TMCS : :DẠO ĐẦU TTTB@ No 112

                          Dien tich “con ca con ke” bat nguon tu dau?

LAN MAN      

                           Con cà con kê – Cà kê dê ngỗng 

TMCS vừa gõ xong cái tiêu đề thì đứa cháu ngoại đứng phía sau lúc nào không biết, bảo : Ông gõ sai rôi !  hôm trước bà bảo cháu: con kê là con gà chứ không phải con cà đâu !

TMCS giật mình…hồi lâu mới tạm chống chế : À, con cà là biến âm của từ gà, tiếng Việt cổ là  cà, là ca… ý nói là cũng chỉ là một con mà cứ nói đi nói lại mất thì giờ hoặc cục tác mãi như gà mái  mà chưa đẻ… nhưng qua thoáng do dự, TMCS bảo cháu mình : Để ông suy nghĩ thêm rồi giải thích lại cho cháu…

TMCS sục sạo, tìm thấy mấy kiểu giải thích sau:

–  Tương tự như giải thích ban đầu của TMCS.

– Cà là cây cà, kê là cây kê. Hai cây này gieo hạt mọc thành đám, khi tỉa ra trồng lại rất mất thì giờ. Ý nói chyện kể dài dòng tốn thời gian…

–  Nguồn từ tiếng Hoa : ca kệ. Đọc kinh ề à mất nhiều thì giờ.

– Gốc Pháp: caquet, caqueter : gà mái cục tác, nghĩa bóng : ba hoa.  Caquet bon bec; kẻ ba hoa bép xép…Caquet cũng có hàm ý bavardage intempestif (luyên thuyên dải dài dai không phải lúc)…v.v…

Với TMCS thì cách lí giải đầu tiên có vẻ phổ biến, người Hoa hay người Pháp  có vào VN cũng chưa chắc đã du nhập cách nói của họ sớm hơn cách nói của tổ tiên ta…Hiện nay  vẫn còn đang bán tín bán nghi, nên TMCS chưa dám giải thích lại cho cháu mình…

Quý vị nào biết cách lí giải hợp lí hơn, đề nghị giúp đỡ ông cháu TMCS- xin cám ơn trước .

Trên đây chưa phải là chuyện chính TMCS muốn thưa hầu quý bạn đọc xa gần mà là chuyện khác kia

Tính TMCS vốn thế, chứ không phải thích quan trọng hoá “tỏ vẻ tò ve” đâu (se donner des airs importants , faire important…) cứ phải cà kê dê ngỗng … chán chê mê mỏi đã, mới “lấy đà” đủ  để bắt đầu câu chuyện chính  được…

Số là : 

Khi đọc  bài Tây Tiến – thơ Quang Dũng , TMCS thấy hay hay, rất hào sảng lại trữ tình, TMCS liền nảy ra ý định giới thiệu trên TTTB@…bèn tức cảnh sinh tình dịch ra thơ Anh, thơ Hán, thấy “hòm hòm” lại sinh ra ý gửi email xin “chi viện” bản dịch thơ Pháp của các dịch giả cộng tác viên trong nước…cho đủ lệ bộ.

Dè đâu… 

bản dịch của cả hai vị cùng là chuyên gia bậc lão làng Pháp ngữ lại vênh nhau “khớ” nhiều, mà cũng  có đôi chỗ chả vị nào  CẢM giống TMCS cả…TMCS dịch thử mươi câu tiếng Pháp gửi về nhị vị,… kết quả càng thấy  bế tắc….

Theo kinh nghiệm bản thân, TMCS thấy những câu thơ HAY thường có những từ rất  ĐẮT, gợi lên nhiều CẢM khác nhau, nhiều khi làm ngay cả các dịch giả cự phách cũng phải rơi vào tình trạng oái oăm, loay hoay xoay sở. Đó cũng chính là nguyên nhân chính dẫn đến sự vênh nhau giữa các bản dịch…Không phải là giữa các  dịch giả tầm “bô lão” mà cả ở tầm “siêu dịch giả” cỡ Nguyễn Khắc Viện. Lê Cao Phan, Bùi văn Lăng v.v…cũng có  chỗ  vênh nhau khủng khiếp !

Xin khoanh lại bốn câu đầu tiên của Quang Dũng để minh chứng cho nhận xét trên :

TÂY TIẾN

Tây Tiến xa rồi sông Mã ơi,

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi.

Sài luông sương lấp đoàn quân mỏi,

Mương Lát hoa về trong đêm hơi…

TMCS cứ ngồi ngẩn người mãi với ba cụm từ:  nhớ chơi vơi, hoa về, đêm hơi.

Thú thực, có lúc TMCS thoáng nghi ngờ: hay là  QD ‘bí “ vần :

Vì sông Mã  ơi, nên mới có “nhớ chơi vơi”, “đêm i”…

Và cái đầu quen loăng quăng khiến TMCS bật cười : đêm  “i”, thoạt nghe  nghĩ ngay đến “lợn hơi”,  “cân hơi”, “cân móc hàm”…Tiếng Việt mình HAY thật, hèn nào mà thơ Việt mình chả thuộc loại thơ HAY NHẤT QUẢ ĐẤT này !

Không ! QD là nghệ sĩ- chiến sĩ tài hoa : cầm kì thi hoạ…,thuộc  cấp bậc “nhất quả đất”, quyết không có chuyện bí vần , chỉ là QD muốn mênh mang hoá, nên tận dụng khai thác cái vần “ơi” mà thôi…

Và TMCS cố tự lí giải cho cái CẢM của mình ( chưa phải là định nghĩa chuẩn xác) về Nỗi nhớ chơi vơi của người lính trong lời thơ QD – rất có thể nó chỉ HAY khi ứng với nỗi nhớ chơi vơi của người lính trên đường dài, hành quân ra trận…chứ không phải với bất kì nỗi nhớ nào !(Thuật ngữ ngôn ngữ học : nghĩa ngữ cảnh )

Nhớ chơi vơi ; là sự bấp bênh, chập chờn trong khoảng trống mênh mông của tình cảm Nhớ, sự mong manh, mơ hồ lúc nhớ ít nhớ nhiều, thậm chí khuây đi, lắng xuống…không bấu víu cố định vào đâu được.

Đêm hơi là đêm đẫm hơi sương , hơi nước mưa mù mịt.

(Xin quý vị hiểu cho : “Cảm” được gây  ra bởi một “từ “, khác với định nghĩa về  từ đó, một từ có thể có nhiều nghĩa, một nghĩa có thể gợi ra nhiều  cách Cảm  khác nhau tuỳ theo bối cảnh sử dụng từ đó, cũng có khi tuỳ người dùng hoặc người đọc từ đó ).

Riêng với từ chơi vơi của QD, đúng là TMCS có  cái “cảm” phức tạp, khó diễn đạt gọn ghẽ trong một  từ tương đương với ” hai vế”  sự rơi vào chốn mênh mông  chả biết bấu víu vào đâu để ổn định…nhưng  người khác   chưa chắc đã đồng “cảm”…Có thể ai đó chỉ cảm thấy

“chơi vơi” chỉ là BUỒN, hoặc MAN MÁC v.v…nhưng TMCS rất “ngoan cố”, cứ đinh ninh :

nếu chỉ trong KHOẢNG HẸP + ở THẾ BÀN THẠCH thì làm gì có CHƠI VƠI !

TMCS xin nhắc lại quan niệm cố hữu của mình : Từ có đa nghĩa, Cảm có đa chiều, Từ có thể phân biệt đúng hoăc sai, còn Cảm thì mông mênh, không có ranh giới chẻ hoe sai đúng, đúng sai…

Bí quá, TMCS đành  leo lên mạng… may quá  vớ được bài Tây Tiến của dịch giả Đàm Trung Pháp , bốn câu đầu trong  bản dịch Anh ngữ của ĐTP như sau:

 

Westward March

Way behind us is the Mã River , Westward March troops!

Yet thinking of jungles and mountains is still a staggering nostalgia In Sài Khao fog concealed the worn-out soldiers

In Mường Lát  on a steamy night the flowers returned.

Bản Pháp ngữ phác thảo của TMCS (dự định sẽ giới thiệu cùng các bản Anh và Hán như “một cỗ tam mã Anh-Pháp- Hán cà cộ” của TMCS) có bốn câu đầu như sau :

LA MARCHE VERS L’OUEST

(Poème by Quang Dũng – Traduction par TMCS)

Oh! La marche vers l’Ouest,

Le fleuve Ma  est déjà bien éloigné

Avec la nostalgie immense et précaire dans notre coeur

Nous pensons à nos monts et  à nos forêts.

À Sài khao, le brouillard dissimule  la troupe exténuée.

Et Mương Lát refleurit dans cette nuit voilée. 

So với bản dịch của TPN :

Le fleuve Mã ,hélas,est déjà loin;Oh!Marche vers l’Ouest,

En moi,ressurgit le souvenir nostalgique des forêts et des montagnes,

A Sai-khao,le brouillard camoufle la troupe exténuée,

A Muong-lat,les fleurs reviennent dans la nuit vaporeuse.

và bản dịch của PHM:

Le fleuve Mã – Ô Marche vers l’Ouest!-  est déjà bien éloigné.

Dans une vague mélancolie, on pense aux monts et aux forêts.

À Sài Khao, le broullard cache la troupe épuisée

Et des freurs embellissent Mường Lát dans la nuit estompée.

TMCS nhận thấy Nhớ chơi vơi trong bản Anh của ĐTP ( staggering nostalgia) có phần hơi trùng khớp với CẢM  trong các bản dịch Anh, Pháp, Hán của TMCS về một nỗi nhớ  bấp bênh, mơ hồ, không bấu víu vào đâu… trong lòng người lính trên đường hành quân, TMCS “dịch” chân chỉ hạt bột và dài dòng hơn , y như lúc giải thích  ý và nghĩa của “chơi vơi” với cụ G/sư cố vấn của Cộng đồng Pháp ngữ : Avec la nostalgie immense et précaire dans notre coeur….

Vị giáo sư  có hơn nửa thế kỉ dạy văn học ở các nước Pháp, Anh, Thuỵ sĩ, Italia…đã cho nhận xét khớp với Cảm của ĐTP và TMCS sau khi nghe TMCS dịch nghĩa đen sát từng từ, từng câu của bốn câu nguyên tác tiếng Việt trên. 

TMCS cứ lo từ “précaire” cà quỷnh, trật rìa hoá ra cụ G/s lại bảo : người Pháp vẫn thường nói une planche précaire (tấm ván bấp bênh), une position précaire ( vị trí bấp bênh), le bonheur précaire ( hạnh phúc mong manh) … tại sao lại ngại  Nostalgie précaire – nỗi nhớ mong manh, nỗi nhớ bấp bênh… ? Nếu ngại, thử thay thế bằng Nostalgie immense et vague chẳng hạn, nghe “yếu” đi nhiều và “thường” quá, chẳng hấp dẫn gì nữa, và quan trọng hơn là đánh rơi mất ý “instable”…. , còn immense thì tất nhiên rồi : người Pháp rất hay nói  : chagrin immense (nỗi buồn mênh mang, nostalgie immense nỗi nhớ (quê nhà) mênh mang…(G/s cũng cho biết từ điển Oxford mới nhất cũng bỏ nghĩa “nhớ nhà, nhớ quê” của từ nostalgia  trong tiếng Anh đương đại, bây giờ nostalgia chỉ còn nghĩa “hoài cổ” với người Anh– Có lẽ ĐTP  muốn “ép vần” hoặc chưa có thông tin này). Tuy không phải là chuyên gia từ điển học, nhưng cụ Giáo có kiến thức và bộ nhớ tuyệt vời: Cụ ứng khẩu đưa ra  tới khoảng chục từ đồng nghĩa  và chục từ trái nghĩa của précaire với từng thí dụ cụ thể, khiến TMCS tâm phục khẩu phục…

Tuy không biết tiếng Việt, nhưng cụ Giáo tỏ ra rất tâm đắc với khái niệm của TMCS về chơi vơi, vì nó thi vị hoá nỗi nhớ của người LÍNH đang trên đường hành quân lên nhiều lắm :

Chơi vơi  =  khoảng trống + sự bấp bênh (không chỗ bấu víu)

                 = immense          +  précaire  (instable)

Những cách cảm và dịch này của ĐTP và TMCS cơ bản phù hợp với nghĩa  CHƠI VƠI thường dùng trong tiếng Việt (ĐTP chỉ mới nói ý bấp  bênh , ko bám víu, thiếu ý “immense” trong hàm nghĩa chơi vơi  trong khoảng hẹp dù cho có bấp bênh cũng làm sao tồn tại khái niệm chơi vơi được !)  

QD không phải người đầu tiên dùng từ này : Xuân Diệu từng viết : Tương tư chơi vơi, Nguyễn Tuân , Nguyễn Công Hoan từng Viết : Trăng chơi vơi… nhưng đều để gợi cảm giác lẻ loi (solitaire) giữa mênh mông, trống trải không có gì bám víu…chứ không có hàm ý kỉ niệm hay buồn bã nào cả…

Ở trường hợp Tương tư, Trăng trên trời… , chơi vơi thiên về nghĩa lẻ loi,  trong mênh mông, trơ trọi không bám víu, nhưng ở câu thơ QD nó nhẹ về nghĩa này vì là cả đoàn quân đang trên đường ra trận…Từ phải hiểu theo ngữ cảnh.

Còn dịch : ressurgir le souvenir nostalgique” – khơi dậy kỉ niệm nhớ quê/ nhớ nhà như TPN hoặc “une vague mélancolie” – một nỗi buồn mơ hồ như PHM thì theo TMCS chỉ HAY về Pháp ngữ khi tách rời hoàn toàn khỏi “ Nhớ chơi vơi nhưng nếu là “dịch” thì đi “HƠI” bị xa,  dường như “đứt liên lạc với “ nguyên tác !

Nhưng đây chưa đến lúc để TMCS bàn về Nhớ chơi vơi nên dịch như thế nào…Tính khề khà…còn cà con kê của TMCS lại muốn đưa câu chuyện rẽ sang một hướng khác… KHÁC NHIỀU  và cũng QUAN TRỌNG  hơn nhiều !

Lại… số là:

Một trong hai vị dịch giả Pháp ngữ trên đã cất công tra từ điển  tiếng Việt và gửi cho TMCS định nghĩa “Chơi vơi”, ý chừng muốn chứng minh cảm nhận của TMCS có thể “CHƯA TRÚNG”. Ấy là TMCS chột dạ đoán mò đoán mẫm  vậy. TMCS đã thầm xin lỗi nếu đoán sai...

Cuốn TĐ ấy định nghĩa từ CHƠI VƠI và cho một thí dụ khiến bất kì ai đang buồn ngủ mấy cũng phải “tỉnh con sáo sậu” ngay. Nó kì cục và ngây ngô cứ như một anh hề pha trò nhạt thếch và vô lí đến bất ngờ :

“Chơi vơi : cheo leo, có ý nguy hiểm, thí dụ : Con thuyền chơi vơi giữa biển”.

XUẤT XỨ :

Trang  216 của cuốn từ điển có “thương hiệu” NXB và tác giả danh giá như sau :

                NGÔN NGỮ HỌC VIỆT NAM

                   TỪ ĐIỂN TIẾNG    VIỆT

     NHÀ XUẤT BẢN  TỪ ĐIỂN  BÁCH KHOA

TRANG 216;   CHƠI VƠI : CHEO LEO, CÓ Ý NGUY HIỂM .  

     THUYÊN CHƠI VƠI GIỮA  BIỂN

                                Tác giả

                                                 Giáo sư Bùi Quang Tịnh

                                                   Bùi thị Tuyết Khanh

Ôi ! Hỡi vị Giáo sư TMCS chưa được biết bao giờ và đồng tác giả của Ngài ! Thế kỉ nào rồi mà NHỊ VỊ còn làm từ điển  bừa bãi, cẩu thả đến mức không coi  người sử dụng ra gì ! mà lại mượn danh Ngôn ngữ học Việt nam ( Lập lờ : Viện hay Nhóm ?) kèm danh hiệu NXB TĐ Bách Khoa với học hàm cao quý của chính Ngài G/sư…

Đây đâu phải là định nghĩa ! Người ta muốn biết A là gì, đã không trả lời lại chỉ cho người ta: A là B. Giả sử tra đến B là gì , chắc hẳn từ điển lại dạy người ta B là A !!! Đấy là cái trò “ con kiến mà leo cành đa…”. Sai hoàn toàn về phương pháp luận làm Từ điển ! Từ điển học hiện đại y/c trước hết  định nghĩa phải chính xác và chặt chẽ đến mức không thể hiểu chệch tí tẹo nào, nó đòi hỏi chuẩn mực như Toán học vậy !  

Mà cũng sai hoàn toàn về ý và nghĩa. Vì ở đây, A và B khác nhau 100% !

Chơi vơi và Cheo leo khác hẳn nhau, về ngữ nghĩa không phải là một, vả lại không bao giờ được dùng một từ để định nghĩa một từ khác ! nếu hai từ có nghĩa giống nhau thì xếp vào loại từ đồng nghĩa chứ không được lấy từ nọ định nghĩa từ kia !

Theo TMCS ( chưa tham khảo tư liệu nào ) tạm nêu ra ý “cảm nhận” riêng về “chơi vơi” và “cheo leo”xuất phát từ hiểu biết chủ quan :

Chơi vơi là cảm giác ở trạng thái như đang giữa khoảng trống rộng lớn, không có gì bám víu, thấy như đang lẻ loi, bấp bênh, lên xuống, tăng giảm, chao đảo (tuỳ ngữ cảnh)…cần được bám, dựa… vào đâu đó.

Cheo leo: ở trên CAO, trong tư thế có thể chênh vênh, không ổn định.

Vì khác nhau như vậy, nên không thể dùng lẫn. Chính tác giả từ điển cũng bí: định nghĩa “Chơi vơi” là “cheo leo” , nhưng lại cho thí dụ đầu Ngô mình Sở : Thuyền chơi vơi giữa biển ! sao không dám lấy thí dụ vừa định nghĩa : Thuyền CHEO LEO giữa biển.

Cụ Nguyễn Công Trứ có viết : Giữa trời vách đá CHEO LEO…

Hỏi ai dám sửa : Giữa trời vách đá chơi vơi !

Thiếu ý mênh mông, rộng lớn : không thể dùng chơi vơi !

   Thiếu độ cao : không thể dùng cheo leo.

 Ở vào thế “vững như  bàn thạch” : cũng  không thể tồn tại ý niệm chơi vơi hoặc cheo leo !

Người làm Thơ, dịch THƠ – với cương vị nghệ sĩ – amateur có thể  “cảm” theo cách tự do bay bổng, nhưng người làm từ điển – trên cương vị khoa học gia, học giả – phải thật chuẩn xác ! 

 Dạo

Từ đó TMCS chợt nghĩ đến Từ điển RỞM. VIện RỎM , Giáo sư  RỞM…

Không thể có Viện  “rỏm”, nên ngoài bìa chỉ đề trống không : 

NGÔN NGỮ HỌC VIÊT NAM.    Một thủ đoạn lộn sòng khá tinh vi !!!

Viện không thể rởm vì là cơ quan Nhà nước.

Vậy thì TMCS mạnh dạn khẳng định “Đây là Từ điển “rỏm” !

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s