Archive | Tháng Tư 2017

TRẦN VĂN KINH: TÔI NGHE TIẾNG CỦA TÔI Thơ và ký

TRẦN VĂN KINH

 

TÔI NGHE TIẾNG CỦA TÔI

Thơ và ký

 

NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN

 

 

 

 

 

Nhà thơ Trn Văn Kinh: Gi o vô tn chút nh chưa tan

 

Nhà thơ vốn không phải danh xưng dành cho tất cả những người cầm bút. Mà bởi những đam mê, cống hiến và tác phẩm suy tôn nên họ. Với nhà thơ, thì dù họ có ẩn mình kín đáo, thơ ca của họ vẫn lan tỏa đến những tâm hồn đồng điệu khác. Đó là sức mạnh của thơ ca.

Tôi đọc được và cảm nhận những rung cảm thực sự từ nhà thơ Trần Văn Kinh. Không hiểu sao tôi cứ có cảm giác bâng khuâng khi khép lại những trang bản thảo của ông. Dường như qua thơ ca của mình Trần Văn Kinh đã gửi vào sâu thẳm lòng người, gửi vào trong vô tận cõi đời chút nh chưa tan (như một ý thơ ông viết). Và tôi thiết nghĩ, chút nhđó sẽ ở lại mãi trong ta vì những nỗi niềm, cơn cớ, tình cảm mà nhà thơ gửi gắm. Như một nốt nhạc tài hoa ngân lên, sẽ vang vọng mãi và gây chấn động trong tâm thức người nghe.

Tôi nghe tiếng ca tôi

Ch như tiếng rung khe kh

Ca lòng mình xôn xao, xôn xao

Ri tan đi trong tiếng gió gào

May ch có người yêu mình nghe được.

 

Nhà thơ, có người ẩn mình kín đáo trong thơ, mượn ngôn ngữ làm nơi trú ngụ cho tâm hồn mình. Lại có người dùng thơđể giãi bày những nghĩ suy, trăn trở. Ta không biết Trần Văn Kinh đang ẩn mình hay giãi bày, nhưng tôi tin đó là những rung cảm tận cùng và sâu thẳm nhất nơi tâm hồn nhạy cảm và nhiều trắc ẩn của ông. Với bài thơTôi nghe tiếng của tôi ngay ở những dòng đầu người đọc có thể nhận ra ông là một người viết với cái tôi riêng biệt. Nhà thơ luôn là người nghe thấy, nhìn thấy và cảm nhận thấy những điều mà người thường không thấy được. Đó là khả năng thiên phú của người cầm bút. Trần Văn Kinh không phải là ai, không là một điều gì khác khi ông lắng nghe tiếng của mình (tượng trưng cho cách sống, lý tưởng, nhân cách…) và nhận biết mình, ông không giống ai, dẫu họ là vĩ nhân hay những người bình thường nhất. Ông chọn mình chỉ như tiếng rung khe khẽ của chính sự xôn xao lòng mình. Nhưng đó là tất cả ý nghĩa của trái tim, của tâm hồn tha thiết với cuộc đời và con người. Giản dị, khiêm nhường nhưng khác biệt và sâu xa. Điều đó chỉ được phát hiện qua sự thấu hiểu: May ch có người yêu mình nghe được.

 

Người làm thơ, làm nghệ thuật cần lắm sự sáng tạo. Trong thời này có lẽ chúng ta ít nhiều cảm thấy mệt mỏi với những bài thơ phong trào, sáo mòn, cũ kỹ với những ngôn ngữ, ý tưởng không có sự tìm tòi và gọt giũa. Nhà thơ Trần Văn Kinh không nằm trong số đông đó bởi sự tìm kiếm, sáng tạo trong những tứ thơ, ý tưởng và ngôn từ. Để có được điều này vì trước hết ông là một trí thức, một người hội tụ những hiểu biết nhất định từ môi trường sưphạm cũng như sự từng trải cuộc sống và thêm sự nhạy cảm, tinh tế thiên phú của người làm nghệ thuật. Tôi thực sự tâm đắc với câu thơ : Kinh nghim đôi khi chn đường sáng to của ông. Đây cũng là câu thơđể lại nhiều suy ngẫm cho mỗi chúng ta.

Đọc thơ Trần Văn Kinh tôi nghĩ nhiều về nhân cách và lẽ sống ở đời. Thơ hay không chỉ là bông hoa đẹp mà còn phải tỏa hương. Thơ ông đã làm được điều đó. Khi mà tưởng rằng thế hệ ông, tuổi tác của ông đã vào độ xưa nay hiếm thì những trước tác hay những tác phẩm sau này của ông dường nhưlà không tuổi. Những câu thơ vẫn nhưđang soi chiếu vào ta, bất chấp sự dài rộng của thời gian, không gian hay chiều sâu khoảng cách của lòng người.

Có nhng điu cha mun dy con

Ch s sau này làm con thua thit

Có nhng điu không làm con thua thit E rng cha chng mun dy con.

Thơ Trần Văn Kinh viết cho các con mà ta nghe như một tiếng nói từ trong thẳm sâu lòng mình. Có mấy người cha viết cho con mình hay dạy dỗ con mình được như thế. Nhưng hơn thế, thơ Trần Văn Kinh đã nói hộ nỗi lòng của bao người cha nói riêng và những thế hệ đi trước nói chung. Thơ ông đã vượt ra ngoài khuôn khổ, lằn ranh của sự dạy dỗ hay viết lại cho con mình. Mà trong đó ta thấy bao hàm một bài học lớn, một ý nghĩa nhân văn và cao cả. Và đây nữa, câu thơ khiến chúng ta ngỡ ngàng. Sự thăng hoa của những câu thơ luôn dự báo một nhà thơtài hoa tiềm ẩn.

Màu xanh tht sng ngoài tri

Nghe màu xanh gi dy đời cách xanh

Goethe nói: Mọi thuyết đều u m, chỉ cây đời là mãi i xanh tươi. Trần Văn Kinh nói được nhiều hơn thế khi mà những câu thơấy làm nhức nhói bao người đọc. Những ai đã thấy được điều đó? Và trong số người thấy được ai dám nói ra được? Mà lại là bằng ngôn ngữ nghệ thuật của thi ca.

Đến đây tôi càng muốn khẳng định: Thơ ca suy tôn nên nhà thơ. Điều đó đúng với Trần Văn Kinh.

Bên cạnh những câu thơ khiến người đọc “thảng tht” tôi cũng muốn nhắc đến không khí trung đại, man mác trong thơ ông. Như buổi hoàng hôn vàng son của một thời đại nào đó được khơi gợi từ những câu thơ trữ tình, hoài cảm:

Ri mt mùa đông xa cách xa

Huyn cm nghe ln tiếng mưa sa

Ngày nào gia chn thiên thai y

Mt tiếng đàn sênh bao thiết tha.

Cái tài hoa của người viết là làm cho trí tưởng tượng của người đọc được dẫn dụ vào thế giới nghệ thuật tưởng vô hình nhưng mang đầy cảm xúc thực. Ở đó người đọc tìm thấy mình và ngỡ nhưnhà thơđang viết cho mình.

Sự hoài cổ trong thơ Trần Văn Kinh buồn và đẹp đến độ cho tôi hình dung về người xưa, tình xưa mà thao thức và thổn thức.

Để bây gi lc c nhân

Vườn xưa chng đã my ln ra hoa…

Tôi không muốn và không thể so sánh Trần Văn Kinh với bất kỳ ai. Một người đi giữa kim cổ với buồn vui thế sự. Ông hiểu cuộc đời bằng lý trí, cảm nhận bằng con tim và viết lên bằng những rung cảm tận cùng. Vài dòng “cảm thán” làm sao nói hết được những “ng” trong tập thơTôi nghe tiếng của tôi. Chỉ mong viết ra để thỏa những thổn thức trong lòng và gợi một lối nhỏ để bước vào thế giới thơ ca Trần Văn Kinh Người thả vào vô tn chút nh chưa tan.

 

Ni nhng ngày đầu thu 2016

Nhà báo Phạm Quỳnh

Ban Văn a – Văn ngh

o Sc khỏe &Đời sng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tôi nghe tiếng của tôi

 

Tôi nghe tiếng của tôi

Không rộn ràng như tiếng con chim chích

Khoe cái lồng nan rất “thích, thích, thích“

Hơn bao nhiêu lồng khác trên đời

 

Cũng không như tiếng gầm gừ của con sư tử già

Đã bao lần mặt trời, mặt trăng đi qua

Đã bao phen được người hầu hạ

Vẫn nhớ tiếc một thời hoang dã

 

Cũng không như những anh hát rong

Tiêu dao quanh năm ngày tháng

Lờ mờ kim cổ tây đông

Để lại cho đời danh tiếng

 

 

 

 

 

 

 

Cũng chẳng như những nhà hiền triết

Vẫn ngọt ngào thánh thót bên tai

Dạy bảo những điều người đời chưa biết

Như thuở còn mực tím dính đầy tay

 

Sao cái tay tôi không chịu viết

Sao cái chân tôi không chịu bước

Nó cũng ì ra như cái thân tôi

Cái thân tôi trời xanh đã định trước.

 

Không phải trách ông trời

Cũng không đổ tại người

Cách nhau thế kỷ

Chỉ tại cái đầu thôi

Nó đã già thế rồi.

 

Tôi nghe tiếng của tôi

Chỉ như tiếng rung khe khẽ

Của lòng mình xôn xao, xôn xao

Rồi tan đi trong tiếng gió gào

May chỉ có người yêu mình nghe được.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thời gian và ta

 

Khi thời gian trôi nhanh

Nhìn ta yên một chỗ

Thời gian cũng không nỡ

Trách mùa thu vô tình

 

Rồi thời gian trôi chậm

Ta vẫn bảo là nhanh

Thời gian không nỡ giận

Sắc thu đã úa vàng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ôi thời gian và ta

Một vô cùng vô tận

Một bóng câu vụt qua

Mà sao thành đôi bạn

 

Thời gian nhờ có ta

Mà biết lòng trắc ẩn

Trên đường đời đi qua

Đã bao lần vô cảm

 

Ta nhờ có thời gian

Mà gửi vào vô tận

Một chút tình chưa tan

Một chút gì cát bụi…

 

 

 

Những người tôi chịu ơn

 

Những người mà tôi chịu ơn

Họ chẳng bao giờ nghĩ thế.

Năm tháng thưa dần

Lặng lẽ.

 

Những người mà tôi chịu ơn

Khi tôi cận kề cái chết,

Chỉ có tình thương vô biên

Mới thành thuốc tiên cứu sống

Tôi như được đến hai lần

Mang ơn sinh thành dưỡng dục.

 

Những người mà tôi chịu ơn

Thuở hàn vi

Cho nằm ổ rơm giữa mùa đông giá

Trong góc nhỏ này

Ngoài kia phố xá…

Những năm sau đó

Chạnh nhớ đi tìm

Thời gian đã im lìm

Bóng chim tăm cá…

 

 

Những người mà tôi chịu ơn

Đã cho tôi vượt trường giang

Giữa mùa giông tố

Họ chịu gian nan

Cho tôi bến đỗ…

Đến lúc bình yên

Tìm về chốn cũ

Hỏi thăm thì họ đã đi xa…

 

Những người mà tôi chịu ơn

Đã chia sẻ cùng tôi

Suốt những chặng đường dài

Khi phẳng lặng, lúc chông gai…

Dẫu tôi có suốt đời nhớ đến

Cũng chẳng bao giờ có thể đền ơn.

 

Những người mà tôi chịu ơn

Đã cho tôi

Cuộc sống giữa miền quê yêu dấu

Hạnh phúc như những ngày thơ ấu

Tôi lại được tự hào

Mình vẫn có chỗ để đi về

Mình vẫn còn quê…

 

Những người mà tôi chịu ơn

Ngàn lời không hết được

Nhưng họ chẳng bao giờ nghĩ thế!

 

 

 

 

 

 

 

Đêm ở quê

 

Ta lại được ngắm trời sao qua khung cửa sổ

Thưởng thức mùi hương hoa bưởi tận trinh nguyên

Nhìn con cún giỡn ngoài sân như không hề ngủ

Nghe tiếng gà- lam lũ- vẫn thức canh đêm

 

Chợt thấy nhớ một điều gì trong ký ức

Mà tâm linh ta vẫn gọi hồn quê

Bởi lúc sống, họ là linh hồn cuộc sống

Và bây giờ không lẫn giữa u mê

 

Tương lai đấy, đâu phải là dĩ vãng

Bởi ngày mai khi thức dậy, đương nhiên

Ta sẽ hiểu những tấm lòng nhân ái

Những đôi mắt có tầm nhìn quảng đại

Ta gọi là tiền nhân

Và lịch sử gọi: Người Hiền.

 

 

 

 

 

Chiếc máy tạo khuôn

 

Vẫn còn một chút vàng son

Vẫn còn mua bán thì còn dập khuôn

Tò mò gặng hỏi càn khôn

Ở đâu khuôn sáo cũ mòn đeo đai

 

Đã cho riêng vẻ hình hài

Thì cho riêng nốt chút tài mà yêu

Lắng tai nghe tiếng gió chiều

Mới hay hoa lá cũng nhiều màu xanh

 

Lung linh sắc biếc trên cành

Phải đâu hoa nhựa mà đành giống nhau

Vô thương vô cảm vô sầu

Nằm trong chiếc tủ kính màu vậy thôi

 

Màu xanh thật sống ngoài trời

Nghe màu xanh giả dạy đời cách xanh Con chim non biết ngọn ngành

Hơi sương hương nắng trên cành nó yêu!

 

 

 

 

 

Mùa đông của tôi (*)

 

Ngày tháng vô tình có đợi ai

Mà sao kỷ niệm quẩn quanh hoài

Mơ màng như thuở nào Lưu Nguyễn

Giữa chốn Đào nguyên dõi dấu hài…

 

Rồi một mùa đông xa cách xa

Huyền cầm nghe lẫn tiếng mưa sa

Ngày nào giữa chốn thiên thai ấy

Một tiếng đàn sênh bao thiết tha

 

Đã biết xa rồi sao vẫn say

Nghê thường nốt nhạc lướt trên tay

Lẽ nào chút nắng chen cành lá

Mà má em hồng cho mắt cay…

 

Vẫn giấc thần tiên giữa thế gian

Khi lòng dìu dặt những cung đàn

Khi say hoa lá quên năm tháng

Quên tiễn thu, mừng đông đã sang

 

 

 

 

 

 

 

 

Ta thích mùa đông đến vậy sao

Một mùa không lẫn nét thanh tao

Bụi thời gian chẳng phai nhòa nữa

Một chút vàng son tự thuở nào

 

Hay bởi đông này thôi lãng du

Trở về lắng đọng những lời ru

Hay hồn quê cũ nghe đồng vọng

Đã trải lên màu xanh điểm tô

 

Hay bởi đông này ưu ái ta

Cho ta hoài niệm một thời xa

Tha thiết như chưa từng tha thiết

Một mùa hương bưởi đã đi qua…

 

_______________

(*) Bài này và những bài sau có đánh dấu (*) đã được đăng trong tập “Hương đời”-NXB Văn hóa Dân tộc.

Hà Nội 2005. Lần in này có đôi chút sửa chữa.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nghiêng

 

Bóng chưa ngả đường dài

Chiều chưa là dĩ vãng

Chén rượu sầu chưa cạn

Người đi sao ta nghiêng

 

Đâu làn nắng dâng hương

Cho màu xanh thắm lại

Đâu ráng chiều nắng quái

Cho chiều xa hơi sương

 

Một khoảng lặng nguồn cơn

Ai bảo là vô hạn

Để ngày ngày tháng tháng

Nghiêng nghiêng một bóng gầy…

 

 

 

Chiều sâu đôi mắt

(Tặng N.H.)

 

Có một khoảng trời sâu thẳm

Ta nhìn mây núi chon von

Có một mảnh đời xa lắm

Ta nhìn trong đôi mắt trong…

 

Em thương con cò lặn lội

Hay là em nhớ đời ta

Hay là em thương đời mẹ

Trập trùng mây núi băng qua!

 

Bình yên, bình yên gió sóng

Cho ta lắng khúc nhạc hường

Cho ta chớp hồn tia nắng

Chiều sâu đôi mắt em thương

 

Ở đâu dòng sông Hồng chảy

Em mang Hồn Việt hòa ca

Ở đâu mắt em nhấn phím

Mà rung nơi trái tim ta!

 

Hà Nộinhững ngày đầu năm 2005.

 

 

 

 

 

Lời mùa thu (*)

 

Trời thu chưa nhạt nắng

Đêm thu chưa đẫm sương

Gió thu chưa se lạnh

Hồn thu nồng say hương

 

Ôi mùa thu nhớ thương

Khi tình đời trong suốt

Khi lời chưa giũa gọt

Khi chưa hay dặm trường

 

Rồi thì thu đẫm sương

Rồi thì thu nhạt nắng

Rồi thì thu gió lạnh

Rồi hồn thu vương vương

 

Thu nay bao thu rồi

Nghe gì qua năm tháng

Rượu nồng bao ly cạn

Tình đời sao chưa vơi…

 

Hà Nội mùa thu 1995.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hình hài

 

Có nỗi đau gì mà bỗng dưng đầu bạc

Hay bởi ngày xưa sớm khóc Ngũ Viên (*)

Có khát bỏng gì mà khô gầy thân hạc

Hay bởi hình hài nặng kiếp nặng duyên

Có nhớ thương ai mà mắt nhìn xa lắc

Hay chỉ muốn tìm một chỗ để quên.

 

_______________

(*) Truyện Đông Chu liệt quốc: Ngũ Viên tức Ngũ Tử Tư, một trung thần nhà Ngô, vì can vua là Ngô Phù Sai không được, chỉ trằn trọc một đêm mà đầu bạc trắng xóa.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thư thái (*)

(Viết cho các con)

 

Có những điều cha muốn dạy con

Chỉ sợ sau này làm con thua thiệt

Có những điều không làm con thua thiệt

E rằng cha chẳng muốn dạy con

 

Bể học thì mênh mông

Chỉ nông cạn nương nhờ bằng cấp

Chân lý là điều ta mong ước

Nhưng dễ gì nói được với nhau (*)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Những khuôn vàng thước ngọc bấy lâu

Kinh nghiệm đôi khi chặn đường sáng tạo

Những võ đoán, a dua, con đường thô bạo

Ai biết gì sau những chữ “tâm”

 

Nhưng mưu thâm thì “họa diệc thâm”

Mặn và khát nối hai đầu oan trái (**)

Lòng ta rộng thì ta thư thái

Giữa chốn quan trường,

Hãy khiêm nhường như Lạn Tương Như (***)

 

_________

(*) La verité n’est pas vrai à dire (ngạn ngữ Pháp)

(**) Cha ăn mặn, con khát nước (ngạn ngữ Việt Nam)

(***) Chuyện Lạn Tương Như và Liêm Pha thời Chiến Quốc (Sử ký của Tư Mã Thiên – TQ).

 

 

 

Đạo (*)

 

Người xưa nói: Đạo Trời

Là lấy chỗ thừa bù cho chỗ thiếu

Kẻ sĩ ở trên đời

Phò tá Đạo Trời

Bênh vực kẻ yếu

 

Người xưa cũng nói: Đạo Người

Là lấy chỗ thiếu bù cho chỗ thừa Nhưng đó là đạo

Của thời ly loạn!

 

Ta nghe tiếng của người xưa vọng

Phò tá Đạo Trời

Làm theo kẻ sĩ

Lẽ nào ngoảnh mặt làm ngơ?

 

Nhưng biết đến bao giờ

Đạo Trời

Và Đạo Người

Là một?

Chỗ thừa rất mạnh

Trời thì ở xa!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tự vịnh

 

Trời cho ta một cái đầu

Thức nhiều nên sớm một mầu muối tinh

Trời cho ta một trái tim

Đau nhiều nên phải đi tìm thơ chơi

Trời cho ta một kiếp người

Gian truân nên phải tìm nơi giãi bày

Tìm trong kim cổ đông tây

Phô ra lại thiếu một tay cầm chầu

Trời cho ta một cái đầu…

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bên thềm (*)

 

Thu đến rồi, vương trên áo xiêm

Hương bay nhè nhẹ, gió mơn rèm…

Chiều nay như giữa chân trời lạ

Thu đẫm hương nồng, thơ đẫm men…

 

Hồn thu bay bổng như lời ru

Như tiếng reo ca đời lãng du

Có phải thơ xa miền tục lụy

Nên hồn thơ lắng đọng hồn thu?

 

Chợt thấy gần nhau một chặng đường

Chút hương đồng nội giữa ngàn phương

Kể chi năm tháng không hò hẹn,

Cũng dửng dưng và cũng xốn xang…

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Rồi đến chiều nào đâu có hay

“Lượng trời cứ chật” (*), phải chia tay

Rồi tình cũng sẽ buông lời trách

Khoảnh khắc chiều nay cũng đổi thay?

 

“Yêu đời một nửa như say

Nửa thương đời với những ngày đã qua

Hỡi con tàu đậu phía xa

Là đi hay đến cùng ta hát mừng”…(**)

 

Cám ơn thu đã đến chiều nay

Kịp nối vần thơ “lẫn khói mây” (**)

Quân tử nhớ ơn người tri kỷ

Bên thềm hương nắng vẫn xuân đầy…

 

______________

(*) Thơ Xuân Diệu

(**)Buổi tối qua phà bãi Cháy, thơ của tác giả.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Khung trời phía sau

 

Cánh chim chiều đã mỏi rồi

Vẫn chưa về lại khung trời phía sau

Ngoài hiên sương gió bạc đầu

Trót còn vương một chút sầu thơ thơ…

 

 

Với quê

 

Con chỉ thờ cha được hết đời

Mai sau hoa cỏ họa hoằn thôi

Giờ không còn mẹ và anh nữa

Lối cũ đi về bóng nhạn côi!

 

(Sau ngày anh cả mất)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thời con gái

 

Sao thế nhỉ, mùa thu vàng chưa gõ cửa

Mà tình yêu đã vội úa trên tay

Đổi một thời đam mê bốc lửa

Để có hôm nay “thế sự” an bài!

 

Em chẳng trách, vì anh đâu có khác

Chỉ vì em đã tưởng khác mà thôi

Bao gánh nặng

Và đôi vai gầy hạc

Bạn cùng nhau

Thời con gái qua rồi!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tim rung

 

Trái tim tôi khi nó cần sưởi ấm

Điện tâm đồ lại cứ bảo tim rung

Và “chẩn đoán”: chắc khi còn trẻ

Tại yêu nhiều nên tim đập lung tung?

Ôi bác sĩ! Yêu đời thì có thể,

Chứ lời yêu tôi nghe chỉ một lần!

Mà yêu “dấu”? Chỉ có trời mới biết

Oan cho tôi

Thầy thuốc bảo tim rung!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Mờ tỏ

 

Một làn mây biếc

Hương gió bay theo

Bên đây bên đó

Tôi lơ đễnh

Vẫn nhìn rất rõ!

 

Rồi mai đây

Giữa muôn nẻo đường

Mờ tỏ

Mắt dù mở to

Vẫn mờ gió bụi

Chỉ có hồn tôi

Tỏ một bóng hình!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Một chút bụi hồng

(Dòng sông vắng cả đôi bờ)*

 

Dòng sông ấy ở trên cao

Thuyền lan (**) chở ánh trăng, sao, thơ, tình

Không ngày, không tháng, lênh đênh

Không bờ, không bến, thác ghềnh cũng không

Chỉ vương một chút bụi hồng

Là yêu em đó mà lòng trong veo

Một thuyền một bóng liêu xiêu…

 

_______________

(*) Dòng sông trên cao của Phùng Duy Thắng

NXB Hội nhà văn. Hà Nội 2005

(**) Thuyền lan trong Thiên thai, xin đừng đọc nhầm là thuyền nan!

 

 

Với hoa (*)

 

Khi lòng không hờn giận

Là lúc ngắm nhìn hoa

Sắc hương nào lận đận

Sắc hương nào kiêu sa

 

Hoa nói gì với gió

Hoa nói gì về ai

Lời hoa thơm hương cỏ

Tình hoa thơm dặm dài

 

Hoa cho ta nhiều lắm

Bông tím gửi hương lòng

Nụ hồng trao hơi ấm

Nõn mờ thơm mắt trong

 

Hoa cho ta nhiều lắm

Khi gặp cánh hoa tàn

Trong trái tim nằng nặng

Lòng biết ơn lá vàng

 

Hoa cho ta nhiều lắm

Mỗi lúc ngắm nhìn hoa

Thì hồn thơ xao xuyến

Như mùa thu chưa qua…

 

 

 

 

 

ảnh bổ sung

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Giữa dòng đời (*)

(tặng Nha Trang)

 

Một cánh buồm thấp thoáng

Bươn chải giữa dòng đời

Lời ru (hề) vang vọng

Tương giang (hề) chơi vơi (*)

 

Ôi lời ru yêu thương

Ngọt ngào mùa cỏ mật

Giữa trời thu Nha Trang

Nắng chiều không vội tắt

 

Cho dài thêm khoảnh khắc

Lắng đọng lời thiết tha

Rồi để buồn ngơ ngác

Tiếc hương tình bay xa

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Em lại về thiên thai

Để tình vương lữ khách

Thơ, rượu, chẳng hình hài

Thả trên “lầu Hoàng Hạc”:

 

Hương về đâu (chừ) như thoảng như bay Tình về đâu (chừ) như giông như bão Người về đâu (chừ) như hư như ảo

Ta về đâu (chừ) như mơ như say…

 

Có thương nhau đồng điệu

Mùa thu này Nha Trang

Mà túi thơ bầu rượu

Đi cùng ta lang thang…?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bay bổng giữa thần tiên

Thoát mọi dòng trong đục

Chợt đến trước Cửa Thiền

Lại nhớ miền thế tục…

 

Dòng em bao nhiêu sóng

Vẫn tình em trong ngần

Nhớ thương con đò mộng

Trôi dạt dòng phù vân…

 

_________

(*)Thơ xưa :

Quân tại Tương giang đầu

Thiếp tại Tương giang vĩ

Tương tư bất tương kiến

Đồng ẩm Tương giang thủy.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bất chợt (*)

 

Tôi không thể gọi tên em

Sợ chỗ đông người khó nói

Tôi không thể đến thăm em

Sợ lúc lòng không giấu nổi

 

Thế rồi em bỗng ghé thăm

Ô cửa nở bừng ánh sáng

Mọi điều tan biến rất nhanh

Tôi bỗng thấy mình…lẩn thẩn

 

Tay trao chén nước mời em

Mắt níu thời gian… ngồi lại!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Giá đừng (*)

 

Giá đừng có buổi chợ phiên

Giá đừng có gặp người bên hoa đào

Giá đừng gió lộng xôn xao

Bên hồ giọt nắng rơi vào áo em…

 

Có gì đâu buổi mới quen

Mà nay nỗi nhớ mong em từng ngày

Trách mình buổi ấy thơ ngây

Ngẩn ngơ gió gió mây mây lựa vần

Để bây giờ lạc cố nhân

Vườn xưa chừng đã mấy lần ra hoa…

 

 

 

 

 

Phù vân

 

Như hương bưởi đầu mùa

Làm say con ong mật

“Quân hận ngã sinh từ”? (*)

Thương đôi bờ tuế nguyệt…!

 

Chẳng có bờ thiên thai

Sao có bờ tuế nguyệt?

Xin cứ là mộng điệp

Như cung đàn phù vân…

 

Giữa dòng đời thế tục

Vẫn tình em trong ngần

Sao lại là mộng điệp

Sao lại là phù vân…

 

____________

(*) Thơ tình xưa: Quân sinh ngã vị sinh/ Ngã sinh quân dĩ lão/ Quân hận ngã sinh từ/ Ngã hận quân sinh tảo. Nghĩa là: Khi chàng sinh thi thiếp chưa sinh/ Khi thiếp sinh ra thì chàng đã già/ Chàng hận thiếp sao sinh ra muộn/ Thiếp hận chàng sao sinh ra sớm vậy!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thực, hư?

 

Điều em nói là hư hay thực?

Tôi lơ mơ trong giây phút giã từ

Mắt lơ đễnh không dám nhìn vào mắt

Để biết được điều gì thực gì hư

 

Rồi em trở lại, một ngày không hẹn trước

Tôi vẫn dại khờ nói chuyện vu vơ

Và từ đó không bao giờ gặp nữa

Để được nhìn vào đôi mắt: thực, hư?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hương thu (*)

 

Hương thu sao giống rượu đào

Cho ta say đến lẫn vào gió sương

Dặm trường từ độ vương hương

Ngẩn ngơ Hoàng Hạc trên Hoàng Hạc lâu (*)

Trời cho hương nắng trên đầu

Hoa cho hương sữa nên giàu nhân gian

Kể chi chiều muộn sắp tàn

Chén quỳnh vẫn đượm cả ngần ấy hương!

 

TVK

Nha Trang mùa thu 1999

 

___________

(*) Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thơ đề Bức ảnh chiều vàng

 

Ước gì đời cũng như tranh

Giữa thu phong với trời xanh úa vàng

Ngàn lời nhờ gió đưa sang

Nghe trong vô tận chiều vàng sắc thu…

 

Chiều vàng – ảnh TTCh

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nửa chén quỳnh tương

(“Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách”…)

 

Có khoảnh khắc nào em đấy chăng

Cung thương dìu dặt khúc Tầm dương

Thi nhân với tiếng cung đàn ấy

Một nỗi nhân tình giữa thế gian

 

Có khoảnh khắc nào, ta đấy chăng

Tầm dương dạ khúc cứ đa mang

Ngàn năm đâu phải mình ta nhỉ

Nửa chén quỳnh tương nhấp dở dang…

 

 

 

 

 

Lời hứa

 

Có những lời hứa

Nói xong rồi thôi

Đổi ngôi đổi thứ

Ai còn truy hồi?

 

Con trâu ăn cỏ

Cánh diều lên trời

Dấu chân người cũ

Xa vời, xa vời…

 

 

Mưa phùn

 

Đông này chẳng có mưa phùn

Rượu sầu đã cạn, thơ cùn cũng không

Ngoài hiên vừa hé bông hồng

Chắc là để đón gió đông sắp về.

 

 

 

 

 

Nhớ

(Tặng các bạn cùng hội D…).

 

Tôi nhớ ai và ai nhớ tôi?

Nhớ mà không nhớ được, thì thôi!

Thì thôi nhưng vẫn không thôi được

Thôi được là khi nhớ được rồi!

 

 

Phù sa

 

Sông xưa sao lắm phù sa

Sông nay sao lắm rác tha bộn bề

Dòng sông vẫn chảy rầm rì

Nhưng đôi bờ đã vắng đi cánh buồm

Hạ lưu cho tới thượng nguồn

Vấn vương một dải lụa hường của ta

Sông xưa sao lắm phù sa….

 

 

 

 

 

 

 

Viếng bạn

(Tôi vừa mất người bạn thân:

anh Nguyễn Quốc Chí)

 

Cuộc thế trăm năm sao chật hẹp

Bạn vừa vui đó, thoắt đi rồi

Chương trình Tiểu học còn đang dở

Dự báo liên ngành gác lại thôi

Nhắm mắt khỏi trông trò lố nhố

Xuôi tay hết vướng cánh xu thời

Thắp nhang viếng bạn, mắt nhoà lệ

Ly biệt nhau rồi, ly biệt ơi!

 

____________

(*) Anh Chí nguyên là Chủ nhiệm Chương trình Cải cách tiểu học của Bộ giáo dục và đào tạo.

(**) Các đề tài anh Chí từng tham gia khi còn ở Bộ CN nhẹ cũ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chiều sót

 

Khi mặt trời ngủ lâu

Cây phải luồn trong tối

Muốn vươn ra ngõ lối

Cũng tránh nơi đụng đầu

 

Nhưng ngày đêm thay nhau

Cây có hồi mềm mại

Níu ánh chiều sót lại

Nấn ná giờ hoàng hôn

 

Chắc muốn vượt thời gian

Nhưng thời gian vô hạn

Giữa dòng đời chập choạng

Chiều sót trên Bờ đường

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hữu hạn và vô hạn

(Gửi bạn…)

 

Muốn thành danh thành tiếng

Để lại mãi cho đời

Lại phải lụy theo thời

Những phù du hữu hạn

 

Trời là mưa là nắng

Đời là bể là dâu

Tình là mộng là sầu

Mênh mông và vô hạn

 

Biết dừng và biết đủ

Triết lý cũ từ lâu

Cát bụi, có gì đâu

Mênh mông và vô hạn!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhân đọc bài con Nhân-sư

của bác Chân:

 

Mấy lời bác trách con Nhân-sư

Trách thật hay là chỉ trách vờ

Văn võ song toàn không đất dụng

Cuối đời lại thấy lắm Nhân-trư.

 

 

Mừng sinh nhật bạn

 

Mới lên song thất (77) đã nhiều đâu

Cho dẫu thời gian vạn lý sầu

Ví thử sầu kia tan biến hết

Chỉ e còn lại những tai trâu.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hồi đó

 

Hồi đó cùng đi một chuyến tàu

Mình ta ngồi lại đến ga sau

Không xa nhưng đã thành ngăn cách

Đành mượn dòng thơ dứt mạch sầu

 

Dứt được đường tơ chắc nhẹ tênh

Khó sao thương nhớ cứ vô hình

Cửa thiền đã tưởng nơi nhờ cậy

Sao tiếng chuông chùa cứ lặng thinh.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Dừng chèo

(Trả lời anh HL.)

 

Muốn sang cho đến bến bờ

Ngập ngừng vì có mây mờ trên sông

Mây mờ khi có khi không

Nhưng bờ thì vẫn chưa thông thuận dòng

Biết là bờ lắm hoa hồng

Mà con đò vẫn giữa dòng liêu xiêu

Cầm chèo ngại bước phiêu diêu

Dừng chèo xin đợi một chiều trúc ty… (*)

 

____________

(*) Người xuống ngựa, khách dừng chèo/ chén quỳnh mong mong cạn,nhớ chiều trúc ty (Tỳ bà hành của Bạch cư Dị)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Còn ham

 

Yêu đời yêu mãi không thôi

Vô tư suốt cả một thời đa đoan

Hết thời rồi vẫn còn ham

Một làn gió thoảng cũng làm ta say

Ta say trong bấy nhiêu ngày

Hết say lại thấy cay cay vị đời

Lại yêu đời mãi không thôi…

 

 

 

 

Chùm thơ Haikư (*)

 

  1. Ngôi nhà xưa ở kia

Con đường xưa ở đây

Dấu chân đã chìm trong cỏ may.

 

  1. Tàu cau lất phất

Tự do giữa trời đất

Nhớ thương ai mà chẳng đơm hoa…

 

  1. Ngày xưa chim phượng đến thăm

Cây khế

Cứ tưởng bây giờ vẫn thế.

 

  1. Ông quan ngồi trên lưng ngựa

Cậu lính chào

Ngựa cười rung nhạc lao xao…

 

______________

(*) Thơ Haikư là một loại hình thơ của Nhật bản, có từ thế kỷ thứ 18.

Đặc điểm thơ Haikư là không có tiêu đề, cả bài chỉ có 3 câu và số chữ không quá 18.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chùm thơ xướng hoạ

 

Em và tôi

 

Em của ai, rồi em của tôi

Một thiên kỳ bí, khó trao lời

Thôi đành quan yếu điều hư ảo:

Em của tôi, rồi không của ai!

 

 

Em và tôi

(Bài xướng của bác NC)

 

Em của tôi, rồi em của ai

Mong hương, chờ dáng, nhớ nhung hoài

Nhớ hoài quên bẵng điều quan yếu

Em của ai, rồi mới của tôi?

 

 

 

 

 

 

 

 

Đồng Mô hôm ấy anh về

 

Đồng Mô hôm ấy anh về

Thấy đâu nghé nhỏ nón mê đội đầu

Thấy toàn một lũ tai trâu

Bảo nhau bưng bít nỗi sầu thế gian

 

 

Đồng Mô ta ước được về

(Bài xướng của ĐAT)

 

Đồng Mô ta ước được về

Dắt con nghé nhỏ, nón mê đội đầu

Ngu si đi như lũ trâu

Tai nghễnh ngãng, hết buồn rầu thế gian.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đừng nghe họa mi hót

 

Lên lầu rồi lại xuống lầu

Làm sao nghe được tiếng sầu thế gian

Trước sau một giọng khàn khàn

Sức đâu nghe được tiếng ngàn tây đông

Lại quay về chốn thư phòng

Liệu còn nghe được tiếng lòng của ai?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Xùy cho họa mi hót

(Bài xướng của ĐAT)

 

Ngồi buồn mang máy lên lầu

Xùy cho mi hót bớt sầu thế gian

Mi cất một giọng khàn khàn

Rồi im. Tiếng nấc nghẹn ngàn chiều đông

Tập tênh ta lại về phòng

Ta mi ai kẻ não lòng hơn ai?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nét thơ

(Bài họa 1 của TVK)

 

Xuân vừa đôi tám (88) rõ hèn chi

Vừa nét (Internet) vừa thơ, đúng dậy thì

Nét có thơ thơ, còn nét mãi

Thơ không nét nét, kém thơ đi

 

Ngó nét nên thơ cứ ngó lâu

Đưa thơ nên nét muốn đưa mau

Phòng Câu lạc bộ luôn dành chỗ

Đền Thượng vui chân vẫn trước sau…

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Xuân thì

(Bài họa 2)

 

Tám tám xuân mà chẳng kém chi

Vẫn thơ vẫn nét vẫn thầm thì

Mười hai năm nữa xuân đầy bách

Lúc ấy tha hồ thơ nét đi.

 

Cứ tưởng xuân thì qua đã lâu

Bỗng nghe xuân gọi: chớ đi mau

Giai nhân thủng thẳng chờ xuân nhé

Ngoảnh lại: xuân oà lên phía sau!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Xuân vẫn đẹp

(Bài xướng của PTHV)

 

Tám tám tuổi xuân, vướng bận chi

Tai còn nghe rõ tiếng thầm thì

Mắt còn vi tính, quay phim được

Khớp vẫn dẻo dai mỗi bước đi.

 

“Dãn van tĩnh mạch” khỏi từ lâu

Đền Thượng* chon von, vẫn bước mau

Câu lạc bộ thơ còn túc tắc

Ước trăm sống khỏe, chết bàn sau!

 

Ngày 1/1/2015

Hồng Vân

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đò sang

(Họa bài Đò muộn của PTHV)

 

Đây bến chiều thu rõi nắng vàng

Vẫn đầy thu sắc, vẫn còn sang

Ai kêu thu quạnh khi đò muộn

Nhìn thấy đò sang, có ngỡ ngàng?

 

TVK

 

Đò muộn

 

Có một mùa thu trải nắng vàng

Đò chiều, bến muộn, đón ai sang

Xua tan bao nỗi niềm hiu quạnh

Để những thu sau vẫn ngỡ ngàng.

 

PTHV (16/12/2015)

 

 

 

 

 

 

Tuồng rêu

(Họa bài “Từ độ về đây” của Nguyễn Bính)

 

Về đây mà sống, dẫu đây nghèo

Nhưng túi đầy thơ, trăng gió theo

Quên hết mấy thằng từ độ ấy

Một tuồng bất nghĩa, một tuồng rêu.

 

TVK

 

 

Từ độ về đây

 

Từ độ về đây sống rất nghèo

Bạn bè chỉ có gió trăng theo

Những thằng bất nghĩa xin đừng đến

Để mặc thềm ta xanh sắc rêu

 

(Nguyễn Bính).

 

Trời thu nao nao

(Thơ đề ảnh “Trời thu nao nao” của bác NXT).

 

Em có nghe âm thanh gì trong gió dịu êm, Không ngoảnh lại, làm sao em biết được?

Gió chỉ đủ làm áo em bay lướt thướt

Chút mơ hồ: Con đò đâu phải đợi chờ em!

Nhưng nếu bỗng nhiên gió nổi cuồng điên

Cô lái đò biến thành hoàng tử

Nét mặt bừng lên rạng rỡ, hân hoan

Và tình yêu ùa đến cháy bỏng, nồng nàn

Thì khi ấy, em hãy vui lên như lần đầu gặp gỡ

(Em cũng biết, anh đúng là như thế…)

Nhưng bây giờ, chỉ một giây thôi:

Em ngoảnh lại!

Không phải để tạ từ…

Mà để tiễn đưa

Một mối tình xưa đi vào cõi mộng,

Cõi mộng ấy, không có con đò nào nấp bóng!

 

Trời thu nao nao – NXT


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Xuân đến

 

Một cánh mai vàng rực của em

Chở bao nhiêu nắng đến bên thềm

Xuân đi mấy độ giờ xuân đến

Như thể xuân vừa mới lớn lên!

 

(Xuân Bính thân 2016)

 

THƠ DỊCH :

 

Dạ vũ ký bắc:

(Tác giả: Lý Thương Ẩn

Bản gốc do Phùng Tường Vân dẫn)

 

Quân vấn quy kỳ vị hữu kỳ

Ba Sơn dạ vũ trướng thu trì

Hà đương cộng tiễn tây song chúc

Khước thoại Ba Sơn dạ vũ thì

 

 

Bản dịch 1:

Đêm mưa gửi bạn phương bắc:

 

Biết đến ngày nào ta trở lại

Ba Sơn mưa tối ngập ao thu

Lại chong đèn chốn tây hiên ấy

Chuyện gẫu Ba Sơn đêm gặp mưa.

 

 

Bản dịch 2 (phỏng dịch):

Đêm mưa gửi bạn phương Bắc:

 

Biết đến ngày nào ta trở lại

Ba Sơn cùng bạn chốn hiên tây

Ao thu một tối mưa đầy nước

Mà cuộc hàn huyên khó hẹn ngày.

 

 

Xuân vọng

(Thơ Đỗ Phủ)

 

Quốc phá sơn hà tại

Thành xuân thảo mộc thâm

Cảm thời hoa tiễn lệ

Hận biệt điểu kinh tâm

Phong hỏa liên tam nguyệt

Gia thư đồ vạn kim

Bạch đầu tao cánh đoản

Hồn dục bất thăng trâm.

 

 

 

 

 

 

Tôi nghe “Xuân Vọng”

(Đôi lời thưa trước về Bản dịch)

 

Tôi đã được đọc hàng chục bản dịch bài thơ “Xuân Vọng” của Đỗ Phủ và cảm thấy có điều gì muốn nói về những bản dịch đó. Đành rằng dịch thơ là điều cực khó xưa nay (ngôn ngữ và văn hóa không tương thích được từng chữ), mà điều khó nhất lại là ở chỗ hoàn cảnh đã thay đổi.

Lúc Đỗ Phủ viết “Xuân vọng”, hoàn cảnh và tâm trạng ông như thế nào, và bây giờ khi ta dịch, hoàn cảnh và tâm trạng ta ra sao, thật khó mà có sự đồng điệu! Và nếu thiếu sự đồng điệu đó, các bản dịch khó lòng lột tả được hồn thơ của Đỗ Phủ.

So với nhiều nhà thơ nổi tiếng khác về thơ Đường như Lý Bạch, Vương Xương Linh, Mạnh Hạo Nhiên, Thôi Hiệu, Bạch Cư Dị, Trương Kế…, Đỗ Phủ ca ngợi triều đại nhà Đường nhiều hơn cả. Chính ông đã viết “Chiêu hồn”, gọi Khuất Nguyên: “Hãy về, Hãy về! Thời nay vua sáng tôi hiền!”, trong khi Nguyễn Du hơn ngàn năm sau lại viết “Phản chiêu hồn”, bảo Khuất Nguyên: “Đừng về! Đừng về! Thời nào cũng thế thôi!”

 

Đỗ Phủ luyến tiếc một thời thịnh trị của nhà Đường (Đường Minh Hoàng), nhớ nước cũ (cố quốc) và lên án vụ An Lộc Sơn. Ông phản ứng với chiến tranh theo cách của ông – một nhà thơ lớn – như vậy đó.

Chính vì thế mà câu mở đề: “Quốc phá sơn hà tại…” không thể dịch từ ra từ (mot à mot) là “Nước mất, còn sông núi” theo nghĩa “tích cực” được, bởi như thế sẽ không hòa nhập gì với hai câu tiếp theo: “Cảm thời hoa tiễn lệ/ Hận biệt điểu kinh tâm” (Hoa nhìn thời thế khôn ngăn lệ/ Chim hãi hùng mang hận biệt sầu – TVK dịch), cũng như với cả bài thơ.

Đỗ Phủ viết “Xuân vọng” với tâm trạng mong ngóng một mùa xuân khác. Tác giả muốn nói: “Sông núi (cái xác) còn đây, mà nước cũ (cái hồn) đã bị phá mất rồi! Thành xuân cây có mọc ken dầy” (che hết cả lối xưa), cũng như Bà Huyện Thanh quan từng viết “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo/ Nền cũ lâu đài bóng tịch dương…”. Cái “hồn” quan trọng hơn cái “xác”. Cái xác Trương Ba nhưng hồn anh hàng thịt thì không còn là Trương Ba nữa! Một đất nước càng phải như thế. “Như nước Đại Việt ta từ trước/ Vốn xưng nền văn hiến đã lâu/ Núi sông bờ cõi đã chia/ Mà phong tục Bắc Nam cũng khác…” (Bình Ngô Đại cáo). Đó là một định nghĩa tài tình về dân tộc, về quốc gia (bao gồm cả ranh giới địa lý và cả sự khác nhau về văn hóa) mà Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi đã đưa ra cách đây gần 600 năm! Phong tục ở đây là văn hóa, là hồn dân tộc!

 

Tôi đọc bài “Xuân vọng” và tôi “nghe” được bài thơ trong tâm mình như vậy. Tôi nghe và tôi chép ra. Cũng có nghĩa là bản dịch đã qua cái tai của tôi rồi. Nó còn trung thành với bản gốc được đến đâu? Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào sự thẩm định của độc giả.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Mong Xuân

 

Sông núi còn đây, cố quốc đâu

Thành xuân cỏ mọc ngút ngàn dâu…

Hoa nhìn thời thế khôn ngăn lệ

Chim hãi hùng mang hận biệt sầu

Khói lửa liên hồi ba tháng trọn

Thư nhà hiếm bặt tựa vàng âu

Lơ thơ tóc bạc càng thêm ngắn

Giắt chiếc trâm mà khó giữ lâu.

 

TVK dịch.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phỏng dịch một bài ca dao trong

Kinh Thi: Vén Xiêm.

 

Khiên thường

 

  1. Tử huệ tư ngã

Khiển thường thiệp Trăn

Tử bất ngã tư

Khải vô tha nhân?

Cuồng đồng chi cuồng dã thả

 

子惠思我,

褰裳涉溱

子不我思,

岂无他人

狂童之狂也且!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  1. Tử huệ tư ngã

Khiển thường thiệp Vĩ

Tử bất ngã tư

Khải vô tha sĩ?

Cuồng đồng chi cuồng dã thả!

 

子惠思我,

褰裳涉洧。

子不我思,

岂无他士。

狂童之狂也且!

 

 

 

 

 

 

 

 

Vén xiêm

(TVK phỏng dịch)

 

  1. Nếu lòng chàng lưu luyến nhớ ta

Sông Trân kia, cứ vén xiêm lên ta lội

Nếu lòng chàng giờ đã nguội

Há chẳng còn ai khác đến bên ta?

Bé yêu ơi đừng có điên lên đấy nha!

 

  1. Nếu lòng chàng lưu luyến nhớ ta

Sông Vĩ kia, cứ vén xiêm lên ta lội

Nếu lòng chàng giờ đã nguội

Há chẳng còn ai trai trẻ bên ta?

Bé yêu ơi đừng có điên lên đấy nha!

 

 

 

 

 

 

 

 

Những câu chuyện xung quanh

bài thơ Màu tím hoa sim.

 

Màu tím hoa sim (MTHS) và tác giả của nó,Hữu Loan (HL) là hai câu chuyện khác nhau. Có nhiều lý do phải làm rõ điều đó:

 

  1. Khi bài thơ ra đời, người ta đọc rồi chép truyền tay nhau. Người ta thích thơ của ông. Thế thôi. Mãi sau này người ta mới biết Hữu Loan khi ấy đang là Chính trị viên Tiểu đoàn, chủ bút tờ Chiến sĩ, báo của một Sư đoàn chủ lực (Sư đoàn 304). Trần Dần chẳng hạn, mãi đến sau này mới là Chính trị viên Đại đội. Hữu Loan còn trước cả Trần Dần, đã được coi là nhà văn Quân đội có uy tín.

Nhưng, làm sao mà một “nhà văn cộng sản” lại có được một tác phẩm mang nhiều tình cảm “tiểu tư sản” như vậy? Tôi nói điều này chắc có người sẽ cho là “hồ đồ”, nhưng nếu có sai sót thì cũng xin độc giả bỏ quá cho, vì tôi đâu có phải là nhà nghiên cứu phê bình văn học?

Những người nghiên cứu lịch sử văn học nước ta, không hiểu vô tình hay cố ý, chưa bao giờ làm rõ hai hình thái chính trị – xã hội của nước ta sau CM Tháng Tám ở hai giai đoạn khác nhau: giai đoạn 45 – 50 và giai đoạn từ 51 trở đi.

Giai đoạn 45 – 50, CM Tháng Tám rất đẹp. Những người lính giải phóng quân, vệ quốc quân, cán bộ văn nghệ, cán bộ đi chiến khu…, thuộc đủ mọi tầng lớp nhân dân, nhưng đa số là tầng lớp công chức, trí thức, sinh viên, học sinh lớp trên, văn nghệ sĩ, thợ thủ công, các loại tiểu tư sản khác nhau, con địa chủ, quan lại, hoàng tộc… Họ là những người sớm háo hức đi vào cuộc CM giải phóng dân tộc, sớm biết hy sinh vì độc lập dân tộc, và cũng là những người có khả năng hoàn thành nhiệm vụ trong giai đoạn CM đó. Không có họ, làm sao có Tống biệt hành, Tây tiến, Màu tím hoa sim, Bình Trị Thiên khói lửa, Trở về Thủ đô, Trường ca sông Lô, Bên kia Sông Đuống,… Làm sao nông dân, tá điền, bần cố nông có thể có được những cảm xúc sáng tác như vậy?

Nhưng, giai đoạn từ 50 – 51 trở đi, hình thái chính trị xã hội đã dần dần thay đổi.

Từ 50 – 51 về sau, chẳng bao giờ có những bài thơ, bài hát, tiểu thuyết… như vậy ở những tác giả khác nữa.

 

 

 

2..Tác giả Hữu Loan, theo “tiểu sử” là sinh năm 1916, còn cô Lê Đỗ Thị Ninh sinh năm 1930. Khi họ gặp nhau năm 1938, cô Ninh mới lên 8. Hữu Loan đi bộ đội mùa đông năm 1946. Họ gặp nhau lần thứ hai là vào năm 1947 (lúc cô Ninh 17 tuổi). Có người bảo là 9 năm sau, từ chiến khu trở lại nhà, em 17 tuổi…, mới nghe cứ tưởng như là sau 9 năm kháng chiến chống Pháp (tức 1954), nhưng kỳ thực là 9 năm tính từ năm 1938 (tức vào năm 1947). Năm 1938 là năm HL đỗ tú tài, và cũng là năm được vào làm precepteur ở nhà ông Tham Kỳ.

 

 

Lại nói Hữu Loan con nhà tá điền, nhưng tá điền nào biết dạy con học mấy cấp? HL học thành chung ở Thanh Hoá (phải trọ học chứ?). Mà học thành chung thì chỉ để thi Diplôme thôi. Rồi còn học chuyên khoa ở trường nào để thi Tú tài? Thi tú tài ở Hà Nội chứ có phải thi Diplôme ở Thanh hoá đâu?

 

Tóm lại là trong bản trích dẫn “tiểu sử” có nhiều chỗ nhầm lẫn. Người viết hơi sơ suất, dẫn đến chỗ người đọc nghi ngờ nhiều thông tin khác nữa! Và Hữu Loan, nói là dân nghèo thì có thể, chứ chắc chắn không phải là thành phần cố nông (tá điền).

 

Tuy nhiên, nói người vợ sau của HL là con một nhà địa chủ từng nuôi bộ đội, nhưng đến CCRĐ, ông ta bị đấu tố và bị xử lý (theo lời kể là bị chôn sống), thì thật là một sự dã man hết sức. Tuy vậy, điều đó cũng có thể, vì trong CCRĐ cũng có những trường hợp tương tự. Tất nhiên là sau này đã có chính sách sửa sai.

 

CCRĐ, rồi Cải tạo tư sản, chống Nhân văn Giai phẩm… là những nét đặc trưng của hình thái chính trị xã hội sau năm 1951. Xã hội bắt đầu phân hóa, học tập theo cách của nước ngoài, hoặc có cố vấn nước ngoài, và đã có những sai lầm phải trả giá đắt sau này.

 

 

 

  1. Một số độc giả nghĩ rằng, người ta thương cho số phận của HL sau Nhân văn – Giai phẩm nên người ta mới rung cảm với bài thơ MTHS. Đó là một nhận định có tính chất gán ghép. Tôi đọc MTHS vào những năm đầu của cuộc KC chống Pháp, còn đọc NV-GP gần hai năm sau ngày Miền Bắc được giải phóng.

Khi bài thơ MTHS ra đời, đã có NV-GP gì đâu, người ta cũng chưa hề biết tác giả HL là ai, nhưng người ta vẫn thích bài thơ, và đánh giá cao tác giả. Đó là trường hợp “Tác phẩm nuôi tác giả”, chứ không phải là “Tác giả nuôi tác phẩm”, như những trường hợp bản thân bài thơ rất tầm thường, nhưng vẫn được đề cao vì tác giả có địa vị nào đó.

 

Hơn nữa, nếu nói đến NV- GP thì phải nói đến những nhà thơ, những nhà văn khác tiêu biểu hơn cho phong trào ấy chứ. Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Phan Khôi, Nguyễn Hữu Đang, Đỗ Nhuận, Nguyễn Bính,…, những người đã viết bài hay biên tập các “Giai phẩm mùa xuân”, “Giai phẩm mùa thu”, ra báo “Nhân văn”…, đặc biệt là những người đã công khai chê tập thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu, hay nhóm tác giả đã ký tên đệ trình một “Dự thảo về chính sách văn hoá, văn nghệ”, chủ trương trả văn nghệ về cho văn nghệ. Trong số những tác giả ấy không có Hữu Loan. Hữu Loan tuy cũng bị ra ngoài rìa từ sau NVGP, nhưng chỉ như là nạn nhân, chứ không vào hàng tiêu biểu cho NV-GP.

 

 

Tôi vốn không phải là sinh viên văn khoa. Tôi học khoa Toán. Những giáo sư mà hồi đó bọn chúng tôi chỉ nghe tên cũng đã hưng phấn lắm rồi, huống chi là được ngồi trong giảng đường để nghe thầy giảng. Tâm trí chúng tôi dành hết cả sự kính phục vào các GS Lê Văn Thiêm, Nguyễn Thúc Hào, Nguyễn Cảnh Toàn, Ngô Thúc Lanh, Vũ Như Canh, Trần Văn Giàu, Hoàng Xuân Nhị, Cao Xuân Huy… Họ không liên quan gì với NV-GP. Hết giờ trên lớp là chúng tôi đến Thư viện. Vậy mà, chỉ trong năm, mười phút nghỉ ngơi, chúng tôi vẫn đọc được các tác phẩm NV-GP ấy, và đọc cả các bài phê bình NV-GP đăng trên báo Văn nghệ nữa. Đọc rất nhanh và nhớ rất lâu!

Và nhớ nhất là Trần Dần và Lê Đạt.

 

Trần Dần viết “Nhất định thắng” để nói rằng nước ta đã giành được thắng lợi trong cuộc KC chống thực dân Pháp, nhưng đó mới chỉ là trang thứ nhất. Ông muốn nói nhiều hơn về những nỗi buồn lo của những người dân bình thường lúc ấy: không tìm được việc làm, “em đi, cúi đầu nghiêng vai”…, đất nước bị chia cắt, người người khóc thương khi ồ ạt di cư, dù trong lòng họ không muốn vậy. Thiếu cái gì ư? – “Chỉ là: Thiếu trái tim khối óc”… (Trần Dần). Nói cách khác là thiếu tình thương và trí tuệ.

 

“Chúng tôi

Hai người,

Một gian nhà chật,

Rất yêu nhau sao thấy không vui?…”

Và:

“Tôi đi giữa phố Sinh từ

Không thấy phố

Không thấy nhà

Chỉ thấy mưa sa

Trên màu cờ đỏ “…

(Viết thế thì làm sao mà không “chết” cơ chứ?!).

 

Nhưng, ông vẫn tin tưởng: thống nhất, độc lập, tự do, dân chủ, và tình yêu, NHẤT ĐỊNH THẮNG!

 

Xin bạn đọc đừng hỏi tôi có đúng thế không? Có đúng nguyên văn như thế không?

Tôi đã thưa là tôi chỉ đọc trong những phút nghỉ ngơi ít ỏi, không hề giữ lại tờ báo, không hề ghi chép sổ tay, thời gian trôi đi đã 60 năm, tôi chỉ có thể viết ra đây những gì đã nhập tâm vậy thôi, sai sót là khó tránh khỏi.

Tôi cũng đã đọc trên báo Văn nghệ hồi ấy bài viết của Hoài Thanh, lên án tính chất phản động của bài thơ “Nhất định thắng”, nhưng không nhớ được nội dung của nó.

 

 

Còn Lê Đạt?

Lê Đạt từng viết một số bài trong thời kỳ 55 – 56 mà độc giả đã được đọc. Bẵng đi một dạo, Lê Đạt lại viết bài “Cửa hàng Lê Đạt”:

“Quý khách

Qua phố Trần Hưng Đạo,

Hãy dừng chân

Mấy phút

Vào thăm

Cửa hàng Lê Đạt.

Lê Đạt nào?

Có phải Lê Đạt

Của “Những người tự tử”,

Của “Những cái bình vôi”?

Chán thơ thẩn rồi sao

Mà lại về mở hiệu

Hay vợ con đau yếu

Làm thơ không đủ tiền…

Hay bị phê bình kiểm thảo

Giờ như chim phải tên

Động thấy cây cong là sợ…”

Bài “Cửa hàng Lê Đạt” này tôi cũng đọc từ một bản chép tay, đọc rồi trả cho bạn luôn. Vì thế, không nhớ hết được. Mà bài thơ có xuất bản đâu?

 

Lê Đạt, cũng như Trần Dần, chính là những người đã xướng lên việc phê bình tập thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu, là đồng tác giả bản Kiến nghị về một chính sách văn hoá văn nghệ, và cũng là những người có nhiều bài viết trên các văn đàn bên ngoài báo Văn nghệ lúc ấy.

 

 

  1. Đã có ý kiến nói rằng: “Nhớ giỏi đấy!”. Nhưng tôi không nhận lời khen ấy đâu. Tôi nhớ cái này thôi chứ bao cái khác cũng đáng nhớ mà tôi có nhớ được đâu! Tôi nhớ được cái này là vì hai lý do: Đó là vì những bài thơ này hay, tôi tạm gọi là THƠ MỚI lần thứ 2, và vì cuộc sống quanh tôi làm cho tôi nhớ nó được lâu.

Thơ mới lần thứ nhất thì Hoài Thanh (HT) và Hoài Chân đã tổng kết, bình luận và tuyển chọn trong Thi nhân Việt Nam.

Tôi đã từng hy vọng các tác giả của Thi nhân VN sẽ cho ra mắt một tác phẩm mới về Thơ Mới 2, vì chỉ có họ mới có tâm hồn và khả năng làm được việc đó. Nhưng khi đọc bài HT phê phán Nhất định thắng thì tôi hết hy vọng. Một người chủ trương “Nghệ thuật vị nghệ thuật” giờ đã không làm thế nữa rồi. Không biết sẽ có ai sau này làm việc đó không?

Trong Thơ mới 1, các tác phẩm thường là những cảm xúc riêng của tác giả, dù rằng cảm xúc đó rất thơ:

 

“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,

Có chở trăng về kịp tối nay….”

(Hàn Mặc Tử)

 

“Con gió xinh thì thào trong lá biếc,

Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi

Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,

Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa…”

(Xuân Diệu)

 

 

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song,

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng…”

(Huy Cận)

Em không nghe rừng thu

Lá thu kêu xào xạc

Con nai vàng ngơ ngác

Đạp trên lá vàng khô

(Lưu Trọng Lư)

Xuân Diệu, Huy Cận, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Vũ Hoàng Chương, Hàn Mặc Tử… như là những người lính tiên phong trong phong trào Thơ mới 1.

 

Trong Thơ mới 2 thì khác. Các tác phẩm của Thâm Tâm, Quang Dũng, Hữu Loan, Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt…, mỗi tác phẩm không phải chỉ là cảm xúc của riêng tác giả, mà là cả một câu chuyện, có nhiều nhân vật khác nhau, có diễn biến tình tiết, có cuộc sống, và mang hơi thở của thời cuộc.

 

“Ai về bên kia sông Đuống

Cho ta gửi tấm the đen

Mấy năm rồi thấp thoáng mộng bình yên

Những hội hè đình đám

Trên núi Thiên Thai

Trong chùa Bút Tháp

Giữa huyện Lang Tài

Gửi về may áo cho ai…

 

Những nàng môi cắn chỉ quết trầu

Những cụ già phơ phơ tóc trắng Những em sột soạt quần nâu

Bây giờ đi đâu về đâu?

Bao giờ về bên kia sông Đuống

Anh lại tìm em

Em mặc yếm thắm

Em thắt lụa hồng

Em đi trẩy hội non sông

Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh.

(Hoàng Cầm)

 

 

“Đưa người ta không đưa qua sông

Sao có tiếng sóng ở trong lòng

Bóng chiều không thắm không vàng vọt

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong

Ly khách, ly khách, con đường nhỏ

Chí nhớn chưa về bàn tay không

Thì không bao giờ nói trở lại,

Ba năm mẹ già cũng đừng mong

Người đi, ừ nhỉ, người đi thực

Mẹ thà coi như chiếc lá bay

Chị thà coi nhu là hạt bụi

Em thà coi như hơi rượu say”.

(Thâm Tâm)

 

 

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng, mũ, bỏ quên đời

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.

(Quang Dũng).

 

  1. Màu tím hoa sim cũng là một câu chuyện – thơ như thế: Có một nhân vật trung tâm, nhưng đồng thời cũng có nhiều nhân vật xung quanh, gắn bó mật thiết với nhau, có những mối liên hệ trải dài theo năm tháng, làm cho câu chuyện rất thật, rất bình thường, không cường điệu, không “điển hình hóa”, có thể xảy ra ở bất cứ đâu, nhưng chính vì thế mà đã làm khắc khoải trái tim những ai giàu cảm xúc trước nỗi đau của số phận con người.

Bài thơ mở đầu rất giản dị:

Nàng có ba người anh đi bộ đội

Những đứa em nàng

Có em chưa biết nói…

Câu chuyện thật bình thường, có thể có ở bất cứ đâu trong những năm đầu kháng chiến. Nhưng rồi sao nữa?

 

Khi tóc nàng xanh xanh

Tôi người vệ quốc quân

Xa gia đình

Yêu nàng như tình yêu em gái

Các nhân vật trong câu chuyện bắt đầu được giới thiệu, nhưng cũng vẫn là chuyện bình thường. Hồi đầu kháng chiến chống Pháp, bộ đội về làng thì dân và bộ đội yêu quý nhau lắm. Các anh bộ đội yêu quý các em nhỏ, một thứ tình cá nước rất hồn nhiên và trong sáng. Nhưng hãy đọc tiếp:

Ngày hợp hôn

Nàng không đòi may áo cưới…

À ra thế!

Tôi mặc đồ quân nhân

Đôi giày đinh

Bết bùn đất hành quân

Nàng cười xinh xinh

Bên anh chồng độc đáo…

Sức hấp dẫn của bài thơ đang tăng dần lên, từ những ngôn từ mang nhiều thông tin mới đến với người đọc.

 

Tôi ở đơn vị về

Cưới nhau xong là đi

Từ chiến khu xa

Nhớ về ái ngại

Lấy chồng thời chiến chinh

Mấy người đi trở lại…

Đến đây, người đọc như nghe thấy âm hưởng của những bài thơ xa xưa nào: Thế sự thăng trầm quân mạc vấn/ Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi… (Thế sự thăng trầm xin chớ hỏi/ Xưa nay chinh chiến mấy ai về?). Trong cái âm hưởng ấy, có cái tình thương tha thiết từ trong trái tim của tác giả:

Lỡ khi mình không về

Thì thương người vợ chờ

Bé bỏng chiều quê…

 

Nhưng không chết người trai khói lửa

Mà chết người gái nhỏ hậu phương…

 

Câu chuyện cảm động dồn nén ở đây. Tình cảm bài thơ sâu lắng là đây. Để rồi:

Tôi về không gặp nàng

Má tôi ngồi bên mộ con

Đầy bóng tối

Chiếc bình hoa ngày cưới

Thành bình hương Tàn lạnh vây quanh Em ơi!

Giây phút cuối

Không được nghe em nói

Không được trông nhau một lần!

Xót xa bao nhiêu trong những ngôn từ giản dị và chân thực ấy!

Và mạch sầu thương nhớ hình ảnh người vợ trẻ chảy tiếp trong tim tác giả,:

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím

Áo nàng màu tím hoa sim

Ngày xưa

Một mình

Đèn khuya

Bóng nhỏ

Nàng vá cho chồng tấm áo

Ngày xưa…

 

Chừng ấy lời đã đủ nói lên được chân tình của tác giả. Nhưng như ta đã biết, tác giả còn giới thiệu từ đầu một số nhân vật khác nữa: Những người anh và những đứa em nàng. Không ai trong họ chỉ có nhắc đến một lần, nhắc cho có chuyện, mà sẽ còn có điểm nhấn, quay lại đúng lúc.

 

Một chiều rừng mưa

Ba người anh từ chiến trường Đông Bắc

Biết tin em gái mất

Trước tin em lấy chồng

Khi gió sớm thu về

Gờn gợn nước sông…

Tác giả nói “Gờn gợn nước sông” như đang nhớ đến người vợ trẻ trượt chân khi đi giặt ở bờ sông (có bản chép là Rờn rợn nước sông)…

 

Còn một điều nữa là các bản in sau này thường viết: “Những đứa em nàng còn chưa biết nói…”, nhưng, bản chép tay mà tôi được đọc từ những ngày đầu, khi mới vào trường trung học (cấp 2) thì đó là: “Những đứa em nàng, có em chưa biết nói…”. Tôi thấy câu thơ trong bản chép tay ấy chứa nhiều thông tin hơn. Vả lại, sau này khi tác giả nhắc đến: “Đứa em nhỏ lớn lên/ Ngỡ ngàng trông ảnh chị/ Gió sớm thu về/ Cỏ vàng chân mộ chí…” thì ta hiểu là tác giả đã lưu ý từ đầu: “Những đứa em nàng, có em chưa biết nói…”.

Nhân vật nào của tác giả cũng có tình, cũng có dấu ấn trong tình cảm khóc thương vợ của tác giả.

Bà mẹ được dẫn ra lúc “Tôi về không gặp nàng/ Má tôi ngồi bên mộ con/ Đầy bóng tối…” thì sau này sẽ còn nhắc đến ở cuối bài thơ.

 

Chiều hành quân

Qua những đồi sim

Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết Màu tím hoa sim

Tím chiều hoang biền biệt

Nhìn áo rách vai

Tôi hát trong màu hoa

Áo anh sứt chỉ đường tà

Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu!

 

Đời người chiến sĩ, xông pha trước bom đạn của kẻ thù, thì sự anh dũng hy sinh, sự gan dạ chịu đựng gian khổ… là những phẩm chất cao quý. Những tấm gương của Cù Chính Lan, Bế Văn Đàn, Phan Đình Giót, Tạ Quốc Trị… trong cuộc KC chống Pháp luôn luôn được nhắc đến với lòng kính trọng và biết ơn. Nhưng không phải vì thế mà những lắng sâu của tình cảm con người, những số phận dù chung hay riêng… lại bị bỏ qua.

 

Chiều hành quân

Qua những đồi sim

Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết Màu tím hoa sim

Tím chiều hoang biền biệt…

 

Những bóng dáng “trai thời loạn, gái thời bình” cùng với không gian và thời gian của những năm đầu kháng chiến chống Pháp đã là nhưng mầm nụ và mảnh đất cho sự ra đời của những bài thơ thuộc dòng Thơ Mới 2, trong đó có một nét đậm của bài thơ Màu tím hoa sim.

Trong tâm trí non nớt của tôi, họ thật xứng đáng là những người mở đường cho một trào lưu Thơ Mới mới, mà tôi gọi là Thơ Mới 2. Đó là lý do chủ yếu khiến tôi nhớ lâu các bài thơ ấy.

 

Còn một lý do nữa, nhỏ hơn, nhưng cũng không phải là một sự thêm thắt. Đó là cuộc sống quanh tôi.

 

Ở một làng quê nhỏ bé miền Trung như quê tôi, sau CM Tháng 8, khí thế bừng lên, xuất hiện nhiều ngôi sao về nhiều lĩnh vực, nhiều tài năng trở thành thần tượng suốt đời của lớp trẻ đang đánh trống ếch như chúng tôi.

 

Một trong những ngôi sao ấy có một câu chuyện tình trai tài gái sắc mà mấy chục năm sau, nó vẫn còn lan truyền trong miền quê của tôi.

Vào lúc anh lên đường nhập ngũ (1949), anh ở tuổi 19, còn chị ở tuổi 14. Anh gửi lại cho chị một phong thư dán kín, với lời dặn phải đến 18 tuổi mới được bóc ra.

 

4 năm tuổi trẻ đâu phải một ngày, một tháng, nhưng lời dặn vẫn được thực hiện. Cho đến ngày bóc thư ra thì mới biết đó là lời tỏ tình, và niềm vui đã đến với họ sau ngày giải phóng Miền Bắc, lập lại hoà binh (1954), khi anh nghỉ phép, về quê thăm nhà, gặp chị, rồi hai gia đình gặp nhau. Lúc ấy, anh cũng là một chính trị viên đại đội. Đối với mỗi người trong cuộc, đó như một phần thưởng dành cho họ sau bao năm phải gạt đi nỗi nhớ nhung, vì phải lo làm tròn nhiệm vụ của chàng trai khi đất nước có chiến chinh, và sự chờ đợi kiên định của người con gái mới lớn, giữa bao nhiêu chàng trai khác,

Nhưng đùng một cái, năm 1955, diễn ra CCRĐ, và điều không may đã xảy đến là sự “trắc trở không thể vượt qua” trong câu chuyện của hai người…

Gần hai năm sau, khi Nhà nước sửa sai trong CCRĐ thì cuộc sống bình yên đã trở lại, nhưng cái gì đã mất thì không thể lấy lại được, và cuộc từ hôn thì không “hủy” được nữa! Hai người về sau rồi đều có gia đình tử tế, và điều gì đã qua thì hãy cho qua, nhưng với những ai biết chuyện thì cứ tiếc cho họ…

 

Cho đến lúc anh từ giã cõi đời, trước linh cữu anh, tôi đã khe khẽ hát bài hát của Huy Du mà sinh thời anh vẫn thích: “Dấn bước ra đi chiều năm xưa, Đường dài kháng chiến quên ngày về, Gió bụi trường chinh phai mái tóc, Trót nhớ khi đi ghi lời thề…”. Và, trước mộ anh, tôi gần như đã ứng khẩu một bài thơ khóc anh: “…Tình quê lưu luyến đau dòng lệ, Nghĩa nước chu toàn, xin thảnh thơi!”

 

Giá tôi có tài viết văn một chút, dù không dám so sánh với ai, thì có thể đã viết được nhiều câu chuyện đại loại như thế ở ngay quê tôi. Nhưng cũng chính vì thế mà khi đọc Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Hữu Loan, Phùng Quán… tôi cứ nhớ rất lâu về họ.

 

 

 

 

Đọc bài “Nước mắt mẹ” của TTCh

 

Hồi còn nhỏ, tôi từng được nghe câu hát:

Chiều chiều ra đứng ngõ sau

Ngó về quê mẹ, ruột đau chín chiều!

Lúc đó tôi chưa đủ trí khôn để hiểu được ruột đau chín chiều là như thế nào, nhưng câu hát đó cứ ám ảnh mãi trong tâm trí tôi…

Lớn dần lên, tôi mới hiểu được một chút là: Người con gái xuất giá về nhà chồng, bao giờ tâm tư của họ cũng hướng về nơi mà từ đó họ đã bước chân đi! Cũng đúng thôi. Nhà bố mẹ đẻ là nơi chôn nhau cắt rốn, là nơi họ được sống giữa tình thương của những người ruột thịt. Còn nhà chồng? Toàn là người lạ, kể từ bố mẹ chồng, anh chị em chồng, họ hàng nhà chồng, và cả chồng nữa! Chỉ khi người ta đã sinh con, thì những đứa con đó mới là ruột thịt, và cái cảm giác người dưng lạ lẫm mới vơi dần đi. Tất nhiên là lấy chồng thì cũng đã có quá trình yêu nhau, nhưng rồi gánh nặng cuộc sống đè lên đôi vai, và nghĩa vụ dần dần lấn át cả chuyện yêu đương.

Khi vui, khi buồn, khi vắng vẻ, nhất là khi chiều buông, lòng họ quặn nhớ về nhà mẹ, quê mẹ, nhưng nhớ mà không về được, cha mẹ đau yếu mình không chăm nom được, phải nén lòng mình lại, càng nén càng đau đến mức chín cả chiều thương nhớ! Cái chiều buông, cái hoàng hôn sao mà tê tái thế!

 

Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong

(Thâm Tâm)

Đừng nghĩ rằng mẹ chồng cay nghiệt là lý do làm nảy sinh những tình cảm ấy. Quan hệ mẹ chồng – nàng dâu lại là một phạm trù khác. Ngay cả khi quan hệ đó rất tốt đẹp thì trong lòng người con gái mới về nhà chồng vẫn nặng trĩu ưu tư về quê mẹ! Lớn lên chút nữa thì tôi lại được nghe:

Chiều chiều ra đứng bờ sông

Muốn về quê mẹ mà không có đò…

Lúc này thì tôi đã hiểu được cái lý do không có đò cũng chỉ là cái cớ để nói thôi.

 

Hình như ai đó đã bảo: thơ hay phải đọc giữa các dòng kẻ (On doit de lire entre les deux lignes).

Và chính cái câu hát trên đây đã ảnh hưởng đến tôi từ lúc nào không biết nữa. Ngay khi đang là một học sinh cấp 2, một lần đi đò dọc từ chợ Giang Đình quê tôi (Nghi Xuân, Hà Tĩnh) lên Châu Phong (Đức Thọ, cùng tỉnh) quê bà nội tôi, đò dọc thì thường xuyên đi ban đêm, khi đò rẽ từ dòng sông Lam để vào sông La được một quãng thì bất chợt bị mắc cạn.

Một tứ thơ xuất hiện lúc đó và sau này đã thành những câu thơ của tôi:

 

Mải mê thuyền ngược bến Châu Phong

Sông rộng mà sao cạn giữa dòng Mai mốt biết đâu bờ bến cũ

Muốn về bên ngoại, có đò không?

 

Ngày xưa, số phận người con gái, như trời định: “sống quê cha, chết làm ma quê chồng”. Quê cha cũng tức là quê mẹ. Chừng nào còn sống, họ luôn giữ trong lòng mình những kỷ niệm về quê cha mẹ, như một chỗ tựa trong cuộc đời, một niềm tin để sống. Còn cha gót đỏ như son, Chẳng may cha chết, gót con đen sì! Nếu chẳng may cả cha mẹ đều đã qua đời, họ trở thành côi cút. Biết về đâu nữa? Cảm giác đó ám ảnh họ ngay cả khi họ đã có cả đàn con cháu… Nhưng điều vĩ đại của họ là dù trong hoàn cảnh nào, họ cũng biết làm tròn bổn phận của mình: Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử (Lúc còn ở nhà thì theo cha, lúc xuất giá rồi thì theo chồng, chẳng may chồng chết thì theo con). Họ gác lại nỗi đau của mình để lo cho con cháu là vì lẽ đó.

 

 

Bạn đọc yêu quý! Tôi đang nói những điều cảm nhận của mình về những người phụ nữ công dung ngôn hạnh, tam tòng tứ đức, những người phụ nữ được sinh ra trong những gia đình có nền nếp, có lề thói của một thời đã qua, mà sao như đang ca ngợi bà mẹ đáng kính của bác TTCh? Đúng thế. Bà đúng là một điển hình, đúng là một người phụ nữ cao quý như thế. Và mẹ tôi nữa. Và… Hỡi các bà mẹ, những thiên thần của chúng con! Những đứa con dại dột, thất thời thất thế, mang ơn sâu của cha mẹ, bây giờ: Chiều chiều ra đứng ngõ sau, Ngó về quê mẹ, ruột đau chín chiều!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Người Hà Nội như tôi biết (*)

 

Chẳng thơm cũng thể hoa nhài

Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An

Chẳng biết từ bao giờ, hai câu thơ ấy về người Hà Nội cứ luẩn quẩn trong tâm trí của tôi. Dần dà theo thời gian, tính cách và phong thái người Hà Nội lại như nhắc nhở tôi rằng hai câu thơ ấy đáng lẽ phải sửa lại, phải “khẳng định” hơn một chút. Chẳng hạn như là:

Không thơm, chẳng phải hoa nhài

Không thanh lịch, chẳng phải người Tràng An.

 

Ý tưởng đó cứ bám dai dẳng trong đầu óc tôi. Nhiều lần tôi muốn ghi lại những mẩu chuyện mà tôi đã gặp trong nhiều năm tháng, những mẩu chuyện về người Hà Nội thực sự, lâu đời, người Hà nội trung lưu, bình dân…, nhất là trong những giai đoạn chuyển tiếp thời cuộc, để nói lên cái phong thái người Hà Nội. Nhưng vì nhiều lý do khác nhau, việc đó cứ để chần chừ mãi. Đặc biệt là mỗi khi nghĩ đến các truyện ngắn đặc sắc viết về Hà Nội như của các vị tiền bối Thạch Lam, Nguyễn Tuân… thì ôi thôi!

Khiếu văn chương cỡ mình thì… dẹp, dẹp!

 

Bỗng nhiên một ngày, tôi nhận được bài viết “Người Hà Nội” của bạn tôi Trương Quang Đệ gửi tặng.

Thì đây! Người Hà nội đây! Người Hà Nội như tôi biết đây! Đúng thế. Cám ơn Đệ. Vậy là Đệ đã viết ra, và như thế đã “lôi cuốn” tôi cùng tham gia, dù chỉ vài điều, để hưởng ứng với Đệ. Vì sao thế? Vì Đệ viết chuyện “Người Hà Nội” cũng tế nhị như người Hà Nội. Đệ chỉ thuật lại sự việc chứ không hề nói một câu, người Hà Nội như thế nào, là xanh, hay đỏ, hay vàng, hay nhờ nhờ… Còn tôi, là độc giả, thì tôi nhận xét, bình luận, góp chuyện… được chứ?

 

 

  1. Người Hà Nội tế nhị và nhạy cảm.

Chỉ cần một thoáng nhìn, một cách bày tỏ ý kiến, người Hà Nội đã biết mình ở vào vị trí như thế nào trong con mắt người đối thoại. Ông Văn Thành là một người như thế. Đang ôm ấp ý định ở lại (như bao nhân sĩ trong vở kịch “Những người ở lại” của Nguyễn Huy Tưởng), ông ta bỗng thay đổi ý kiến ngay sau khi tiếp xúc với Nhật Tín. Thế, còn Nhật Tín? Nhật Tín vốn cũng là một người Hà Nội, nhưng trong câu chuyện này, Nhật Tín đã ở vị trí khác, và đang làm nhiệm vụ cấp trên giao, việc của ông ấy là như thế! Có thể là trong thâm tâm của Nhật Tín vẫn còn cái chất nhạy cảm của người Hà Nội, nhưng sẽ phải ở một hoàn cảnh khác, biết đâu đó sau này. Cái nhạy cảm cũng cần sự nâng đỡ của tự do.

 

Còn với gia đình ông Văn Thành, dù khi ông bà ấy đã qua đời, thì con cái ông bà ấy vẫn cứ là những người tế nhị và nhạy cảm. Việc người ta sắp xếp nhanh chóng công việc mới cho Anh Đào và Thiên Tân, cho BS Đoàn Tuấn, việc vội vàng tu sửa để trả lại ngôi nhà với tiện nghi nhiều hơn trước… không qua được con mắt của những con người nhạy cảm ấy. “Các anh chị ấy chỉ cần liếc qua một tí là họ hiểu đầu đuôi câu chuyện ngay…”, “Các anh chị tôi sẽ thấy không có sự tin cậy” (Lời của anh Đào).

 

 

Tôi cũng như Trương Quang Đệ, vốn không sinh ra ở Hà Nội, nhưng nhờ sự biến chuyển mau lẹ và tích cực của thời cuộc, chúng tôi đã trở thành lớp người đầu tiên có mặt ở Hà Nội sau ngày Thủ đô giải phóng 10/10/1954. Học Đại học khoa học (lớp MPC rồi sau đó là khoa Toán) ngay sau khi vừa tiếp quản Thủ đô, vinh dự được làm học trò của những người thầy nổi tiếng như các giáo sư Lê Văn Thiêm, Vũ Như Canh, Nguyễn Thúc Hào, Nguyễn Cảnh Toàn, Ngô Thúc Lanh, các giáo sư triết học và văn chương Trần Văn Giàu, Cao Xuân Huy, Hoàng Xuân Nhị… mà những thế hệ sau không dễ gì có được. Tốt nghiệp rồi ra công tác ở Hà Nội (có thời gian ngắn là gần Hà Nội) cho đến tận bây giờ nghỉ hưu giữa lòng Hà Nội. Trương Quang Đệ thì sau ngày giải phóng miền Nam ít lâu đã chuyển vào dạy ở ĐHSP Huế, rồi sau đó nghỉ hưu ở TPHCM. Nhưng hơn 20 năm, vào buổi bình minh của nhận thức, vào lúc sung sức nhất và lòng khao khát hiểu biết nhất, cuộc đời chúng tôi đều đã trải ra ở Hà Nội. Dường như cứ một hai tuần, lâu lắm là một tháng, chúng tôi lại gặp nhau trong các lớp chuyên đề mà nhiều nhất là của giáo sư Tạ Quang Bửu (Về Cấu trúc của Bourbaki, về Thuyết tương đối, hẹp và rộng của Einstein, về Logic Toán, về Không gian tôpô, về lý thuyết các Tai biến…), các buổi nói chuyện khoa học của Giáo sư Trần Đại Nghĩa (về Lý thuyết thông tin, về Cơ sở khoa học của Quản lý…) các buổi nói chuyện văn chương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như Hoài Thanh, Xuân Diệu… Vì thế mà ấn tượng về những ngày tháng sống ở Hà Nội hồi ấy trong chúng tôi là hết sức phong phú và sâu đậm. Ngay cả những việc rất nhỏ tưởng như dễ qua đi, nhưng bất chợt lại hiện ra rành rọt như in, đôi khi với cái xuýt xoa đầy thú vị.

 

 

 

Hồi những năm còn bao cấp, tôi được cơ quan phân nhà ở một phòng trên gác ba của một gia đình ở phố Hàng Bạc. Gia đình này trước có cửa hàng riêng và có cổ phần ở xí nghiệp Dệt Cự Gioanh, phố Hàng Quạt. Sau khi được đưa vào công tư hợp doanh một thời gian rồi sáp nhập vào nhà máy Dệt 19/5 ở phố Hàng Chuối, cả hai ông bà và con cái gia đình này cũng trở thành người của xí nghiệp ấy, chẳng khác chuyện của BS Đoàn Tuấn là mấy. Nhà của ông bà ấy có 3 tầng, 6 phòng, nhưng chỉ có các phòng ở tầng một và tầng hai là rộng (khoảng 30-35 m2), còn hai phòng ở tầng ba thì nhỏ hơn, chỉ chừng 15-20 m2. Nhà nước lấy 4 phòng của họ, một phòng làm cửa hàng bán gạo, còn ba phòng nữa thì phân cho cán bộ nhà nước đến ở. Chả biết có phải là may mắn hay không mà tôi đã trở thành một trong ba người này. Các hộ ở chung trong nhà này tuy có nguồn gốc khác nhau như vậy, thậm chí có thể coi như đó là kẻ đi tước đoạt và người bị tước đoạt, nhưng cả ba hộ cán bộ cùng với ông bà chủ nhà cũ hết sức thân mật và sống dễ chịu. Hai đứa con tôi, một đứa sinh ra ở nơi khác nhưng đến Hàng Bạc mới bắt đầu đi học lớp một, một đứa thì sinh ra ở Hàng Bạc và chúng đều lớn lên từ đấy. Tuổi thơ của chúng nó đầy ắp kỷ niệm. Sau này khi chúng tôi đã chuyển nhà đi nơi khác rồi, mối liên hệ vẫn không hề bị gián đoạn. Hồi đó, thỉnh thoảng mấy người chúng tôi ngồi uống trà với nhau, nhất là sau những buổi làm vệ sinh chung…, đàm luận về thế sự và văn chương, nhắc đến những nhân vật trong truyện ngắn “Đôi mắt” hay “Một lần đến Thủ đô” của Nam Cao, nhân vật Tào Tháo trong Tam Quốc…, nhắc lại những mẩu chuyện về Bác Hồ mà mình may mắn được trực tiếp chứng kiến hoặc nghe người chứng kiến thuật lại, với lòng khâm phục. Đôi khi cao hứng thì nhắc lại một câu ngạn ngữ Pháp hay một câu thơ cũ trong Thi nhân Việt Nam mà tất cả đều thấy sảng khoái.

(Cũng xin mở ngoặc rằng nhà thơ, nhà khảo cổ học, nhà văn hóa Phạm Huy Thông vốn là con rể của gia đình họ Trịnh này, có nhà cùng phố và chỉ cách nhau độ vài chục mét, còn anh Phạm Huy Cường, em trai nhà thơ Phạm Huy Thông, hồi ấy đang là bạn cùng viết sách giáo khoa ở Bộ Đại học và THCN với tôi).

 

Cuộc đời đạm bạc, bần hàn như thế kể cũng êm đềm và “đài các” thật.

Thế mà một hôm, cũng có một chuyện xảy ra. Nhà hàng xóm ở sát tường nhà chúng tôi, làm một cái máng nước mưa, hơi chìa sang một tí, như thế khi mưa to nước sẽ bắn sang tường nhà chúng tôi. Hồi ấy sửa nhà, dù chỉ một chút, cũng khó lắm, vì lấy xi măng và vật liệu ở đâu ra? Chúng tôi nhìn ngó, chỉ chỉ trỏ trỏ, nhưng chẳng đưa ra được ý kiến gì. Mà nhà hàng xóm này lại cũng là bà con với chủ nhà nữa. Cuối cùng chúng tôi, cả 5 người (anh chị chủ nhà và ba cán bộ chúng tôi) kéo sang chơi rồi nói chuyện với họ. Sau khi hai bên chào hỏi xong, khen nhau vài câu thân thiết theo thông lệ, bà hàng xóm mời ngồi, phân ngôi chủ khách, rồi mới nhẹ nhàng ướm hỏi: “Hôm nay các cô, chú bên nhà qua chơi vui hay là có gì không đấy?” Bốn người đàn ông chúng tôi liếc nhìn nhau rồi người thì giả vờ ngoảnh nhìn ra ngõ, người thì bưng chén nước lên nhấp môi… chỉ nghe thấy có tiếng đằng hắng: “E hèm, e hèm, dạ dạ…” nhưng chẳng có ai nói câu gì!

Thấy vậy, chị chủ nhà chúng tôi bèn thưa: “Dạ, chúng em muốn thưa với hai bác về cái máng nước bác mới làm, nó hơi nghiêng sang bên nhà em một chút, sợ hôm mưa to thì nó chảy vào tường bác ạ!”. “Thế ạ. Chết chết! Tôi vô ý quá. Để tôi cho sửa lại ngay. Các cô chú yên tâm. Mà sao cô không bảo tôi, một tiếng là xong, chứ làm gì mà phải phiền hà đến các ông thế!” Nghe bà hàng xóm nói thế, cả bốn chúng tôi tranh nhau: “Dạ không! Có gì phiền hà đâu ạ. Hôm nay nghỉ chủ nhật, rủ nhau sang thăm hai bác thôi mà”! Rồi câu chuyện chuyển ngay sang bình luận thời tiết năm nay thất thường, chuyện rau muống ở cửa hàng mậu dịch sáng nay ngon lắm… Sau chuyện này, tôi lại càng thấy rõ các cụ ngày xưa dạy thật chí lý: “Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe”. Ở đời, đâu phải cái gì mình cũng biết!

 

 

 

  1. Người Hà Nội đặt niềm tin vào lý trí và đặt lý trí vào niềm tin. Họ không bao giờ là người vô ơn.

Ông Văn Thành tin ông Lévy, hai chị em Anh Đào và Thiên Tân tin vào những người cách mạng và kháng chiến, Đặng Tiến tin vào hai chị em Anh Đào và Thiên Tân… Đó là những niềm tin của lý trí và cũng là lý trí của niềm tin. Những niềm tin ấy là không bao giờ thay đổi

Khi người Hà Nội, dù ở tầng lớp nào, nhận sự giúp đỡ của ai, nhất là trong những hoàn cảnh khó khăn, họ mãi mãi biết ơn người đó. Và nếu có được dịp đền ơn, họ sẽ cố làm cho bằng được, không cần quan tâm đến hậu quả. Đặng Tiến tìm ông Trưởng phòng tổ chức Trương Đại học Y khoa, đến nông trường gặp hai chị em Anh Đào và Thiên Tân. Ông bà Thức nhận lời ủy thác của ông Văn Thành trông nom con cái và nhà cửa cho họ, và sau này trả nhà cho Anh Đào. Ông Cầm bà Tâm vượt mấy chục cây số, tìm gặp Anh Đào và Thiên Tân để xin phép ở nhờ nhà ông bà Văn Thành mặc dù trong tay họ có giấy tờ của các cấp phân nhà cho họ. Và còn hơn thế nữa, bà Tâm mang tặng cả một “gánh hàng nhà quê” mà thưở nhỏ con cái ông bà Văn Thành rất ưa thích. Ngay cả ông giám đốc Trực, khi phải chia tay Anh Đào và Thiên Tân, cũng đã nói lên lòng biết ơn hai bạn trẻ này. “Những người tận tình như Anh Đào và Thiên Tân moi ở đâu ra?” Hay như anh Khôi, người phát ngôn của Phái đoàn ta tại Hội nghị Paris nói về các anh chị của Anh Đào: “Chị Hồng Hà, chị Hương Giang và anh Vĩnh Chân nhiệt tình lắm, giúp cho Phái đoàn ta nhiều việc hệ trọng, họ rất sắc sảo”… Những tình tiết đó khắc họa những gì mà người Hà Nội tin cậy và biết ơn.

 

Trong lịch sử cũng từng có những trường hợp như vậy. Vào những năm đầu thập kỷ 70 và 80 của thế kỷ 19, sau khi đã chiếm xong Nam Kỳ, quân Pháp nhiều lần đánh ra Hà Nội. Trong khi phe chủ hòa thắng thế ở triều đình nhà Nguyễn, thì ở đất Hà thành, quân và dân vẫn dốc lòng chống ngoại xâm, bảo về đất nước, dưới sự lãnh đạo lần lượt của hai vị Tổng đốc Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu. Hai vị đó không phải người Hà Nội, nhưng đều là con dân đất Việt, đã hy sinh oanh liệt vì Hà Nội, để lại trong lòng nhân dân niềm kính trọng và biết ơn sâu sắc. Lời viếng vị Tổng đốc Hoàng Diệu (1883) của các sĩ phu Hà Nội vẫn như còn dư âm đến mãi sau này:

 

Người người như tiên sinh

Hà thành đâu nỗi thế

Người người khác tiên sinh

Hà thành đành thế nhỉ!

Những người lãnh đạo mà yêu nước, yêu dân thì nhân dân cũng yêu mến họ.

 

 

 

 

  1. Người Hà Nội có chừng mực, không thái quá, không cực đoan.

Nếu nói là họ không đấu tranh, e chỉ đúng có một phần. Thực ra là họ có chừng mực, biết thế nào là đủ để dừng lại (tri túc, tri chỉ). Đặng Tiến đấu tranh với ông Trưởng phòng tổ chức rồi cũng phải dừng lại, vì biết là không thể khác được. Tổng cục trưởng nghe chuyện xong cũng chỉ buông một câu: “Hóa ra trong Đảng có những phần tử ghê gớm như vậy. May mà hắn không làm thủ trưởng của mình”. BS Đoàn Tuấn chấp nhận làm cái chân Phó GĐ phụ trách đời sống, lo chuyện thực phẩm cho công nhân, thì cũng thế. Đến mức về sau cũng không thấy cần phải thay đổi làm gì, “Cứ làm như hiện nay… vừa dễ cho tôi mà cũng không phiền hà gì đến các anh”.

 

 

 

Các du khách ngày nay đến Hà Nội lần đầu khó mà biết được điều này: Người Hà Nội không lợi dụng cơ hội cho lợi ích riêng nhỏ nhen, không bóp chẹt ai, không tham lam, ăn lãi quá đáng. Hãy đến các phố cổ, tiếp xúc với người Hà Nội cũ mà xem. Bát mỳ vằn thắn hay bát phở, đĩa bánh cuốn hay chiếc bánh cốm, chén trà hay tách cà phê… tất tất đều tinh khiết, sạch sẽ, ngon lành, chu đáo, và giá cả vừa phải. Dân bắt chẹt khách chỉ là số ít, và là dân từ đâu mới đến, như chưa được thuần hóa! Cả những cái khoản nói ngọng (Hà Lội…), mở mồm ra là nói tục chửi bậy, cởi trần trùng trục đi ngoài đường, ăn mặc lố lăng… đích thị không phải là dân Hà Nội cũ. Họ không đại diện cho người Hà Nội như tôi biết.

 

Nhân đây tôi lại xin nói một điều về hai từ “tứ chiếng”. Hà Nội từ xưa (1010) đã là kinh đô Thăng Long. Gần xung quanh có bốn trấn (tứ trấn), đó là Sơn Đông (vùng Hải Dương, Hưng Yên…), Sơn Tây (vùng Sơn Tây, Phúc Thọ…), Sơn Nam (Hà Đông, Hà Nam, Nam Định…) và Kinh Bắc (Bắc Ninh, Bắc Giang). Xa nữa là các châu, lộ… “Dân tứ trấn” là từ chỉ dân xung quanh mới về Hà Nội. Dần dà đọc chệch đi thành “dân tứ chiếng”. Còn bảo “Thăng Long tứ trấn “là bốn ngôi đền Quán Thánh, Voi phục, Bạch Mã và Kim Liên thì tôi mới được nghe sau này.

 

Tôi hân hạnh đã có trên nửa thế kỷ cùng sống và làm việc với người Hà Nội lâu đời. Không những trong công việc mà cả trong cuộc sống hằng ngày. Ngay mới gần đây, khi đi chữa cây đàn organ cho cháu ngoại tôi, tôi may mắn lại gặp được người chủ cửa hàng là dân Hà Nội cũ, và họ đã làm tôi thật dễ chịu!

 

Người chữa đàn organ ở phố Lý Quốc Sư tuổi cỡ trung niên, chữa xong gọi điện thoại tôi đến lấy đàn. Anh vừa buộc đàn lên xe cho tôi vừa nói: -Đàn của bác tốt lắm, chẳng hỏng cái gì, nhưng bác để lâu không dùng, cái adaptor bị chảy, cháu đã thay rồi. – Cám ơn, vậy bao nhiêu tiền tất cả? – Bác đến quầy thu ngân kia trả tiền cái adaptor, còn tiền công thì cháu tặng bác. – Sao cơ? – Cháu thấy một người ông như bác chăm sóc cho cháu mình như vậy, cháu xin góp chút công tặng cháu bé ở nhà!…

 

Những lời nói và cử chỉ đẹp đẽ tương tự như thế tôi cũng được nhận từ ông già bán khóa càng xe ở Phố Huế mà giá chỉ bằng hơn một nửa ở những nơi khác, hay là bác bán thắt lưng da ở phố chợ Ngọc Hà chiều ý khách, đã thay cho tôi đến ba bốn lượt khóa tôi mới vừa ý mà không hề khó chịu, cũng không hề lấy tiền công khi tôi ngỏ ý trả thêm. Tôi luôn luôn nghĩ rằng những người như thế thật xứng đáng với lời khen văn minh và thanh lịch.

 

 

 

  1. Người Hà Nội ưa chuộng thứ nghệ thuật thanh tao.

Trong hoàn cảnh nào cũng thế, họ vẫn giữ cho mình một chút riêng về thưởng thức văn chương, nghệ thuật. Vất vả như vợ chồng Anh Thư, vẫn đọc “Chân trời cũ”, vẫn ngâm “Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên…”. Còn như trong buổi “Đại đoàn viên” của Người Hà Nội, người ta nhắc đến “Diễm xưa”, “Tình ngệ sĩ”, “Mùa xuân đã về” hay là “Lá rụng” phổ thơ J. Prévert….

 

Cả đến bây giờ cũng thế thôi. Mới hai ba năm trước, AB bank của Ánh Tuyết ra Hà Nội, người xem chen nhau mua vé (trong đó có vợ chồng tôi), vì mê giọng hát của Ánh Tuyết và vì chương trình của Ánh Tuyết là nhạc của Văn Cao, Đoàn Chuẩn – Từ Linh, Dương Thiệu Tước, Trịnh Công Sơn…

 

Nhạc cách mạng và nhạc trẻ cũng thế. Vấn đề là ở bài hát, ở chính nhạc sĩ và ca sĩ. Nói đến Nguyễn Văn Thương, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Văn Tý, Huy Thục, Huy Toàn, Nguyễn Đức Toàn… hay gần đây hơn như Phú Quang, cả Trọng Đài, Nguyễn Xuân Phương, Giáng Hương… thì dân Hà Nội cũng có nhiều người “mê lắm”.

 

Bây giờ thì nhiều nhạc sĩ giỏi, ca sĩ hay, cả nhiều trí thức tài ba ở nhiều lĩnh vực khác nhau (trong đó có những người thầy của chúng tôi) đã chuyển vào sống ở TP HCM. Nghĩ đến họ, tôi càng thấy tin tưởng: rồi TP HCM chẳng những là đầu tàu về kinh tế, mà còn cả trong nhiều lĩnh vực khác về văn hóa nữa.

 

Một lần vào khoảng gần Tết năm 2005, tình cờ tôi ghé vào một quán băng nhạc ở phố Đội Cấn, gần đối diện với nhà trưng bày B52, bỗng bắt gặp đĩa nhạc với tít đề là “Hà Nội ngày tháng cũ” của ca sĩ trẻ Ngọc Hạ, đoàn Thúy Nga – Paris by night. Tết ấy, hình như hễ rảnh lúc nào là nghe Ngọc Hạ lúc ấy, chẳng riêng tôi, mà cả gia đình tôi cũng thế. Rồi không biết cảm xúc đến lúc nào, cảm xúc khi được nghe những bài hát hay về Hà Nội, về sông Hồng, về đất nước, từ những ca sĩ ở xa mà lắng trong Hà Nội, tôi đã làm bài thơ đề tặng Ngọc Hạ (đã in trong nhiều ấn phẩm về thơ ở Hà Nội, trong đó có tập Dấu ấn mùa thu của tôi, NXB Văn học xuất bản năm 2010). Bài thơ nhan đề là Chiều sâu đôi mắt, trong đó có đoạn:

 

Bình yên, bình yên gió sóng

Cho ta lắng khúc nhạc hường

Cho ta chớp hồn tia nắng

Chiều sâu đôi mắt em thương

 

Ở đâu dòng sông Hồng chảy

Em mang hồn việt hòa ca

Ở đâu mắt em nhấn phím

Mà rung nơi trái tim ta!

 

Đọc đến đây chắc có bạn sẽ bảo: Thì có gì là lạ? Người ở đâu mà chả vậy! Vâng! Tôi cũng nghĩ thế hay là cũng mong thế. Nhưng tôi chỉ nói về Hà Nội là vì tôi đã sống ở đây hơn nửa thế kỷ rồi. Mà cũng chỉ nói những điều liên hệ thấy sau khi đọc truyện ngắn của Trương Quang Đệ mà thôi. Chứ nói đầy đủ về Hà Nội thì đâu dám. Mà nói về địa phương khác, lại càng không dám!

 

Hà Nội mùa hè 2011

 

______________

(*) Bài viết này cùng với truyện ngắn Người Hà Nội của Trương Quang Đệ đã đăng trên Blog của DoAnhTho các số năm 2011.

 

 

 

 

Trong ấy… Hoàng Thành

(Tùy bút)

 

  1. Đã lâu lắm rồi, nhân có bạn tôi ở trong Nam ra, chúng tôi mới có dịp đi dạo quanh một vài đường phố Hà Nội. Dạo phố là một thú vui từ hồi còn trẻ của nhiều người.

 

Tôi còn nhớ vào những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước, chiều nào cũng có hai ông già tóc bạc dạo quanh Hồ Gươm, đi chậm rãi và nói chuyện dường như cũng chậm rãi, hòa vào dòng người đông đúc, từ phía Hàng Khay, rồi Đinh Tiên Hoàng, qua cổng đền Ngọc Sơn, qua Thủy Tạ, về Kem Bốn Mùa, rồi lại về Hàng Khay… Hai ông già đó là cố GS Tôn Thất Tùng và cố GS Trần Đại Nghĩa.

Tôi hồi ấy có nhà và cơ quan làm việc đều gần Bờ Hồ, dĩ nhiên là cũng tranh thủ đi bộ hàng ngày, và vì thế mà chiều chiều lại được chiêm ngưỡng hai nhà bác học nhiều công lao ấy.

Vậy mà bây giờ, với những người già như chúng tôi, nhất là những người đã sống ở Hà Nội từ những năm 50, 60 của thế kỷ trước, có việc phải đi ra đường Hà Nội thì rất ngại, dù là đi bằng tắcxi. Sự yên ả, khoan thai, ứng xử văn minh, thanh lịch của đất Hà thành đã đi đâu mất, để lại sự nuối tiếc trong lòng nhiều người, trái lại: ồn ào, chen lấn, tranh chấp, lỗ mãng… diễn ra khắp nơi trên các phố phường.

 

Nhưng hôm nay thì có vẻ hơi khác. Một ngày chủ nhật trong chuỗi những ngày nghỉ lễ đã cho phép chúng tôi đi chậm rãi, thỉnh thoảng dừng xe, mở cửa bước ra ngoài và để thả hồn mình trong không gian thoáng đãng của Hà Nội…

Đó là lúc chúng tôi đi từ đường Bách Thảo, băng qua Hùng Vương, sang Phan Đình Phùng, đường một chiều, từ tây sang đông, chạy phía ngoài Hoàng Thành.

 

Khi qua cổng thành Cửa Bắc, mắt chúng tôi dừng lại trên những vết lõm sâu của tường thành. Một câu hỏi từ đâu bật ra: “Này! Thằng Pháp nó đặt đại bác ở đâu để bắn vào cổng thành của mình nhỉ?” – Trên tàu! – Nhưng tàu đậu ở đâu? – Bờ sông Hồng, khoảng chỗ cầu Long Biên bây giờ ấy – Chết thật! Thế thì từ ngoài biển vào đến đây, không có ai chặn nó lại à?

Làm sao chúng tôi hiểu hết được những chuyện ngày xưa, nếu tính từ lúc Hà thành thất thủ lần thứ nhất đến nay thì đã tròn 140 năm, nhưng trước câu hỏi bất ngờ ấy, cả hai chúng tôi cùng ngẩn người ra. Mất cảnh giác hay là đã đầu hàng giặc từ trước khi nó bắn vào đây rồi?

 

Mà ai đã đặt tên cho con đường này là đường Phan Đình Phùng nhỉ? Tài thật! Nhớ lại vào năm 1883, Hà thành thất thủ lần thứ hai. Năm 1884, triều đình nhà Nguyễn ký Hòa ước Patenôtre nhượng cho Pháp quyền bảo hộ nốt phần đất cuối cùng của nước Việt Nam là Bắc Kỳ. Năm 1885, cụ Phan Đình Phùng lãnh đạo phong trào Cần Vương chống Pháp, khởi nghĩa ở Vụ Quang (Hương Sơn, Hà Tĩnh). Cụ vốn là quan ngự sử ở triều đình Huế, vì vạch tội những bọn chuyên quyền ép buộc vua chủ hòa, không được, nên cáo quan về hưu. Khi vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương thì cụ phất cờ khởi nghĩa, tập hợp những người yêu nước, đặc biệt là văn thân các tỉnh phía Bắc Trung bộ và đồng bằng Bắc bộ để chống lại thực dân Pháp. Vậy thì cụ đúng là một ngọn cờ chống Pháp đầu tiên ở Bắc kỳ và Trung Kỳ sau Hòa ước Patennôtre. Cụ và Phong trào Cần Vương sau 10 năm chiến đấu gian khổ và anh dũng đã bị thực dân Pháp và tay sai đàn áp dã man. Xác của cụ và các tùy tướng nổi tiếng khác bị bọn thực dân Pháp đốt thành tro và bắn xuống sông La (Đức Thọ, Hà Tĩnh). Mãi hơn 50 năm sau đó, đến Cách mạng tháng 8 năm 1945, Hà Nội mới lại trở về tay nhân dân ta, nhưng không phải vì thế mà quên rằng thắng lợi đã bắt nguồn từ những công lao to lớn của những bậc tiền bối như nhà chí sĩ yêu nước Phan Đình Phùng…

 

 

  1. Chúng tôi lại tiếp tục đi. Và trước mắt đã hiện ra con đường mang tên danh nhân Nguyễn Tri Phương, chạy theo hướng bắc – nam. Đây là ranh giới phía đông của khu Hoàng Thành bây giờ. Ngày xưa thì Hoàng Thành rộng hơn, gần như gấp đôi bây giờ. Chứng cứ là Cửa Đông vẫn nằm trên phố Lý Nam Đế, chạy song song với đường Nguyễn Tri Phương này nhưng cách xa theo chiều ngang khoảng năm trăm mét nữa. Cửa Đông, cũng như Cửa Nam, giờ đã lùi ra ngoài chu vi Hoàng Thành rồi. Chỉ còn Cửa Bắc là vẫn như xưa thôi.

Đi trên đường Nguyễn Tri Phương, lòng bồi hồi tưởng nhớ và hình dung lại những ngày Hà thành thất thủ lần thứ nhất (1873), cách đây đã 140 năm. Do mơ hồ về âm mưu của giặc, do thiếu cảnh giác hay là do bị một số quan lại chuyên quyền lấn át, triều đình Huế đáp trả các hành động của thực dân Pháp một cách yếu ớt. Với tư cách là Tổng đốc Hà thành, Nguyễn Tri Phương đã hết lòng tổ chức và đốc thúc quân sĩ chiến đấu bảo vệ Hà Nội, nhưng sức không cân xứng, không có viện binh, không có các biện pháp hỗ trợ khác của triều đình, ông đành phải chịu thua! Con trai ông, phò mã Nguyễn Lãm hy sinh ngay trên mặt thành, dưới làn đạn giặc. Ông bị giặc bắt và quyết định quyên sinh để giữ lòng trung với nước với dân! 73 năm sau, mùa đông năm 1946, máu của những chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô, của tự vệ thành Hoàng Diệu, rồi mùa đông năm 1972 máu của đồng bào và chiến sĩ phố Khâm Thiên lại đổ vì sự sống còn muôn đời của Hà Nội và của cả đất nước..

Ôi! “Mỗi tấc đất Hà Nội còn thắm máu hồng tươi…”

(Nguyễn Đình Thi- nhạc phẩm Người Hà Nội).

 

Nguyễn Tri Phương không phải là người sinh ra và lớn lên ở Hà Nội. Quê ông ở Thừa Thiên. Nhà ông đã làm quan mấy đời và bản thân ông làm quan đã trải mấy đời vua, nhưng đều thanh liêm, trung trực, trong sáng, nếp nhà thanh bạch. Ông đã bảo vệ Hà Nội đến phút cuối cùng, đã dâng hiến cho đất nước cả dòng máu của cả hai cha con. Những tấm gương như thế sẽ luôn luôn soi rọi cho các thế hệ người Hà Nội sau này.

 

3.

Đến cuối đường Nguyễn Tri Phương, chúng tôi rẽ phải theo đường Điện Biên Phủ. Phố Cửa Nam nằm ở phía sau lưng chúng tôi..

Đường Điện Biên Phủ ngày xưa là đường Cột Cờ

Nhà tôi 24 Cột Cờ

Ai yêu thì đến, hững hờ thì qua

(Xuân Diệu).

 

Bao bọc xung quanh Hoàng thành có 3 con đường mang tên các vĩ nhân đã cống hiến đời mình cho đất nước ở cuối thế kỷ 19. Chỉ có một con đường mang tên một địa danh, cũng là một mốc son trong cuộc chiến đấu chống ngoại xâm của dân tộc ta – Điện Biên Phủ năm 1954. Nó mang tên một địa danh, nhưng nếu nhắc đến địa danh đó thì không thể nào không nhắc đến một vĩ nhân khác: Võ Nguyên Giáp. Rõ ràng rằng chiến thắng Điện Biên Phủ là của toàn dân, là công lao và xương máu của bao nhiêu chiến sĩ, anh hùng, nhưng ông, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là vị Tổng tư lệnh của mặt trận ấy! Và điều sẽ được nhắc đến nhiều hơn nữa là ở các quyết định tài tình của ông về cách đánh thắng kẻ thù, với tư cách là “Tướng quân tại ngoại” (lời Hồ Chủ tịch). Giả sử ngày ấy không có những quyết định sáng suốt của ông (kéo pháo ra, bố trí lại trận địa, thay đổi cách đánh để bảo đảm chắc thắng và ít tổn thất nhất), không hiểu chuyện gì đã xảy ra? Tâm huyết và tài trí của một vị tướng luôn luôn là vì nhân dân, vì thắng lợi cuối cùng của dân tộc. Với tâm huyết và tài trí ấy, ông luôn luôn “Dĩ công vi thượng”.

Không biết như vậy là không hiểu ông.

 

 

4.

Đến Ngã tư Điện Biên Phủ – Hoàng Diệu, chúng tôi rẽ phải. Đây là con đường phía tây khu Hoàng Thành bây giờ. Đã qua 3 cửa Bắc, Đông, Nam, nhưng cửa Tây thì không biết ở đâu. Chắc cũng không phải ở trên đường Hoàng Diệu này (*).

Phía bên kia đường cũng đã khai quật nhiều di tích cơ mà. Nhưng tên tuổi của vị Tổng đốc đáng kính quê tận Quảng Nam đã hy sinh vì Hoàng Thành này đủ làm lắng sâu bao tình cảm và suy tư của người Hà Nội.

Đúng 10 năm sau cuộc thất thủ lần thứ nhất với sự hy sinh của hai cha con quan Tổng đốc Nguyễn Tri Phương, đến lượt quân Pháp hạ thành Hà Nội lần thứ hai (1883), và đặt ách đô hộ lên toàn cõi Việt Nam (1884). Triều đình vẫn mơ hồ, vẫn chia bè chia phái, vẫn muốn cầu viện sự giúp đỡ của Nhà Thanh (!), không có một sự chuẩn bị thiết thực nào, vì thế mà thất bại là khó tránh khỏi.

Cụ Hoàng Diệu dù đã dốc sức bố trí phòng bị bốn mặt thành, nhưng vì có những người dưới quyền hùa theo phái “chủ hòa” của triều đình, nên ông ở vào tình thế “sức yếu thế cô”, không chọi nổi với lực lượng của quân Pháp lúc ấy. Không thể giương mắt nhìn thấy chúng tràn vào chiếm thành, cụ đã tự treo cổ lên cây, kết liễu đời mình! Người Hà Nội không trách cụ về việc Hà thành thất thủ lần ấy được. Cũng không có một sử gia nào viết về những ngày tháng ấy buông lời bình về cụ. Họ trách người khác, trách triều đình!

Trong lời điếu trước linh cữu của cụ, sĩ phu đất bắc nghẹn ngào thương cảm: “Người người như tiên sinh, Hà thành đâu nỗi thế! Người người khác tiên sinh, Hà thành đành thế nhỉ!”

 

 

 

5.

Qua ngã tư Hoàng Diệu – Phan Đình Phùng, chúng tôi đi theo đường Nguyễn Biểu, ra đường Trấn Vũ, rồi ra Hồ Tây, lòng miên man nghĩ về những đổi thay của Hà Nội xưa và nay.

Chúng tôi đã vào xem Di tích Hoàng Thành nhiều lần, đã được nhìn thấy những chứng tích của nền văn minh của ông cha chúng ta nối tiếp nhau qua bao triều đại. Nhất định chúng tôi sẽ còn vào nữa để bày tỏ lòng ngưỡng mộ và biết ơn tiền nhân!

 

Thật may mắn cho Hà Nội vì từ xưa đã có Tứ Trấn. Tứ Trấn được giải thích là có 4 vị trí tâm linh ở Đông Tây Nam Bắc bảo vệ Hà Nội: Đền Bạch Mã (đông), Đền Voi Phục (tây), Chùa Kim Liên (nam) và Đền (chùa?) Trấn Vũ (bắc).. Nhưng đó là tâm linh.

Hà Nội từ xưa cũng đã có Tứ Trấn bằng lực lượng vật chất có tổ chức, hiện thực và hùng vĩ: Trấn Sơn Đông (vùng Hải Dương, Hưng Yên, Kiến An cũ…), Trấn Sơn Tây (tỉnh Sơn Tây, Hà Đông cũ và một phần Hòa Bình), Trấn Sơn Nam (Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình…), và Trấn Kinh Bắc (Bắc Ninh, Bắc Giang…). Đó là Tứ Trấn bảo vệ Hà Nội, trực tiếp chia sẻ nóng lạnh với Hà Nội, cung cấp nhân tài cho Hà Nội. Phía ngoài Tứ Trấn là các Châu, Lộ (Châu Ái, Châu Hoan… Nghĩa Lộ, Mai Châu…), và các Tỉnh, nối liên hoàn thành bức trường thành của đất nước. Nghĩ đến đây, tôi lại càng nung nấu một niềm tin sâu xa đến sự trường tồn của một địa danh thiêng liêng được bao quanh bằng những con đường mang tên những danh nhân mà chúng tôi vừa đi qua:

Trong ấy… Hoàng Thành!

Tháng 8 năm 2013.

(Đã đăng trên Doanhtho.blogspot.com số cuối tháng 8/2013)

 

 

________________

(*) Bài này sau khi được đăng trên Blog của Doanhtho thì nhận được ý kiến của bác Trần Trọng Chiêm nói rõ thêm rằng: Cửa Tây ngày xưa nằm trên đường Hùng Vương, có nghĩa là Hoàng Thành xưa bao gồm cả vùng đất Quảng trường Ba Đình bây giờ. Và cây cổ thụ mà Cụ Hoàng Diệu tự treo cổ vẫn còn. Nó nằm ở góc đường Hoàng Diệu- Điện Biên Phủ, nhìn ra phía đường Lê Hồng Phong.

 

 

 

 

 

 

 

 

PHỤ LỤC

 

CÙNG MỘT TÁC GIẢ

Ph lc 1: Nhng công trình khi còn đương chc:

  • Sách giáo khoa:

Tam giác lượng (Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp. Hà Nội 1960-1970);

Bài tập Hình học phẳng và Tam giác lượng (NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp. Hà nội 1965- 1975);

  • Sách tham kho trong c trường Đại hc:

Quyết định ti ưu: Dịch từ tiếng Nga của Oska Lange (GS Đại học Tổng hợp Lômônôxốp). Nxb. Giáo dục. Hà nội 1982.

  • Các công trình nghiên cu và c bài báo chuyên kho: Có trên 50 công trình về các lĩnh vực Toán học, Tin học, Quản lý kinh tế, Hợp tác quốc tế… đã đăng trên các Báo và Tạp chí như: Tập san Vận trù học, Tập san Công nghiệp nhẹ, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế Việt Nam, Tạp chí Công nghiệp Việt Nam, Sách An ninh kinh tế và kinh tế thị trường, Tạp chí Nghiên cứu Nhật bản, Báo Nhân dân, Thời báo Kinh tế Việt Nam, Tạp chí VET (tiếng Anh), Báo Khoa học và Đời số..

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ph lc 2: Các tác phm thơđã xut bn:

  • Các n phm riêng:

Hương đời.Nxb. Văn hoá Dân tộc. Hà Nội 2005.

Du n mùa thu.Nxb. Văn học. Hà Nội 2010.

Tôi nghe tiếng ca tôi. Nxb. Hội Nhà văn. Hà Nội 2016.

 

  • Các ấn phẩm in chung với nhiều tác giả:

Th và Thơ:Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội. Hà Nội 1998 Hà Ni Thơ: Nxb. VHDT. Nhiều tập. Hà Nội 2004- 2008 Hn bút Đông Đô:Nxb. VHDT. Hà Nội 2005.

Thp sáng Đường thi:Nxb. VHDT. Hà Nội 2006.

Tm lòng nhà giáo:Nxb. Giáo dục Hà Nội 2006.

Thơ Hà Ni (CLB Thơ HN): Nxb. Thanh niên. Hà Nội 2008. Thơ hay 3 Min (CLB Sáng tác VHNT VN):Nxb. Văn học. Hà Nội 2008.

999 Tác gi thơđương đại (CLB Sáng tác VHNT VN).Nxb. Lao động. Hà Nội 2010.

Thi đàn truyn thng VN. Nxb. Hội Nhà văn. Hà Nội 2010.

 

 

 

 

 

 

Mục lục

Nhà thơ Trần Văn Kinh: Gửi vào vô tận chút tình chưa tan – 

Nhà báo Phạm Quỳnh……………………………………………………………………………………………………………5

  • Tôi nghe tiếng của tôi. ………………………………………………………………………….11
  • Thời gian và ta ……………………………………………………………………………………………….13
  • Những người tôi chịu ơn …………………………………………………………………15
  • Đêm ở quê …………………………………………………………………………………………………………..17
  • Chiếc máy tạo khuôn ……………………………………………………………………………18
  • Mùa đông của tôi ……………………………………………………………………………………..19
  • Nghiêng ………………………………………………………………………………………………………………….21
  • Chiều sâu đôi mắt ……………………………………………………………………………………..22
  • Lời mùa thu ……………………………………………………………………………………………………..23
  • Hình hài ………………………………………………………………………………………………………………….24
  • Thư thái …………………………………………………………………………………………………………………25
  • Đạo ………………………………………………………………………………………………………………………………..27
  • Tự vịnh …………………………………………………………………………………………………………………….28
  • Bên thềm ……………………………………………………………………………………………………………..29
  • Khung trời phía sau ………………………………………………………………………………..31
  • Với quê …………………………………………………………………………………………………………………….31
  • Thời con gái ……………………………………………………………………………………………………….32
  • Tim rung ………………………………………………………………………………………………………………..33
  • Mờ tỏ ………………………………………………………………………………………………………………………….34
  • Một chút bụi hồng …………………………………………………………………………………….35
  • Với hoa …………………………………………………………………………………………………………………..36
  • Giữa dòng đời ………………………………………………………………………………………………38
  • Bất chợt ………………………………………………………………………………………………………………….41
  • Giá đừng ……………………………………………………………………………………………………………..42
  • Phù vân …………………………………………………………………………………………………………………..43
  • Thực, hư? ……………………………………………………………………………………………………………..44
  • Hương thu . ………………………………………………………………………………………………………..45
  • Thơ đề Bức ảnh chiều vàng ………………………………………………………….46
  • Nửa chén quỳnh tương ……………………………………………………………………..48
  • Lời hứa …………………………………………………………………………………………………………………….49
  • Mưa phùn ……………………………………………………………………………………………………………49
  • Nhớ ………………………………………………………………………………………………………………………………50
  • Phù sa ………………………………………………………………………………………………………………………..50

.Viếng bạn                    ……………………………………………………………………………………………………………..51

.Chiều sót                    ……………………………………………………………………………………………………………….52

.Hữu hạn và vô hạn                    ………………………………………………………………………………….53

  • Nhân đọc bài con Nhân-sư của bác Chân: ……………….54
  • Mừng sinh nhật bạn ……………………………………………………………………………….54
  • Hồi đó ……………………………………………………………………………………………………………………….55

.Dừng chèo                   …………………………………………………………………………………………………………..56

.Còn ham                    ………………………………………………………………………………………………………………..57

.Chùm thơ Haikư                     ……………………………………………………………………………………….58

  • Em và tôi ……………………………………………………………………………………………………………….59
  • Đồng Mô hôm ấy anh về ………………………………………………………………….60

 

  • Đồng Mô ta ước được về……….. ……………………………………………………….60
  • Đừng nghe họa mi hót ………………………………………………………………………..61
  • Xùy cho họa mi hót …………………………………………………………………………………62
  • Nét thơ ……………………………………………………………………………………………………………………..63
  • Xuân thì ………………………………………………………………………………………………………………….64
  • Xuân vẫn đẹp ………………………………………………………………………………………………….65
  • Đò sang ……………………………………………………………………………………………………………………66
  • Đò muộn ……………………………………………………………………………………………………………….66
  • Tuồng rêu …………………………………………………………………………………………………………….67
  • Từ độ về đây …………………………………………………………………………………………………….67
  • Trời thu nao nao ………………………………………………………………………………………….68
  • Xuân đến ……………………………………………………………………………………………………………….70
  • Dạ vũ ký Bắc …………………………………………………………………………………………………….71
  • Đêm mưa gửi bạn phương bắc :………………………………………………71
  • Đêm mưa gửi bạn phương Bắc: ……………………………………………..72
  • Xuân vọng …………………………………………………………………………………………………………..72
  • Tôi nghe “Xuân Vọng” ……………………………………………………………………….73
  • Mong Xuân ………………………………………………………………………………………………………..76
  • Khiên thường ………………………………………………………………………………………………….77
  • Vén xiêm ……………………………………………………………………………………………………………….79
  • Những câu chuyện xung quanh Màu tím hoa sim……………….80
  • Đọc bài “Nước mắt mẹ” của TTCh …………………………………….99
  • Người Hà Nội như tôi biết ……………………………………………………….103
  • Trong ấy… Hoàng Thành. …………………………………………………………..117
  • PHỤLỤC ………………………………………………126

 

TRẦN VĂN KINH

Thơ và ký

TÔI NGHE TIẾNG CỦA TÔI

 

NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN

65 Nguyễn Du – Hà Nội

Tel. & Fax.: 04.38 222 135

Email: nxbhoinhavan.com@yahoo.com

http://nxbhoinhavan.com

Chi nhánh miền Nam

371/16 Hai Bà Trưng – Q3 – TP.HCM

ĐT và Fax: 0838297915

Email: nxbhnv.saigon@gmail.com

Chi nhánh miền Trung và Tây Nguyên

42 – Trần Phú – thành phố Đà Nẵng

ĐT: 05113849516

Email: nxbhnv.mientrungtaynguyen@gmail.com

Chi nhánh miền Tây Nam Bộ

314C – Hoàng Lam – thành phố Bến Tre

Tel: 075.3812736  016.998.083.86

Email: nxbhnvmekong@gmail.com

Chịu trách nhiệm xuất bản

PHẠM TRUNG ĐỈNH

Chịu trách nhiệm bản thảo

TRẦN QUANG QUÝ

 

Biên tập:

NGUYỄN THỊ MINH PHƯỚC

Sửa bản in:

KIM NHUNG

Bìa:

BẢO QUÂN

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phạm Quynh :Nhà thơ Trần Văn Kinh: Gửi vào vô tận chút tình chưa tan

 

 

Nhà thơ vốn không phải danh xưng dành cho tất cả nhưng người cầm bút. Mà bởi những đam mê, cống hiến và tác phẩm suy tôn nên họ . Với nhà thơ, thì dù họ có ẩn mình kín đáo, thơ ca của họ vẫn lan tỏa đến  những tâm hồn đồng điệu khác. Đó là sức mạnh của thơ ca.

 

Tôi đọc được và cảm nhận những rung cảm thực sự. từ nhà thơ Trần Văn Kinh. Không hiểu sao tôi cứ có cảm giác bâng khuâng khi khép lai những trang bản thảo của ông. Dường như qua thơ ca của mình Trần Văn Kinh đã gửi vào sâu thẳm lòng người, gửi vào trong vô tận cõi đời chút tình chưa tan (như một ý thơ ông viết). Và tôi thiết nghĩ chút tình đó sẽ ở lại mãi trong ta vì những nỗi niềm, cơn cớ, tình cảm mà nhà thơ gửi gấm.

 

Như một nốt nhạc tài hoa ngân lên, sẽ vang vọng mãi và gây chấn động trong tâm thức người nghe.

 

Tôi nghe tiếng ca tôi

 

Ch như tiếng rung khe kh

Ca lòng mình xôn xao, xôn xao

 

Ri tan đi trong tiếng gió gào

May ch có người yêu mình nghe được.

 

 

5

Trần Văn Kinh

 

Nhà thơ, có người ẩn mình kín đáo trong thơ, mượn ngôn ngữ làm nơi trú ngụ cho tâm hồn mình. Lại có người dùng thơ để giãi bày những nghĩ suy, trăn trở . Ta không biết Trần Văn Kinh đang ẩn mình hay giãi bày, nhưng tôi tin đó là những rungcảm tận cùng và sâu thẳm nhất nơi tâm hồn nhạy cảm và nhiều trắc ẩn của ông. Với bài thơ Tôi nghe tiếng của tôi ngay nhữngdòng đầu người đọc có thể nhận ra ông là một người viết với cái tôi riêng biệt. Nhà thơ luôn là người nghe thấy, nhìn thấy và cảm nhận thấy những điều mà người thường không thấy được. Đó là khả năng thiên phú của người cầm bút. Trần Văn Kinh không phải là ai, không là một điều gì khác khi ông lắng nghe tiêng của mình (tượng trưng cho cách sống, lý tưởng, nhâncách…) và nhận biết mình, ông không giống ai, dẫu họ là vĩ nhân hay những người  bình thường nhất. Ông chọn mình chỉ nhưtiếng rung khe khẽ của chính sự xôn xao lòng mình. Nhưng đó là tất cả ý nghĩa của trái tim, của tâm hồn tha thiết với cuộc đờiivà con người. Giản dị, khiêm nhường nhưng khác biệt và sâu xa. Điều đó chỉ được phát hiện qua sự thấu hiểu May chcó người yêu mình nghe được.

 

Người làm thơ, làm nghệ thuật cần lắm sự sáng tạo. Trong thời này có lẽ chúng ta ít nhiều cảm thấy mệt mỏi với nhữngbài thơ phong trào, sáo mòn, cũ kỹ với những ngôn ngữ, ý tưởng không có sự tìm tòi và gọt giũa. Nhà thơ Trần Văn Kinh không nằm trong số đông đó bởi sự tìm kiếm, sáng tạo trong những tứ thơ, ý tưởng và ngôn

 

6

Tôi nghe tiếng của tôi                   T h ơ

 

 

Từ. Để có được điều này vì trước hết ông là một trí thức, một người hội tụ những hiểu biết nhất đinh từ môi trường sư phạmcũng như sự. từng trải cuộc sống  và thêm sự nhậy cảm, tinh tế thiên phú của người làm nghệ thuật. Tôi thực sự tâm đắc với câu thơ : Kinh nghim đôi khi chn đường sáng to của ông. Đây cũng là câu thơ để lại nhiều suy ngẫm cho mỗi chúng ta.

 

Đoc thơ Trần Văn Kinh tôi nghĩ nhiều về nhân cách và lẽ sống ở đời. Thơ hay không chỉ là bông hoa

 

Đẹp mà còn phải tỏa hương. Thơ ông  đã làm  đưộc  điều  đó. Khi mà tưởng rằng thế hệ ông, tuổi tác của ông đã vào : xưa nay hiếm thì nhữ ng trươc tác hay nhữ ng tác phẩ m sau này của ông dưòng như là không tuổi. Những câu thơ vẫn như đang soi chiếu vào ta, bất chấp sự dài rộng của thời gian, không gian hay chiều sâu khoả ng cách của lòng người.

 

Có nhng điu cha mun dy con

 

Ch s sau này làm con thua thit

 

Có nhng điu không làm con thua thit

 

E rng cha chng mun dy con.

 

Thơ Trần Văn Kinh viết cho các con mà ta nghe như một tiếng nói tự trong thẳm sâu lòng mình. Có mấy người cha viết cho con mình hay dạy dỗ con mình được như thế . Nhưng hơn thế , thơ Trần Văn Kinh đã nói hộ nỗi lòng của bao người chanói riêng và những thế  hệ đi trưốc nói chung. Thơ ông đã vượt ra ngoài khuôn khổ, làn ranh của sự dạy dỗ hay viết lại cho conmình. Mà trong đó ta thấy bao hàm một bài học lớn, một ý nghĩa nhân văn và cao cả . Và đây nữa, câu thơ khiến chúng ta ngỡngàng. Sự thăng hoa của những câu thơ luôn dự báo một nhà thơ tài hoa tiềm ẩn.

 

Màu xanh tht sng ngoài tri

 

Nghe màu xanh gi dy đời cách xanh

 

Goethe nói: Moi lí thuyết  đều ­mầum, chỉcây đời đời là mãi mãi xanh tươi. Trần Văn Kinh nói được nhiều hơn thế khimà những câu thơ y làm nhúc nhói bao người đoc. Nhưng ai đã thấy được điều đó? Và trong số người thấy đươc ai dámnói ra được? Mà lại là bằng ngôn ngữ nghệ thuật của thi ca.

 

Đén đây tôi càng muốn khẳng định: Thơ ca suy tôn nên nhà thơ. Điều đó đúng với Trần Văn Kinh.

 

Bên cạnh những câu thơ khiến người đọc “thảng tht” tôi cũng muốn nhắc đến không khí trung đại, man mác trong thơông. Như buổi hoàng hôn vàng son của một thời đại nào đó được khơi gợi từ những câu thơ trữ tình, hoài cảm:

 

Ri mt mùa đông xa cách xa

 

Huy

[Message clipped]  View entire message

Tôi nghe tiếng của tôi               T h ơ

 

 

t/. (1 có ư,c i@u này vì trư c h t ông là m:t trí th*c, m:t ngư i h:i tD nh ng hi1u bi t nh t Hnh t/ môi trư ng sư ph+m cũng như s. t/ng tr i cu:c s ng và thêm s. nh+y c m, tinh t thiên phú c#a ngư i làm ngh’ thu-t. Tôi th.c s. tâm Ac v i câu thơ : Kinh nghim đôi khi chn đường sáng to c#a ông. (ây cũng là câu thơ

 

1 l+i nhi@u suy ng$m cho m?i chúng ta.

 

( c thơ Tr n Văn Kinh tôi nghĩ nhi@u v@ nhân cách và l> s ng i. Thơ hay không chF là bông hoa

 

Lp mà còn ph i t%a hương. Thơ ông  ã làm  ư,c  i@u

 

ó. Khi mà tư ng rKng th h’ ông, tuMi tác c#a ông ã vào : xưa nay hiếm thì nh ng trư c tác hay nh ng tác ph m sau này c#a ông dư ng như là không tuMi. Nh ng câu thơ v$n như ang soi chi u vào ta, b t ch p s. dài r:ng c#a th i gian, không gian hay chi@u sâu kho ng cách c#a lòng ngư i.

 

Có nhng điu cha mun dy con

 

Ch s sau này làm con thua thit

 

Có nhng điu không làm con thua thit

 

E rng cha chng mun dy con.

 

Thơ Tr n Văn Kinh vi t cho các con mà ta nghe như m:t ti ng nói t/ trong th7m sâu lòng mình. Có m y ngư i cha vi t cho con mình hay d+y d? con mình ư,c như th . Nhưng hơn th , thơ Tr n Văn Kinh ã nói h: n?i lòng c#a bao ngư i cha nói riêng và nh ng th h’ i trư c nói chung. Thơ ông ã vư,t ra ngoài khuôn khM, lKn ranh c#a s. d+y d? hay vi t l+i cho con mình. Mà

 

7

 

Trần Văn Kinh

 

trong ó ta th y bao hàm m:t bài h c l n, m:t ý nghĩa nhân văn và cao c . Và ây n a, câu thơ khi n chúng ta ngP ngàng. S. thăng hoa c#a nh ng câu thơ luôn d. báo m:t nhà thơ tài hoa ti@m n.

 

Màu xanh tht sng ngoài tri

 

Nghe màu xanh gi dy đời cách xanh

 

Goethe nói: ithuyết đều ­ u !”m, [1] ỉ‑cây đời

 

‑­#i ­#i xanh tươi. Tr n Văn Kinh nói ư,c nhi@u hơn th khi mà nh ng câu thơ y làm nh*c nhói bao ngư i c. Nh ng ai ã th y ư,c i@u ó? Và trong s ngư i th y ư,c ai dám nói ra ư,c? Mà l+i là bKng ngôn ng ngh’ thu-t c#a thi ca.

 

( n ây tôi càng mu n kh7ng Hnh: Thơ ca suy tôn nên nhà thơ. (i@u ó úng v i Tr n Văn Kinh.

 

Bên c+nh nh ng câu thơ khi n ngư i c “ ảng tht” tôi cũng mu n nhAc n không khí trung +i, man mác trong thơ ông. Như buMi hoàng hôn vàng son c#a m:t th i +i nào ó ư,c khơi g,i t/ nh ng câu thơ tr tình, hoài c m:

 

Ri mt mùa đông xa cách xa

 

Huyn cm nghe ln tiếng mưa sa

 

Ngày nào gia chn thiên thai y

 

Mt tiếng đàn sênh bao thiết tha.

 

Cái tài hoa c#a ngư i vi t là làm cho trí tư ng tư,ng c#a ngư i c ư,c d$n dD vào th gi i ngh’ thu-t tư ng vô hình nhưng mang y c m xúc th.c. R ó ngư i c tìm th y mình và ngP như nhà thơ ang vi t cho mình.

 

 

8

 

Tôi nghe tiếng của tôi               T h ơ

 

 

  1. S. hoài cM trong thơ Tr n Văn Kinh bu&n và Lp n : cho tôi hình dung v@ ngư i xưa, tình xưa mà thao th*c và thMn th*

 

Để bây gilc cnhân

 

Vườn xưa chng đã my ln ra hoa…

 

Tôi không mu n và không th1 so sánh Tr n Văn Kinh v i b t kỳ ai. M:t ngư i i gi a kim cM v i bu&n vui th s.. Ông hi1u cu:c i bKng lý trí, c m nh-n bKng con tim và vi t lên bKng nh ng rung c m t-n cùng. Vài dòng “[1]ảmn” làm sao nói h t ư,c nh ng “ [1]+ng” trong t-p thơ Tôi nghe ting ca tôi. ChF mong vi t ra 1 th%a nh ng thMn th*c trong lòng và g,i m:t l i nh% 1 bư c vào th gi i thơ ca Tr n Văn Kinh –

 

Người ả‑, o vô tn [1] t nh chưa tan.

 

– ‑Ni nhng ./ y đầu thu 2016

 

Nhà báo Phm Quỳnh

 

Ban Văn a – Văn ngh

 

o Sc kh‑e & ­ i s!ng