai vị hiểu tr kỹ về bản văn này. Lời dịch nghĩa từng cầu từ nguyên tác nay đã lưu sẳn trên http://www.art2all,net . Do Họ đã cảm, đã thấm, và có thể bình giảng đến được chỗ sâu kín của tam tư tác giả Nguyễn Du , vì thế mà lời thơ dịch của họ rất tự tin , có hồn và đầy cảm xúc. Laiquangnam rất vui khi nhị vị đã hồi đáp . Ngôn ngữ và kiểu dịch rất lạ này hoàn toàn khác với lối “chân phương“ áp sát của tôi và của nhiều người khác khi chọn dòng thơ cổ của Việt Nam như song thất lục bát và lục bát để chuyển dịch .
Đặc điểm của dòng thơ ngũ ngôn khiến cho “Ai đó” có thể phổ nhạc đượcthi ca bằng từ không thể lan xa bằng Âm nhạc , một bản nhạc được hàng chục ngàn người nghe cùng một lúc , trong khi thơ chữ thì vô phương

01

Đây là bản dich của chị Đặng Lệ Khánh . Lối dịch rất sát với phía bên kia bờ chữ nghĩa
Long Thành Cầm Giả Ca
Nguyễn Du

Nàng vốn ở Long Thành
Tên họ không ai biết
Tri âm gọi Nàng Cầm
Đàn Nguyễn thì hay tuyệt

Khúc Cung Phụng triều trước
Nàng đàn hay nhất đời
Ta gặp Nàng một dạo
Bên Hồ Giám tiệc vui

Nàng áng chừng hăm mốt
Má hồng rượu pha xuân
Năm cung tay lả lướt
Khi khoan gió đùa thông

Khi trong vờn đôi hạc
Khi sét giật bia nhào
Khi ngậm ngùi nhớ nước
Người nghe cũng say theo

Khúc trung hòa đại nội
Chao lòng quân Tây Sơn
Hửng sáng còn luyến tiếc
Tranh nhau ngợi thưởng nàng

Tiền xem như bùn đất
Liên tục ném khen tài
Hào hoa hơn hầu tước
Ngũ Lăng đành kém vai

Băm sáu cung thua sắc
Trường An nét tuyệt vời
Hai mươi năm từ đó
Ta vào Nam nổi trôi

Tây Sơn không còn nữa
Long Thành gần như xa
Chuyện đàn ca chẳng thiết
Phủ Tuyên thiệp mời qua

Trên chiếu hoa giữa tiệc
Ca nhi nồng phấn son
Riêng một người cuối góc
Gầy già chẳng điểm trang

Một thời danh cầm thủ
Giờ ngồi đàn khúc xưa
Ta nghe lòng thổn thức
Má ai lệ như mưa

Nhớ lại bao năm trước
Bên hồ Giám đêm nào
Chừ thành tan, người tán
Chừ thương hải nương dâu

Tây Sơn đà mất dấu
Tiệc xưa sót mỗi Nàng
Trăm năm qua chớp mắt
Nâng áo lau lệ tràn

Ta về tóc bạc trắng
Trách chi nàng xuân phai
Đăm đăm mắt đối mắt
Nhìn nhau ai biết ai

Đặng Lệ Khánh
www.art2all.net

02
Bản dich của anh Hà Nguyên Lãng .Lối dịch theo cảm xúc dâng trào.

Long Thành Cầm Giả Ca

Nàng Cầm ! Nàng Cầm !
Tiếng nguyệt cầm tuyệt kỹ
Cung Phụng Khúc triều cang
Giám Hồ sóng lặng phắt
Hạc buông lửng cánh vàng
Thông quên vi vu hát
Đất trời chừng mê man…

Nàng Cầm ! Nàng Cầm!
Áo hồng, quần sắc túy
Dáng thanh tân dịu dàng
Môi hồng ai hé nhụy
Ngàn xuân dậy mùa sang
Ngũ Lăng nhường danh quý
Sầu mỹ nữ Trường An
Tiệc Tây sơn túy lúy
Hảo hớn vung thưởng tràn
Thi nhân hé nhìn trộm
Lòng thầm những mơ màng…

Tư gia riêng tiệc mời
Tỏ tường ai dung nhan
Mày mi thanh,mắt tú
Men dậy sóng tình tang…

Rồi ,tang thương dâu bể
Triều Tây sơn tiêu tàn
Đao binh lan cõi Bắc
Thi nhân xuôi về Nam…

Hai mươi năm đã tưởng
Bóng hình xưa nhòa tan
Tiếng đàn xưa nhòa tan
Ngờ đâu dinh Tuyên Phủ
Long Thành gặp lại nàng
Ôi! Tây Sơn một thuở
Thiên mệnh sao phủ phàng
Xóa mờ bao dấu tích
Chỉ còn đây tiếng đàn
Gặp nhau lời không tỏ
Tình xưa đã cũ càng
Nếp nhăn hằn đôi trán
Tóc sương gợi ngỡ ngàng
Tiếng đàn ai réo rắc
Lệ lòng ai tuôn tràn
Ngón tay ai rỉ máu
Lòng ai đau ngút ngàn…

Nàng Cầm! Nàng cầm!
Ba trăm năm tiếc hận
Còn vang vọng lời than.

Hà Nguyên Lãng

Laiquangnam

Viết tại SG ngay sau ngày gặp anh Lại Như Bằng ngày thứ ba 20 /3 / 2017.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s