Thư viện

Đỗ Anh Thơ : Bài đăng lại nhân ngày giỗ Tổ (5/4 AL ) : Cây Vông nhà thờ hay là cây “Xư” của Trang Tử

           Tôi viết những dòng hồi ức này đúng vào dịp ngày giỗ tổ của họ tôi (5/4 âm lịch) năm Canh Dần 2010 này.

Nhà thờ họ tôi xây dựng từ năm 1940-42, gồm thượng điện, trung điện và bái đường (nhà làm lễ cúng). Bái đường cũ đã bị các cụ trong họ tôi dỡ, đem bán đi sau cải cách ruộng đất, vì sợ mang tiếng là dòng họ phong kiến, lúc tôi còn ở Trung Quốc, chỉ còn lại thượng và trung điện. Năm 1992, quyên góp được một ít tiền của bà con trong họ ở Hà Nội, tôi cùng với người em họ là Nguyễn Đức Uẩn, đại tá quân đội, về trùng tu lại. Nhà bái đường mới, cột được đúc bằng bê tông, chứ không phải bằng lim như khi xưa, dỡ từ nhà thờ cụ Tặng (tức Nguyễn Đức Tân- bố cụ Nguyễn Đức Đôn) ở dưới làng đưa lên, năm 1942. Lúc đó vì nó quá thấp nên đã được xây gạch kê cao cột thêm khoảng 1 mét. Nay làm lại, theo ký ức chúng tôi. Nó có vẻ như vẫn mang dáng dấp như xưa.

Khi về cùng Uẩn và các chú trong họ trùng tu, tôi đã đi quan sát một vòng, thả hồn trở về thuở ấu thơ, 50 năm trước, để phục chế lại như nguyên mẫu những gì của cha ông.

Tôi trở về với ký ức của một thằng bé đầu to quá cỡ, đẻ thiếu tháng, ốm yếu và rất bướng bỉnh, nhưng lại rất sợ một ông cụ trong họ là tú tài Nguyễn Đức Đồng, anh cụ Nguyễn Đức Đôn, ông nội của tiến sĩ văn học Anh, Nguyễn Đức Nam. Vì thế, cha tôi thường chế tôi với mấy câu thơ:

Đầu to chạng vạng,
Mặc áo loang khoang.
Khi đi về làng,
Thì hãi[1] ông cụ.

Tuy vậy, khoảng năm 40 hay 41, khi cụ Nguyễn Đức Đôn làm lễ rước sắc phong, tôi đã được ngồi trên xe kéo, dưới chân cụ Đồng, hình như từ Vinh, vinh quy về quê.

Đến lúc trùng tu, mặc dù có nhiều người muốn dùng câu đối bằng chữ quốc ngữ, nhưng tôi cương quyết phản đối. Lý luận của tôi là chữ Hán không phải của riêng người Tàu, mà là của nhiều dân tộc khác như Triều Tiên, Nhật, Việt Nam… Việt Nam ta đã để mất bản quyền. Tôi đã đọc đi đọc lại lại những câu chữ Hán còn sót ở thượng điện, như

Kỳ lai viễn hĩ bằng tiên trạch 其来 远 奕 凭 先 泽

Vĩnh viết kiên hồ di hậu nhân 永 曰 坚 乎 遗 后 人[2]

và câu Dịch dịch tẩm miếu 奕  奕 寝 庙[3], tôi đã nghe các bậc cao niên kể về xuất xứ dòng họ… để sáng tạo nên các câu đối mới chữ Hán cho tam quan, cuốn thư và bái đường, những dòng như sau:

Nguyễn Đức tộc tẩm miếu (阮 德族 寝 庙)[4]

Nguyễn khởi tại nguyên trinh cựu phân tam lĩnh

Đức tàng ư tâm chí kim hợp nhất nguyên

阮 起 在元 真 旧 分 三 岭

德 藏于心 志 今 合 一源[5]

Bằng tiên di hậu

凭 先遗 后[6]

Bái tổ đường đạo kinh bang tế thế
Khuyến học sảnh đàm văn nghệ từ chương
Minh minh đức khả đồng trị quốc
Tiên tiên trạch năng cộng tề gia.
拜 祖 堂 道 经 邦 际 世
劝 学 厅 谈 文 艺 辞 章
明  明 德 可 同治 国
先 先 泽 能 共 齐 家[7]

Nhà thờ họ tôi vốn được cử nhân Quang lộc tự thiếu khanh là Nguyễn Đức Đôn (chú họ) cùng cha tôi, khóa sinh hỏng tam trường là Nguyễn Đức Tụ (cháu) chủ trương  hợp tự. Cụ Đôn đã bất chấp ý kiến của nhiều bậc cha anh, dỡ nhà thờ chi họ mình (chi 3) ở dưới làng về làm nhà thờ mới, trên nền nhà cũ của cụ tổ. Công lao và viễn kiến đó của cụ đã để lại cho muôn đời con cháu trong họ.

Trước nhà thờ có một cây vông to, dễ thường đến nay đã gần trăm tuổi. Thân nó đầy gai, thân xốp, gỗ không có giá trị làm đồ mộc hay đun nấu gì. Có lẽ nó như cây của Trang tử, 神 木 不 材[8], chính vì thế mà nó mới sống lâu, mới thành cây thiêng trước các đền chùa, nhà thờ quê tôi.

Lúc tôi khoảng lên bốn lên năm, tức là lúc nhà thờ chưa hợp tự, được cha tôi đèo từ quê ngoại về quê nội cúng giỗ, tôi thấy nó đã lớn gần như cây vông trước sân trường huyện.

Vông có lẽ là tên tiếng Việt. Ở Trung Quốc tôi chưa từng gặp cây này, có thể là do mình chưa đi nhiều nơi nên không biết chăng? Tôi cũng chưa biết viết tên cây này bằng chữ Hán như thế nào! Nếu phải viết, tôi đành phải ghép bộ mộc với chữ vong (亡= mất)  hoặc vong (忘 = quên) mà thôi.

Cây vông nằm trực chỉ với cổng nhà thờ, nhưng có lẽ cha tôi và cụ Đôn vốn không tin theo thuyết phong thủy, nên không tránh.

Những năm 50 đến 60 thân nó đã rỗng ruột, trẻ con chăn trâu đã chơi trốn tìm trong đó. Nhưng khoảng gần hai  chục năm trở lai đây, tự nhiên thân nó phát triển đầy trở lại, nay đã tràn trề sức sống.

Các cháu tôi còn mê tín kể rằng, có lần một người đi cày ruộng liền kề đã chặt đi một cành của nó sà xuống đất nhà mình, về nhà liền bị ốm chết. Tôi không tin nó thiêng đến thế. Nhưng tôi vẫn cứ băn khoăn về một ngữ nghĩa, cái tên “vông”. Nó là “vong” là quên hay là mất gốc chăng?

Bởi vì ngày nay hầu hết những người trong họ tôi ly hương ra đi, lập nghiệp, gọi là có chút thành đạt, ở Hà Nội, Sài Gòn hay ở nước ngoài, văn nghiệp dù có lớn, nhưng  không ai có chức quyền gì. Họ có tâm trạng nhớ quê da diết, nhưng ít ai trước khi nhắm mắt, dặn con cháu đưa nắm tro về quê, trừ nhà thơ Thúy Bắc. Đến như tôi, cũng muốn nằm lại cạnh hòn đá mồ côi ở Đồng Mô Ba Vì, như một kẻ bất đắc chí. Họ có phải vì xa ngái hay là vì những nguyên nhân nào khác, buồn vui sau những năm tháng ở quê nhà?

…Mấy ngày nay, trước bái đường nhà thờ họ tôi, để chuẩn bị giỗ tổ, các con cháu trong họ tôi đang dựng một nhà mái tôn như là để khoe cái giàu sang, hiện đại, để đón con cháu, lũ lượt ô tô về với giỗ tổ. Thế nhưng, bên ngoài cái hào nhoáng đó, gia đình, dòng họ tôi, còn có giữ được truyền thống, hiếu học “弃 名 重 才”[9], với những sợi dây đoàn kết, hiếu thuận, cũng như nhiều dòng họ khác, khắp đất nước nữa hay không?.

Nay tôi ngồi buồn ở nơi Sài Gòn xa xôi, tưởng nhớ đến ngày giỗ tổ mà buồn cho cây vông nhà thờ, cây “xư” của Trang Tử, chỉ vài năm một lần, chứng kiến ngày  được treo một lá cờ đại lên trên ngọn, con cháu đứa xênh xang mũ áo tế, đứa đánh trống, đánh cồng… đứa đọc văn… đứa đội mâm cỗ… lại có thêm dăm ba chiếc ô tô đời mới gọi là sang, khoe nhau chức học quan không lấy gì làm cao cho lắm với địa phương?

Ăn uống xong, họ lại ra đi, bỏ lại phía sau, vẫn là chiếc cày chìa vôi,với tiếng tắc rì giọng “cà có cuống cà có đuôi” với đói nghèo.

© 2010 Đỗ Anh Thơ

© 2010 talawas


[1] Nghĩa là sợ.

[2] Đây từ lâu đã là bằng chứng đất tổ xưa , hãy nói một cách kiên định rằng: phải để lại cho con cháu mai sau.

[3] Chữ trong Luận ngữ, nghĩa là miếu mạo nguy nga.

[4] Miếu thờ họ Nguyễn Đức.

[5] Nguyễn khởi từ đầu trung trinh (chiết tự 阮 có chữ 元 nguyên) xưa chia làm ba ngọn. Ám chỉ họ có ba chi, còn có ý nói họ từ phía làng Phượng Lịch (tây bắc thuộc quẻ Càn) đến lập cư.

Đức có chứa chữ tâm (chiết tự, dưới chữ đức có chữ tâm) nay hợp lại một nguồn. Ám chỉ sự hợp tự họ.

[6] Rút gọn câu đối cũ ở thượng điện, nghĩa là bằng chứng xưa, để lại đời sau.

[7] Nhà bái tổ còn là nơi bàn chuyện làm ăn kinh tế/Là nhà khuyến học, là nơi bàn luận văn chương/Biết làm rạng cái đức sáng của tổ tiên thì có thể cùng nhau quản lý tốt đất nước/Biết đặt lợi ích của cha anh dòng họ trên thì có thể làm yên ấm cửa nhà.

Các chữ “minh đức, trị quốc, tề gia’ là lấy trong sách Đại học (tề gia trị quốc bình thiên hạ) của Nho giáo, tác giả chỉ nhấn mạnh thêm nhất là vế sau.

[8] Thần mộc bất tài, nghĩa là cây thần không dùng làm được đồ dùng gì. Đây là một chương trong Trí tuệ Trang tử của tác giả.

[9] Khí danh trọng tài – Bỏ danh trọng tài.

Phản hồi

6 phản hồi (bài “Đỗ Anh Thơ – Cây vông nhà thờ hay cây “xư” của Trang Tử”)

  1. Trần Văn Tích nói:

    Cây vông của tác giả Đỗ Anh Thơ thuộc loại cây to, thân có gai, lá hình quả tim, mép có răng cưa, đầu lá nhọn, dài lối 20-30 cm, rộng chừng 15-20 cm. Hoa đực màu đỏ hay đỏ sậm, mang bông nhiều hoa (multiflores), hoa cái là hoa đơn (fleurs isolées). Quả hình nang, cứng, gồm lối 12 mảnh hình múi (coques), cao 5 cm, rộng 10 cm. Tên khoa học của nó là Hura crepitans L., họ Euphorbiaceae. Nó gốc vùng nhiệt đới Nam Mỹ. Tính từ crepitans mô tả tình trạng trái vông khi chín và khô thì bật vỡ rất mạnh, gần như nổ kêu một tiếng bép, hạt bên trong bị phóng đi khá xa. Hạt cây vông này có chứa tinh dầu mang tính tả dược, là một thứ thuốc hạ, gây tiêu chảy. Các tên khác là : điệp tây, vông đồng, bã đậu tây (gọi thế vì trong Đông y, vị bã đậu là một vị thuốc xổ quen thuộc). Tiếng Pháp gọi cây này là sablier, pet du diable, noyer d’Amérique.
    Vông thực ra có nhiều loại.
    Cây vông nem là cây Erythrina indica Lamk. thuộc họ Papilionaceae. Lá gồm ba lá chét, lá chét giữa rộng hơn là dài, lá gần như có hình quả thận, rụng vào mùa mưa; hoa màu đỏ tươi thắm (rouge écarlate), tụ thành 1-3 chùm dầy. Quả giáp (gousse) dài 15-30 cm, đen, hơi hẹp lại ở gữa các hạt. Mỗi quả có từ 5-8 hạt, hình quả thận (réniformes), đỏ hay nâu, tễ rộng, mang một vành trắng. Tên tiếng Pháp : arbre corail.
    Cây vông không họ hàng bà con gì với cây ngô đồng hết. Cây ngô đồng có tán lá toả ra như dù che, lá xẻ thùy chân vịt, bề ngang lá tới 25 cm, có 3-5 thùy hình tam giác, cuống lá dài hơn phiến lá. Hoa nhỏ màu vàng nhạt. Quả có 5 đại, với 2 hạt hình trứng. Ngô đồng có nhiều tên khoa học : Sterculia platanifolia L., Firmiana simplex Wight., Paulownia imperialis L., Aleurites fordii Hemssley. Do đó ngô đồng thuộc nhiều họ thực vật. Cây ngô đồng là cây của Chinh phụ ngâm : Sương như búa bổ mòn gốc liễu / Tuyết nhường cưa xẻ héo cành ngô; của Truyện Kiều : Nửa năm hơi tiếng vừa quen /Sân ngô cành biếc đã chen lá vàng; Non quê thuần vược bén mùi / Giếng vàng đã rụng một vài lá ngô; của Bích câu kỳ ngộ :Thoi đưa ngày tháng sương sao / Ngô vừa rụng lá lại đào nẩy hoa; của Quan Âm Thị Kính : Lá ngô lần điểm đốt tay /Thị Mầu đã đủ đến ngày sinh trai. Tất nhiên nó còn xuất hiện trong thơ văn Hán Nôm đời Hồng Đức hay thơ Tương An Quận Vương, Nguyễn Thông v.v..
    Chữ nôm viết chữ vông với bộ thụ bên trái và chữ phong (cây phong, có thảo đầu) bên phải hoặc chữ bồng (tươi tốt, cũng với thảo đầu) bên phải chứ không phải với chữ vong.

  2. Đỗ Anh Thơ nói:

    Tôi rất dốt môn thực vật học nhưng khẳng định rằng cây vông trong hoài niệm cuả tôi hình như là một loại cây di thực. Trước CM tháng 8 nó thường có ở các sân trường, to hơn cây phượng tây nhiều. Các cụ gọi đây là cây vông tây, lá thường xanh, toả bóng khắp sân trường. Tôi không còn nhớ hoa nó ra sao nhưng không đúng là cây ngô đồng (梧 桐)ở Huế. Quả nó khô rụng xuống có khoảng 6 kía trông như một cái bánh xe, nở ra các hạt to bằng đồng xu, chúng tôi thường dùng để đánh đáo. Những cái nửa múi vỏ của nó có những cái gai cứng đen, trông như mỏ chim vẹt, chúng tôi thường dùng để thi chọi, gần như chọi nhị hoa phượng ( chưa nở).Phải bẻ thật mạnh thì nó mới gãy.

  3. Tri Ngộ nói:

    có bài về cây ngô đồng trong link sau:
    http://netcodo.com.vn/chuyende/2005/06/89073/

  4. Phùng Tường Vân nói:

    Còn Cây Vông Này, Chắc Là Cây Vông Cộng Sản .

    Tôi nghe nói đã từng có một thứ cỏ mà sự sinh sôi nẩy nở của nó có nguyên nhân xa gần với hoạt động của Đảng Cộng Sản ở xứ ta, nên được dân địa phương gọi là “cỏ cộng sản”; nay nhân một câu chuyện quê hương, Đỗ Tiên Sinh kể chuyện ngôi tổ đình của dòng họ mình, có nhắc đến một cây vông, nhưng xem “hình tích” mà Đỗ Quân mô tả thì chưa vị nào quyết được nó là loại vông nào, tôi xin thuật một giai thoại về một loại vông mà hoàn cảnh của câu chuyện liên quan sao mà nó giống hệt cái lối phô trương, lố bịch, dốt nát của các quan cộng sản ngày nay, nên nghĩ nó chắc là “Cây Vông Cộng Sản” quá !

    “Vịnh cây vông
    Ra làm quan, Nguyễn Công Trứ (1778-1858) rất bực mình, khó chịu và khinh bỉ những kẻ bất tài, vô hạnh mà ăn trên ngồi trốc, chỉ biết một mục đích là vinh thân phì gia, nạo vét túi lương dân và ăn cắp công sản. Ông cũng ghét độc những thói xu nịnh, lòn cúi của những quan chức thuộc hạ. Một lần, trong triều có viên quan đại thần mở tiệc mừng con thi đỗ cử nhân. Tiệc đông đủ quan khách, và cả những văn nhân tài tử. Tình cờ trước sân nhà viên quan, có một cây vông trổ hoa. Có người nêu ý là làm thơ vịnh cây vông cho vui. Nêu như vậy là dụng tâm tán tụng chủ nhân. Cây trổ hoa thì khác gì người thi đỗ. Trời đã ban lộc, ban phúc cho quan đại thần. Họ ép Nguyễn Công Trứ làm theo đầu đề ấy. Ông không từ chối mà ứng khẩu ngay:

    Biền, nam, khởi tử (*) chẳng vun trồng
    Cao lớn làm chi những thứ vông
    Tuổi tác càng già, già xốp xáp
    Ruột gan không thấy thấy gai chông
    Ra tài lương đống không nên mặt
    Dựa chốn phiên ly chút đỡ lòng
    Đã biết nòi nào thì giống nấy
    Khen cho rứa cũng trổ ra bông!

     

    Bài thơ như tát vào mặt chủ nhân. Quan đại thần tím mặt không biết xử trí thế nào. Quan khách ngồi quanh đó cũng sượng sùng.”
    __________
    (*)Những giống cây quý.

  5. Trung Nu Hoang nói:

    @ Dinh Le (DL) 16/05/2010:
    ..”Cây vông này người ta còn gọi là vông nem tức là người ta lấy lá của nó để gói nem.
    Cây vông mọc hoang ngoài đồng thì được gọi là cây vông đồng, cây nhỏ và có gai mọc dày hơn vông nhà…” (quote).
    Vông NEM cây nhỏ, lá mỏng, mềm thường dùng gói nem, chứ không thể là cây vông tác giả mô tả trong bài viết .. “” một cây vông to, dễ thường đến nay đã gần trăm tuổi. Thân nó đầy gai, thân xốp, gỗ không có giá trị làm đồ mộc hay đun nấu gì.”” . Theo tôi, đó chính là cây vông ĐỒNG. Hình như bác DL đã nói ngược lại giữa 2 cây này.
    Tôi cũng nghe / biết trong văn học Trung Hoa, cây đó được gọi là “ngô đồng” như bác DL đã nói trong PH với 2 câu thơ khá nổi tiếng: ” Ngô đồng nhất diệp lạc, Thiên hạ cộng tri thu”.

Advertisements

Đỗ Anh Thơ : Cuối đời, nhặt truyện cũ đăng lại : A Páo và bầy rắn thần

 Trên lưng chừng núi Mã Pha Bản Séo Xìn có một gốc dẻ cụt ngọn. Nó như cột mốc chốt giữa một lối mòn, dốc đá lởm chởm. Những người sống trên cao, hoặc ở những bản bên cạnh, không thể không dắt ngựa đi qua lối này để về nhà. Nhưng dưới chân đèo, bao giờ cũng vậy, họ dừng ngựa rợn tóc gáy, chần chừ nhìn lên núi, đôi mắt xoáy đăm đăm vào cây dẻ cụt ngọn. Khi thì nó như một bà già bế đứa con nằm sõng xoài trên tay, khi lại như một con trăn khổng lồ đang rướn cao cổ nuốt một con ngựa lạc đàn. Em bé hình như mới bị ma xó bắt đi và bà mẹ đang rũ rượi gọi hồn.

Sườn núi phía sau cây dẻ có một khoảng rừng rậm. Cây mọc âm u lên tới tận đỉnh Mã Pha, quanh năm sương mù che phủ. Ở đó có một cái lán xiêu vẹo của ông già Páo sống độc thân mà dân quanh vùng quen gọi ông là ông già Rắn. Các già làng thường thầm thì với nhau rằng tổ tiên của già Páo họ Giàng, từ Tàu chạy loạn sang đây có lẽ cũng đã đến bốn năm đời.

Lúc trẻ Páo mồ côi cha mẹ rất sớm. Anh yêu A Mỵ con gái Phìa Mú, một nhà giàu nhất bản. Anh thường vác khèn lên núi phía sau nhà cô, chính chỗ gốc dẻ cụt hiên nay, thổi réo rắt những bản tình ca. Còn cô gái trong nhà dệt thổ cẩm, thỉnh thoảng lại dừng thoi, kéo tấm khăn trùm đầu lau nước mắt. Họ tha thiết yêu nhau nhưng vì Páo quá nghèo, không nuôi nổi một con lợn để nộp cheo, nói gì tới giết trâu bò làm cỗ cưới. Một lần Mỵ bỏ nhà trốn theo Páo. Họ băng rừng suốt mấy ngày đường nhưng rồi cuối cùng Phìa Mú cũng tìm được. Lão cột con gái vào gốc cây, lúc này còn là một cây dẻ tơ đánh cho thâm tím mặt mày. Tháng sau, biết Mỵ có thai, ông dời nhà đi sang bản khác và gả Mỵ cho Phìa Lều, là bạn già của lão để làm thiếp.

Từ đó Páo như người không hồn. Chiều chiều anh vẫn mang sáo ra gốc dẻ để thổi rồi cuối cùng anh dựng lều ở đấy luôn. Để giải sầu, anh đã làm bạn với thuốc phiện và sống xa lánh mọi người.

Cứ thế năm tháng đi qua, củ mài, ngô hoang, hoa anh túc trong rừng giúp Páo kéo dài cuộc sống… để mà đêm đêm sau khi đã tỉnh thuốc, anh lại mang khèn ra thổi những điệu khèn réo rắt nhớ thương:

“Amỵ ơi! Em là con nai rừng lạc đàn.

Anh là dòng suối mênh mang…”

Không nhớ rõ bao nhiêu mùa rẫy đã đi qua. Mọi người đã quên như không có anh trên đời này nữa. Anh đang tự giết mình trong sầu thương và khói thuốc phiện. Cho đến một đêm hè mưa gió, có một ông già người Mán vừa đi đến đây thì cả người và ngựa đều kiệt sức. Lên cơn đau bụng dữ dội, buộc ông phải bò lết leo lên nhà sàn của Páo. Lách cánh cửa, liếc nhìn vào nhà định xin ngủ nhờ thì người khách qua đường bỗng kêu lên một tiếng, ngã và ngất xỉu. Páo lờ đờ ngồi dậy, khua ngọn đuốc nhìn ra, thấy một cụ già đang nằm sõng xoài giữa trời mưa. Páo vội vực cụ vào nhà.

Cụ già ôm bụng rên quằn quại. Lát sau vừa nôn vừa đi tả. Páo chậm rãi đến bên bàn đèn xái thuốc phiện hòa với nước, cạy miệng cụ đổ vào. Xong, anh ta cho thêm củi và đặt cụ già bên cạnh bếp lửa.

Anh như quên hẳn có người lạ, quay về với chiếc bàn đèn. Ngoài trời mưa càng to. Một tiếng sét nổ đinh tai. Anh rung mình ớn lạnh… và cứ thế anh rít liên hồi hết điếu này đến điếu khác…

Nửa đêm, cụ già lúc này đã hết đau, mở hé mắt ra nhìn. Vẫn là cái cảnh lúc nãy đã làm cụ ngất đi. Trong ánh lửa chập chờn, có đến gần một chục con rắn hổ mang, cạp nong, hổ lửa… treo đuôi lên rui nhà và buông cái đầu xung quanh người Páo. Chúng há hốc miệng, đớp lấy những làn khói. Có con còn thè cái lưỡi xanh lè ra, liếm đi liếm lại đĩa xái thuốc phiện.

Cụ già nằm im không dám động đậy, gần sáng khi cơn mưa đã tạnh, liếc thấy Páo ngủ say như chết, những con rắn đều đã khoanh tròn lại, con ở trên xà nhà, con nằm trên đùi, con yên giấc trên cổ Páo, cụ già run bần bật bò xuống cầu thang. Con ngựa của cụ cột dưới gốc cây biến đâu mất. Còn ngọn dẻ thì đã bị sét đánh chẻ đôi ngọn. Mặc cho trời tối đen và dốc đá trơn như mỡ, cụ cứ thế mà bò mà lăn xuống chân núi, tìm vào nhà một người thổ, miệng nói líu nhíu như bị ma ám rồi lại ngất đi. Mãi mấy ngày sau cụ mới hoàn hồn. Cụ đem chuyện kể cho họ nghe. Từ đó, một đồn mười, mười đồn trăm rằng nhà Páo nuôi một bầy rắn thần. Ai ai cũng sợ. Tuy nhiên, có một lần, một người trong bản bị tả lỵ thầy mo cúng tế mãi đành bó tay. Người nhà đã đi đến chuyện bó chiếu đem đi chôn, thì người con trai chợt nhớ tới chuyện ông già người Mán kể ngày nọ, đánh bạo đến nhà Páo xin ít xái thuốc phiện của rắn thần. Và thế là bố anh đã được cứu sống. Từ đó mỗi khi có người trong vùng bị bạo bệnh, họ lại liền đến cầu cứu Páo. Không hiếm người vì thế cũng được chứng kiến cảnh bầy rắn chầu bên chiếc bàn đèn của Páo. Có khi họ thấy cả cảnh Páo thổi kèn, còn bầy rắn lắc la lắc lư đầu… múa theo. Múa hát chán, Páo ôm lấy con rắn chúa, khóc sướt mướt… miệng luôn mồm gọi Amy. Đàn rắn lúc đó như muốn chia sẻ nỗi buồn cùng với chủ, rúc đầu vào tay áo anh và nằm im, mặc cho khói thuốc phiện vẫn phảng phất thơm lừng.

Cảnh đó dân bản Séo Sìn dần rồi cũng quen đi. Họ không còn sợ như trước nữa. Mà thực ra Páo và đàn rắn có làm hại ai bao giờ! Đâu có độc ác như bọn phìa tạo và lính Tây, lính Nhật. Chúng thường chặt đầu Việt minh không ghê tay rồi treo lủng lẳng trên cành cụt cây dẻ…

Cách mạng tháng Tám nổi lên. Mặc dù lúc này đã trở thành ông già, nhưng Páo như người chết sống lại, cùng hòa vào dòng người biểu tình trong bản. Có buổi liên hoan văn nghệ. Páo còn cuốn hai ba chú rắn quanh cổ, đi diễn trò văn nghệ. Ông thổi bài “Sơn la âm u”, còn bầy rắn banh cái mang ra… lắc lư múa. Trẻ em vỗ tay hoan hô, sán lại gần xem cho rõ, quên cả sợ.

Bọn thực dân Pháp nhảy dù xuống Bắc Cạn, Páo cùng dân bản trốn vào rừng. Một tiểu đội lính lên đường, sau khi đốt xong chiếc nhà sàn của Páo, liền đưa rượu thịt và những thứ vừa cướp được bày ra khoảnh đất dưới gốc dẻ. Quan và lính ăn uống no nê, say bí tỉ rồi lăn ra ngủ. Sáng ra một toán lính khác đi qua mới phát hiện ra cả tiểu đội này chết hết. Đứa nào mặt mũi cũng tím bầm. Chúng hò nhau khiêng xác xuống núi.

Chiến dịch Cao Bắc Lạng thành công. Nhân dân trở về bản cũ, trong đó có Páo. Bà con dựng lại cho Páo nhà sàn khác. Đàn rắn thần lại tụ tập trở về.

… Một buổi chiều, có một người đàn bà hơi luống tuổi dắt một chú bé chừng 15, 16, tay chân vạm vỡ như một thanh niên, họ tìm đến bản Sèo Xín. Bà đứng tần ngần nhìn cây dẻ cụt, nhìn túp nhà sàn, nét mặt buồn buồn. Bà nhìn lên đỉnh núi rồi lại trông xuống chân đèo. Ráng vàng đã đổ sau rừng mờ mờ ảo ảo. Miệng bà lẩm bẩm:

– Đúng là chỗ này, không sai!

Chú bé thì đang mải tìm hạt dẻ rụng quanh gốc cây. Bỗng có tiếng khèn từ căn nhà sàn vang lên. Người đàn bà cuống quýt:

– Này, A Cầm, con có nghe tiếng khèn không? Đúng là tiếng khèn của cha con đó! Rồi không kịp nghe đáp lại, bà chạy sấp ngửa leo lên nhà sàn. Páo đang mơ màng với khói thuốc phiện và luôn mồm hát:

“A Mỵ ơi em là con nai lạc đàn,

Anh như dòng suối mêng mang.

Nước kia vượt ghềnh thác,

Tìm dấu chân nai vàng.

Tìm ngực em nõn nàng,

Cho nai kia hết khát

Cho em băng suối ngang

Tránh nanh vuốt hổ dữ…”

Páo vừa hát vừa gào. Đàn rắn thì rướn cao cổ, lắc la lắc lư như gõ nhịp. Người đàn bà đứng sững giữa sàn nhà đến mấy phút, rồi chạy quỳ xuống bên bàn đèn:

– A lui Páo ơi!

Páo nghe tiếng gọi từ từ mở mắt, tưởng như từ cõi chết xa xăm trở về, và khi đã nhận ra Amỵ thật, ông khóc òa… như một đứa trẻ. Đàn rắn đều đã lao lên xà nhà, cuộn tròn lại, miệng phun phì phì dọa nạt…

Mấy ngày sau A Mỵ mới kể cho Páo biết rằng, Phìa Lều đã chạy theo Tây và bọn Vàng Pao, Mỵ mới trốn được, vội đưa con trở về đây tìm Páo.

Từ đó, Páo nghe lời Mỵ, năng ra suối tắm rửa. Ông cũng giảm bớt thuốc phiện. Ngày ngày ông thường cùng với A Cầm đưa chó vào rừng săn thú và đào củ mài.

Những lúc vắng mặt vợ, ông mới dám đưa bàn đèn ra. Đàn rắn lại tụ tập về, nhưng chúng trông lờ đờ uể oải hẳn, không lắc lư múa nữa mà há miểng ra đớp liên tục khói thuốc…

Mấy tháng sau, một đêm trời lại nổi mưa to, sấm chớp nổi đùng đùng. Nửa đêm, khi ở chái bên A Cầm đã ngủ say, Páo cuồng nhiệt ghì A Mỵ vào lòng như thời còn son trẻ. Hai người cởi hết áo quần, lăn tròn giống như đôi rắn. Bất giác, Páo nhìn lên mái nhà, thấy một đôi mắt rắn do ánh lửa phản chiếu trông đỏ lừ như máu. Nhưng nỗi đam mê khao khát khiến Páo mặc cho bếp lửa tí tách tàn, không thèm dậy thêm củi…

Mãi tới khi mặt trời đã gần đứng bóng, Páo mới thức dậy. Páo thấy A Mỵ lõa lồ nằm co quắp bên cạnh ông, người lạnh giá. Páo ôm lấy xác vợ thì con rắn chúa từ chỗ kín của bà từ từ bò ra, lừ mắt nhìn ông. Nó phóng lên xà nhà, trong khi Páo mặc quần áo, tìm thanh mã tấu…

Lời cuối chuyện: Tôi tình cờ nghe chuyện về Giàng A Páo nhân một chuyến đi miền núi để tìm một ít cao hổ cốt, mật gấu và mật ong rừng dùng cho tuổi già. Và tôi đã đến bản Sèo Xìn, chỗ cây dẻ cụt ngọn, ở đây tôi gặp một trại nuôi rắn. Người bác sĩ chuyên gia về rắn độc, không ai khác chính là A Cầm, còn Giàng A Páo đã mất cách đây mấy năm. Ông xác nhận chuyện trên là có thật.

Rắn của ông, một số loài được nuôi trong hang có lưới sắt. Riêng giống rắn chúa hiếm, rất độc, có họ hàng với hổ mang mà ông gọi bằng tên là tinh là “co-bra…” gì gì đó tôi quên mất, ông vẫn để sống tự nhiên trong rừng. Mỗi lần lấy nọc, ông lại dụ chúng về bằng khói thuốc phiện. Ông có biếu tôi một lọ rượu nhỏ chế bằng nọc của nó. Nghe ông nói, một ml nọc rắn này xuất khẩu giá tới mấy trăm đô la. Nó được bào chế thành thuốc có thể chữa khỏi bệnh bán thân bất toại, do tai biến mạch máu não, công hiệu hơn cả mật gấu, cao hổ cốt… mà tôi đang tìm.

Trần Hữu Thung : Thăm lúa ( do các dịch giả TMCS…dịch sang Pháp, Anh, Hán

Dịch :

TMCS:   Anh  –   Hán

Trịnh Phúc Nguyên: Pháp

Phan Hoàng Mạnh : Pháp

THĂM LÚA                             

Trần Hữu Thung (1923-1999)      

Mặt trời càng lên tỏ            

Bông lúa chín thêm vàng   

Sương treo đầu ngọn gió  

Sương lại càng long lanh.

Bay vút tận trời xanh      

Chiền chiện cao cùng hót

Tiếng chim nghe thánh thót

Văng vẳng khắp cánh đồng 

Đứng chống cuốc em trông 

Em thấy lòng khấp khởi  

Bởi vì em nhớ lại        

Một buổi sớm mai ri   

Anh tình nguyện ra đi  

Chiền chiện cao cùng hót  

Lúa cũng vừa sẫm hột  

Em tiễn anh lên đường 

Chiếc xắc mây anh mang  

Anh:  TMCS

VISIT THE RICE-FIELD

Poem by Trần Hữu Thung – Translation by TMCS

The sun rose up higher and higher

The yellow of ripening rice ears became darker and darker.

Swinging in the wind,

The dew became more and more sparkling.

The skylarks took their flight

And sang together in the high sky.

The large field was resounded

With their melodious songs being so nice.

Standing there, leaning on the hoe, I saw…

I was very happy

To recall everything

That happened that morning… 

As a volunteer you started away

In high tune, the skylarks were singing together.

In the field, our rice  colour became darker. 

When I saw you off,

You went with a rattan bag on shoulder.

Hán -phiên âm, nghĩa:  TMCS

QUAN ĐẠO

(Trần Hữu Thung Thi- TMCS dịch)

Thái dương cánh  chiếu diệu     Mặt trời càng chiếu rọi

Thuỷ đạo cánh gia hoàng           Lúa càng thêm vàng

Sương lộ phong đầu động         Sương lay dộng đầu gió

Ảnh hình cánh thiểm quang       Hình bóng càng óng ánh

Bách linh điểu thướng thiên      Chiền chiện bay lên trời

Không bích khiếu liên miên       Trên không trung hót liên miên

Quần điểu du dương khiếu        Bày chim hót thánh thót

Âm thanh hưởng mãn điền        Tiếng vang khắp cánh đồng.

Ỷ sự thiếp quan khán                  Chống cuốc em đứng trông…

Tâm  trung cảm mãn hân            Lòng thiếp rộn niềm vui

Nhân hồi tưỏng quá khứ            Bởi vì em hồi tưởng

Vãng nhật nhất thanh thần         Ngày xưa một sớm mai

Quân tình nguyện thượng lộ     Anh tình nguyện lên đường

Bách điểu khiếu cao thanh        Chiền chiện cao giọng hót

Đạo lạp  tông hoàng sắc            Hạt lúa màu vàng nâu

Tống quân cha lưỡng hành       Tiễn anh, đôi ta cùng đi

 Quân đái nhất đằng nang          Anh mang một cái túi mây

Chữ Hán: TMCS

觀稻 

陳有椿詩 – 相梅居士譯 

太陽更照耀 

水稻更加黃

霜露風頭動 

影形更閃光 

百靈鳥上天 

空碧叫連綿 

群鳥悠揚叫

音聲響滿田

依鋤妾觀看

心中感滿欣 

因回想過去

往日一清晨

君情願上路

百鳥叫高聲

稻粒棕黃色

送君咱倆行 

君戴一藤囊

Pháp: Trịnh Phúc Nguyên

VISITE DES RIZIERES

Le soleil se lève de plus en plus clairement,

Les épis de riz mur deviennent plus jaunes,

La rosée se suspend au bout du vent,

Et devient encore plus scintillante.

S’envolant bien haut vers le bleu firmament,

Les alouettes chantent en choeur.

Les cris d’oiseaux harmonieusement modulés,

Se résonnent de loin,par dessus les champs.

M’appuyant sur la pioche, je regarde,

En mon coeur, je me réjouis

De ce matin- là,

comme ce matin-ci,

Òu tu t’es volontairement parti

Les alouettes chantent en choeur en haut,

Les épis de riz commencent à murir.

Je te reconduis en route;

Tu portes un sac de rotin,

Pháp: Phan Hoàng Mạnh

         VISITE AUX RIZIÈRES

Le soleil se levant devient de plus en plus brillant,

Les épis de riz mûr deviennent de plus en plus dorés.

Des gouttes de rosée se suspendant devant le vent,

Deviennent de plus en plus scintillantes.

Volant bien haut dans le ciel bleu,

Des alouettes chantent en choeur.

Les voix d’oiseaux résonnent mélodieusement

Et remplissent tout le vaste champ.

M’appuyant sur la pioche, je contemple

Et me sens toute enthousiasmée dans le coeur. 

C’est que je me souviens

D’un certain matin semblable…

Où tu t’es enrôlé volontaire…

Ce matin-là, chantaient aussi les alouettes en haut.

Les grains de riz commençaient à peser dans les épis…

Je te reconduisis dans ton départ.

Tu portais ta malle de rotin,

Đỗ Anh Thơ : Con chim chiền chiện gãy cánh (4)

Ông hoe Lý nhà cuối xóm vốn là một  nhạc sĩ chân đất , chuyên kéo đàn nhị. Ông rất mê giọng con chiền chiện cua Thinh. Ông bỏ ra mấy buổi trưa, vót nan làm cho lũ trẻ một cái lồng cực lớn . Đáy lồng rộng bằng một cái sàng gạo . Lồng cao hơn đỉnh đầu của cậu . Nó có ba cọc ,đóng ba miếng gỗ tròn rộng gần bằng miệng chén, cao thấp khác nhau. Lũ trẻ đem chim thả vào đó . Thinh bận học bài và chăm sóc cha ốm, nên cậu thường bảo Lộc và Vinh lấy đọt tre câu con cống dưới lỗ ngoài sân đất nện để cho chim ăn .Có khi  Lộc còn  tìm lỗ con cun cút quanh đường trước ngõ có rất nhiều. Tìm được lỗ rồi, cậu liền nằm xuống đừơng, thổi mạnh cho cát bay đi . Cun cun cút lộ ra, cậu liền bắt về bỏ lẫn với mối cánh . Nhưng hầu như chiền chiện chê mà bỏ lại. Trưa gió lào thổi mạnh, nóng như rang. Ông hoe Lý trải chiếu ngồi ngoài thềm, kéo đàn cho cha của Thinh nghe. Vốn là một danh y nổi tiếng , tính tình kiên nghị của xứ Trung kỳ, cụ Liên Xá đã từng không chịu đi khám bệnh cho quan huyện nhà khi chúng sai lính lệ đến gọi. Nay cụ đang ốm rất nặng, bụng đã trương rất to nhưng vẫn không một tiếng rên, vẫn đang tìm sách đọc , thay toa thuốc cho minh …Lúc này, chú chim gãy cánh đang vùi mình dưới cát, nghe tiếng đàn, bay  lên đậu trên cọc gỗ cao nhất và lại cất tiếng hót . Nó luyến đi luyến lại một điệu như đang dạy cho hai con, đậu ở hai cọc thấp …Chim con chỉ líu ríu trong hong, còn ông hoe Lý thì đã nhập tâm , phỏng theo làn điệu chim , sáng tác một bài ca mới . Cụ Liên Xá đựoc nghe tiếng nhac của bạn, được thằng con là Thinh một tay bóp chân , tay kia phe phẩy quat đã thiêm thiếp đi vào giấc ngủ giữa trưa hè .

Quyển sách thuốc bằng giấy gió, gáy bồi , với những trang chữ nho đầy dấu son ,đang theo gió quat lật từng trang . Thinh buồn ngủ ríu mắt , có lúc bỏ rơi cả quat. Cậu ta mơ tới những cánh diều, được phết bằng giấy bản với nhưa sắn thuyền ….

 

(còn nữa)

 

29/3/2018

 

Tại Bình Thạnh

 

 

 

Đỗ Anh Thơ : Con chiền chiện gãy cánh (3)

Hai ba tuần sau, một buổi chiều Thinh đang học bài thì nghe thấy một tiếng nổ to . Cậu chui vào gầm giường nấp và ngó nhìn ra: Một chiếc máy bay Nhật bốc lửa rồi rơi xuống Đồng Thoi , sau nhà cậu không xa. Cậu lao ra sân và thấy một đám lính Nhật kêu  ý ới chạy đến chiếc máy bay bị nạn . Quên cả sợ máy bay Mỹ, Thinh rủ thằng Lộc, thằng Vinh đi  xem.  Lính Nhật hô nhau dập tắt lửa và kéo ra một tên phi công đã cháy đen thui. Mùi thịt cháy khét lẹt. Chúng bỏ tên phi công xấu số lên cáng rồi khiêng về trang trại trong sân bạy. Thấy lũ trẻ chạy bám theo , chúng xì xồ quát , hăm dọa và xua đuổi. Thinh sợ xanh mắt , bèn kéo Lộc đi xem tổ chim chiền chiện mà cậu đã dấu ban.Nó chỉ cách đó mấy chục bước chân. Bụi cỏ đã bị sức nóng của lửa táp, héo rũ . Nhưng thật may , con chiền chiện gãy cánh vẫn đang ấp và hai chú chim non đã nở. Chim bố cánh chưa liền hẳn bị ba đứa trẻ vồ đươc. Chúng mang hai chú chim non,cái tổ và chim bố về nhà. Con chim mái không biết từ nãy đến giờ nấp ở đâu, bay lên trời kêu khóc, nỗi khổ mất chồng , mất con ….

Lũ trẻ lấy một cái đó rách thả chúng vào và không quên đổ cát xuống đáy đó cho chim bố nằm. Ba đứa phân công nhau , ngày ngày đi bắt cào cào, tìm mối cánh cho chim ăn . Chim non lớn lên nhanh trông thấy. Mấy tháng sau, Thinh có sáng kiến chắp thêm một cái đó nữa cho chúng bay nhaỷ. Con chim bố cánh đã liền , bay lên đỗ gần sát miệng đó và hót. Giọng nó thanh trong và đúng như tên chữ của nó là sơn ca, nó lánh lót, như tiếng suối ngàn, ngân vang, kiêu sa mà cao thượng , như khuyên ta đừng quen đánh giá ai đó từ vẻ ngoài, bằng bộ lông cái cánh.Mà thật vậy. Nhìn nó bé nhỏ , mốc xám, xấu xí , mà sao nó lại có cái giong hay đến vậy . Phải chăng nó là hiện thân cho cái bình dị , không phấn son  của những cô gái quê lam lũ nơi đồng cát đất nghèo ?

 

(còn nữa)

 

28/3/2018

 

Tại Bình Thạnh SG

ĐAT

 

 

Đỗ Anh Thơ : Con chim chiền chiện gãy cánh (2)

Chiền chiện trống đau đớn, sệ cái cánh gãy, lủi vào cỏ rậm. Ngày hôm sau nó thay chim mái ấp trứng để cho vợ đi tìm giun , con kiến càng…để ăn và nuôi chồng. Chim mái vốn bay không được cao nên chỉ quẩn quanh cạnh gò đất khiến cho thằng Thinh để ý. Bởi hôm đó cậu ta vừa được anh làm cho một cái sung cao su và đang đi tìm bắn giẽ giun . Thinh đã nhiều lần bắt gặp chiền chiên trống bên những mảnh đất  mới cày. Chiền chiện trống thương tìm giun cùng chim giẽ. Nhưng nhác thấy cậu từ xa, nó đã bay vút lên cao mà hót. Lần này, cậu gặp con mái . Nó chỉ bay đươc một quãng gần rồi sà xuống thửa ruộng bên cạnh . Bởi thế cậu mới phát hiện ra cái tổ và con chiền chiên trống đang ấp , ở dưới bụi cỏ um tùm đó. Con chim bị thương sợ hãi rời tổ lết đi  sang bui khác và giương đôi mắt tròn như van lơn cậu hãy tha cho con nó sắp chào đời. Thinh sờ vào mấy quả trứng nóng rồi nhẹ nhàng vuốt lai những cọng cỏ, rồi bỏ đi. Hình như cậu nhớ lại bài  thuộc lòng “Không nên phá tổ chim” trong sách quốc văn giáo khoa thư  mà cậu vừa mới học . Hay là cậu muốn chờ để bắt chim non ?.

(còn nữa)

25/3/2018

Tại Bình Thạnh