Thư viện

Hoàng Dung : Mùa tình chín

Em rụng xuống đời anh mùa tình chín

Nghe nồng nàn hương tóc gội đam mê

Từng ngón tay run rẩy giao thề

Đẩy cung bậc lên tận cùng nguyên thủy

HD

24/9/2017

Advertisements

Đỗ Anh Thơ : Truyện cực ngắn : Đắc đạo (*)

(*) Riêng tặng Hòa thượng Thích Thịt Chó  

        

Tại một ngôi chùa nọ trên Bắc Lý Sơn, có một ông sư, tu đã lâu năm. Sư suốt ngày ngồi trên chiếc bồ đoàn gõ mõ, tụng kinh, niệm phật. Sư không ăn uống gì. Dân làng mỗi ngày chỉ cần qua chú tiểu, tiếp tế lên núi cho sư đúng 49 hạt đỗ đỏ đã hầm chín .Đêm đến, đúng giờ tý,   chú tiểu bỏ vào miệng cho sư đang thiền định, rồi rút về trai phòng ngủ. Đợi cho chú tiểu đã ngáy vang như sấm, sư mới vỗ vào mông hai phát, phi xuống núi, vào một cái hang sâu, để …luyện “võ”…

Rồi đến một ngày, sư tuyên bố đã đắc đạo. Dân làng thi nhau góp củi , lập dàn thiêu cho sư mau siêu thoát.

Hôm đó, sư mặc áo vàng thêu kim tuyến , lộng lẫy, ngồi trên đàn cao…một tay chắp trước ngực, nhìn thật đúng là phật sống, đang sắp xả thân , cứu khô cho đời. Người ta đổ xăng, châm lửa. Củi khô cháy trước, rồi đến củi ướt gặp gió , cháy theo, ngọn lửa bốc lên rừng rực, bắt đầu bén lên áo sư. Dân làng quỳ xung quanh miệng không ngừng  tụng nam mô, cho sư mau về cõi niết bàn.

Bỗng trên dàn thiêu một cái bóng ,  như một con chim đại bang vàng lửa bay xuống rồi biến mất. Dân làng chỉ còn nghe vọng lại một câu

Đ.m! Nóng qúa! không chịu nổi,Qua không muốn sang Tây thiên nữa đâu!

….Mấy ngày sau dân làng mới tìm ra cái hang rậm rạp dưới núi . Trong đó đầỳ những xương chó với  mấy vò rượu còn đang gắn xi. Họ tìm chú tiểu, thì chú cũng đã biến đâu mất./.

26/8/ Quý Dậu tại SG

ĐAT

Trần Trọng Chiêm : Nằm viên cấp cứu-Vài dòng gửi bạn

Giọt mưa thu hắt qua khe cửa
Giật minh bình nước vơi quá nửa
Tay tê dại vết kim băng bó
Còn tay kia vơ vội smartphone
Type vài dòng gửi bạn
Liệu mùa thu nữa còn sang ?
                                     TTCh
Phản hồi:

Vài giọt mưa thu lọt qua khe cửa
Nhảy múa quanh bình nước đang còn một nửa
Ta gõ phim một tay, tay kia đang còn băng
Mùa thu sau, sau nữa…sẽ còn sang !
                                     TVK

Đỗ Anh Thơ : Truyện cực ngắn : Phóng sinh “chuột”

 

Docago nuôi khá nhiều chim, nhưng xung quanh nhà còn nhiều đất trống, nên ở đó có nhiều mèo hoang. Ban ngày chúng trốn trong các đống củi, dêm đến chúng tìm nhau, gọi tình, tranh nhau, đuổi theo nhau trên mái nhà, kêu thât dữ dằn, thảm thiết và cuối cùng là gào lên khoái lạc. Nỗi lo thứ nhất thường ngày của Docago là chúng rình bắt  chim của thầy để mừng buổi giao duyên cùng với trăng thanh và đất trời. Còn nỗi lo thứ hai ? Đó là chuột. Nhưng nhờ có mèo hoang , chuột cũng ít lai vãng, chỉ thỉnh thoảng, thầy thấy vợ phát hiện ra vài con chuột nhắt trốn trong tủ bếp.

Bà mua một cái bẫy, nướng miếng thịt thật thơm, làm mồi để nhử. Mỗi lần bắt được , bà lại mang ra bờ sông, cạnh chùa Diệu Pháp, để… phóng sinh. Bởi bà là phật tử, quanh năm ăn chay, không sát sinh bao giờ. Nhưng chỉ mấy tuần sau lại thấy con khác, hay chính nó trở về và phải tinh ý lắm mới biết nó hiện hữu. Có buổi sáng , thầy Đồ thấy nó bơi trong xô nước và bà Đồ lại vớt lên…lại đem phóng sinh.

Bà tin và giảng giải cho thầy rằng: đó cũng là một kiếp nạn luân hồi của con người .

Docago lắng tai nghe . Nhưng cái đầu “lú” của thầy vẫn chưa tin .Thầy lại mò lên thư viện tra cứu sách. thánh hiền. Thầy tìm ra truyên của vua Lê Thánh Tôn. Ngài đã từng phá án “chuột thành tinh” hóa ra con người .  nhờ dùng gương soi,  Té ra tinh của Chuột không có bóng như Người !!!

ĐAT

Tại Bình Thạnh SG

29/9/2017.

Đỗ Anh Thơ : Truyện cực ngắn : Thầy Đồ đau cái lưỡi

Ngày xưa . có một phú ông khi nhà giết lợn , hắn bảo đầy tớ luộc đem lên cho hắn món nào ngon nhất để hắn nhắm rựơu. Người đầy tớ mang lên cái lưỡi . Hắn khen ngon . Mấy hôm sau, nhà lại giết lợn , hắn lại bảo :

–        Mang lên món nào dở nhất.

Người đầy tớ vẫn mang lên cho hắn cái lưỡi…. Lão phú ông liền quát và lấy roi cặc bò dọa đánh tên đầy tớ trung thành kia nếu không nói cho hắn biết lý do tại sao. Và…như chúng ta đã biết, thầy trò họ đã giở lý sự cùn ra như thế nào .

Ngày nay, có một thầy Đồ, chỉ đủ nửa vẹm chữ nghĩa, chỉ quen thói đạo văn và nịnh bợ …tâng bốc bạn mình, ông này là vua thơ , ông kia là thiên tài nhạc sĩ, sáng tác ca trù nổi tiếng . Lão hòng nấp bóng họ, để làm ăn, mong có một chút danh hão, nhưng mà mãi vẫn chưa đươc.

Thế rồi, cái lưỡi lão vì phải uốn đi uốn lại nhiều lần, nên sưng vù ..thuốc men mãi không khỏi , phải ăn cháo cả tháng trời . Lão không còn có khả năng lý sự như tên đầy tớ kia , hoặcnhư khi lão ta còn chưa lẫn, như khi lão bàn về chữ “triết” như là hai kẻ sĩ đang đàm đạo để tìm ra chân lý, hay là những con người ngạo mạn, dùng miệng lưỡi để bắt bẻ nhau (*) (**)

ĐAT

Tại Bình Thạnh, SG

              (*) Chiết tự chữ triết cổ () và hiện nay ()

                  (**) Xin đọc thêm bài đã đăng trên mạng :

Đỗ Anh Thơ : Bàn thêm về chữ “ triết” () của Tầu

Đỗ Anh Thơ : Cuối đời, nhặt truyện cũ đăng lại (3) : Chiếc cối giã trầu của Mẹ

          Suốt ba tháng mùa đông cụ Giáo phải nằm liệt giường. Lưng cụ đau như dần, đôi bắp chân nhức buốt. Đêm đêm cụ thường nhờ đứa cháu gái duy nhất của mình là Nga Mi quấn cho hai sợi dây vải từ mắt cá chân lên tới đầu gối, cụ mới hết cái cảm giác kiến bò rân rân trong xương tủy, mãi mới thiếp đi được trong gió rét ẩm, mưa phùn.

Nhưng sáng dậy cụ lại thèm được ra quét cái sân đất để mà đứng tựa cán chổi, ngắm nhìn cây cau, khóm chuối trước nhà… Dễ thường dịp này chúng đã sắp chửa buồng. Cụ thèm được ngồi trước cửa để ngóng chừng cháu đi học về. Nó sẽ để nguyên cặp sách sau vai, chạy lại hai tay ôm choàng lấy bà mà nói đủ chuyện. Cuối cùng thế nào rồi nó cũng kêu đói bụng và cụ Giáo lại mắng yêu cháu một câu muôn thuở :

– Cha bố mi… Mi xấu đói chẳng khác gì cha mi ngày xưa. Đi học về chưa kịp buông sách đã vào bếp lục chạn, tìm cơm nguội.

Ba tháng ròng thỉnh thoảng trời hửng nắng, cụ mới dậy bắc được niêu cơm. Còn thường ngày phải nhờ cô Na hoặc các mẹ nhà bên cạnh sang giúp.

Bố Nga Mi đi bộ đội rồi bặt tin từ ngày nó còn nằm trong bụng mẹ. Thống nhất đất nước, cụ mới nhận được giấy báo tử. Nga Mi vừa lên bốn. Mẹ em định ở vậy, nhưng cụ Giáo không chịu. Chị đành đi bước nữa, không ngờ chị lại gặp cảnh “lỡ bước sang”, đò sông cách trở… Năm thì mười họa chị mới lén lút tạt về thăm con, thăm mẹ chồng cũ được một lần. Thường thường, sau khi cắm nén nhang lên bàn thờ cho chồng, chị lục dưới thúng lấy ra mấy chục cá nục. Chị xuống bếp nổi lửa lên kho kỹ để bà cháu ăn dần. Xong chị mới lên nhà trên ngồi bên cạnh giường cụ. Chị ôm Nga Mi vào lòng mà hôn. Còn hai bàn tay, chị quàng qua lưng con, nắn hết bắp chân này đến bắp chân khác cho mẹ chồng. Cụ Giáo nằm im vì dễ chịu hay để giấu đi nỗi xúc động. Mắt chị không dám nhìn con, cũng không dám nhìn mẹ chồng… mà chỉ thả vào khoảng không, chìm đắm trong sâu lắng, thăm thẳm buồn. Cả ba người cứ ngồi như thế, không nói với nhau một lời. Có lẽ, giữa họ những lời âu yếm nói nhiều đã cạn. Nỗi khổ đau, những giọt nước mắt thở than nhiều đã khô. Nên cái quý nhất, thiêng liêng nhất hiện tại, đó là sự im lặng, cảm thông. Cho tới khi mặt trời gần đứng bóng, chị mới vội vã ra về cho kịp chuyến đò ngang, kịp về nhà nấu bữa cơm trưa cho người chồng nghiện hút, nát rượu, hay ghen… và cho đứa con nhỏ tật nguyền.

… Dù mùa đông có mưa phùn rét mướt lâu đến mấy đi chăng nữa, thì rồi cũng phải nhường chỗ cho mùa xuân. Qua mấy đêm, trời nổi mưa rào, tiếng sấm như gõ chiêng, gõ trống thùng thình, gọi những ngọn lúa xuân nhảy múa. Lá của chúng xanh mơn mởn, phổng phao, vươn cao nhánh, như thiếu nữ đến tuổi dậy thì.

Đúng thời gian này, cụ Giáo như cất được gánh nặng trên lưng, trên ngực. Gần trưa, nắng vàng le lói, cụ ngồi dậy. Cụ lấy gạo nấu cơm. Rồi cụ bắc ghế ra sân ngồi ngóng cháu Nga Mi. Tự nhiên cụ thấy thèm trầu. Cụ lọ mọ sờ ngăn tủ tìm cái cối và tìm trầu cau mà bà bạn già vừa mới đưa cho hôm qua. Cụ bỏ trầu cau vào cối, kẹp vào đầu gối mà giã. Cụ vừa giã vừa đưa mắt nhìn hai con chào mào đang chuyền cành trên cây ổi, hót líu lo. Tai cụ nghe rõ cả tiếng vo ve của bầy ong đi lấy mật. Đầu óc cụ chưa bao giờ tỉnh táo đến như thế. Nhặt lá khi bỏ miệng trầu vào mồm, cụ cảm thấy ngực mình nóng ran, rạo rực như thời còn con gái mới về nhà chồng.

Rồi cụ giã cối trầu thứ hai. Bỗng Nga Mi từ đâu rón rén đến sau lưng ôm choàng lấy cổ bà mà thơm rối rít.

– Bà khỏe rồi, để cháu giã cho! Dễ thường bà chán trầu đã hơn tháng rồi đấy nhỉ? Bà ạ, cháu nghe thầy giáo bảo, ai nghiện cái gì khi ốm mà thèm trở lại là  sắp khỏi!

– Ừ, bà cũng sắp khỏi rồi. Bà phải sống để được ăn cỗ cưới của cháu chứ!

Bà cụ móm mém cười. Còn Nga Mi thì định đấm khẽ vào lưng bà như ngày nào, như đấm vào lưng chúng bạn khi bị chế. Nó giơ tay lên và hụt hẫng… khi chợt nhớ ra rằng lưng bà mình đã cong, lại đang đau. Nó nói chống chế:

– Bà ơi, chiếc cối giã trầu này làm bằng vỏ đạn do cha cháu từ Vĩnh Linh gửi về cho bà, ngày cháu chưa đẻ phải không?

– Ôi, cháu của tôi nhớ giỏi quá! Nếu không có cháu thì chắc bà đã quên mất rồi! Thôi, xuống bếp lấy cơm lên mà ăn.

– Dạ. Cháu đói bụng quá.

– Cha đẻ mi, mi xấu đói… y như là…

Người ta thường nghiệm ra rằng, người già chỉ như một ngọn đèn cạn dầu trước gió, vụt sáng lên khi sắp tắt. Đêm hôm đó, cụ Giáo ra đi… một cách thanh thản, nhẹ nhàng. Sáng ra, Nga Mi sờ tay bà thì đã lạnh giá. Nó gào lên, chạy sang nhà hàng xóm kêu cứu.

Chính quyền, các cụ phu lão, mẹ anh hùng liệt sĩ… đổ đến. Họ vén màn lên: da mặt cụ Giáo hồng hào, tóc cụ bạc phơ phơ như cước, tựa như một bà tiên đang ngủ say.

Buổi chiều khâm liệm cụ, Nga Mi khóc sưng húp cả mắt, ôm lấy quan tài bà, không cho các chú, các bác đậy nắp. Rồi nó chạy lại đầu giường, lấy ra chiếc cối giã trầu chiều qua, nhẹ nhàng đặt xuống bên má bà. Một chú phải ghì chặt lấy nó, để cho mọi người chuẩn bị đóng nắp quan.

Bỗng mẹ Nga Mi từ ngoài sân, tất tả bước vào, quần áo ướt như chuột lột:

– Cháu lạy các chú, cháu lạy các bác. Cho cháu nhìn mặt mẹ cháu một lần cuối. Cháu biết tin từ trưa, nhưng “hắn” dọa chém, không cho cháu đi. Cháu phải trốn bơi qua sông…

Nắp quan tài lại được mở ra. Chị vuốt mắt mẹ chồng tay đấm vào ngực mình:

– Con thật bất hiếu với mẹ, mẹ ơi!

Rồi chị nói lảm nhảm những gì không rõ. Chị vái người chết vái ảnh chồng trên bàn thờ. Chị quay sang vái con, vái xóm giềng đứng bên cạnh. Nước mắt cùng với nước trên áo quần chị, nhỏ xuống ròng ròng…

                                                         ĐAT

Thơ Bàng Bá Lân : Cổng làng ( khổ 1-2 và các bản dịch )

Dịch :

TMCS: Anh, Hán

Trịnh phúc Nguyên: Pháp

Phan Hoàng Mạnh   : Pháp

( Ảnh minh họa : Cổng làng Ước Lễ – Thanh oai – Hà Tây )

CỔNG LÀNG (KHổ 1-2)

Thơ: Bàng Bá Lân

Chiều hôm đón mát cổng làng,

Gió hiu hiu đẩy mây vàng êm trôi

Đồng quê vờn lượn chân trời

Đường quê quanh quất bao người về thôn

Sáng hồng lơ lửng mây son

Mặt trời thức giấc, véo von chim chào

Cổng làng rộng mở. Ồn ào

Nông  phu lững thững đi vào nắng mai

Anh: TMCS

THE VILLAGE GATE

(Poem by Bàng Bá Lân – Translation by TMCS)

Every sunset,  the village gate is a place, where

People come to get some fresh air

The breeze pushes yellow clouds slightly,

In the field extended to the horizon,

Rice waves are bobbing unceasingly.

On the zigzag paths, they are on the way to the hamlets.

Early in the pink morning, the vermilion clouds hang in the sky.

In the gay songs of birds, the sun wakes up on time.

It’s also the time when the village gate is opened wide.

The sun shines onto the noisy farmers

To  the fields they are going together.

Hán – Phiên âm – dịch : TMCS

HƯƠNG MÔN

( Bàng bá Lân thi – TMCS dịch)

Hương môn, bàng vãn, chúng thừa lương.Cổng làng chiều hôm, mọi người đến hóng mát

Thôi động hoàng vân do quát phong.       Do gió nổi đẩy mây vàng trôi

Thuỷ đạo như ba thiên tế khởi.                   Lúa như sóng dậy lên ở chân trời

Loan loan đồ thượng, chúng quy hương.Nhiều người về làng trên đường uốn quanh

Thanh tảo hồng vân huyền kỉ đoá.  Sớm tinh mơ lơ lửng mấy áng mây hồng

Thái dương lai tỉnh điểu hoan ca.   Trời thức giấc, chim hót véo von

Hương môn khai phóng nhân huyên náo. Cổng làng mở ra, mọi người ồn ào.

Nhật xuất , nông phu mạn xuất gia.  Mặt trời ló ra, nông phu thong thả rời nhà

Chữ Hán : TMCS

鄉門

(傍伯鄰詩-相梅居士譯)

鄉門傍晚眾乘涼

推動黃雲由颳風

水稻如波天際起

彎彎途上眾歸鄉

清早紅雲懸幾朵

太陽來醒鳥歡歌

鄉門開放人喧閙

日出農夫慢出家

Pháp: Trịnh Phúc Nguyên

PORCHE DU VILLAGE

Au porche du village,on accueuille le frais du soir,

La brise doucement pousse les nues d’or flotter,

La campagne  ondulée s’étend jusqu’à l’horizon,

Sur les alléees rustiques,on rentre aux hameaux.

Le matin,flottent à la dérive des nuages vermeils,

Le soleil se lève,les oiseaux gazouillent,

Le porche du village s’ouvre largement.Du tumulte,

Des paysans lentement entrent et sortent sous le soleil matinal.

Pháp  :   Phan Hoàng Mạnh

LE  PORTAIL  DU VILLAGE

Le jour en déclin accueille le portail dans sa fraîcheur

Avec un vent léger qui fait flotter des nuages jaunes.

La campagne ondule jusqu’à l’horizon,

Sur la route des champs, reviennent les gens au hameau.

Le matin rose s’attarde dans les nuages de vermillon.

Le soleil se réveille dans les gentils gazouillis d’oiseaux.

Le portail du village est largemente ouvert, et bruyamment,

Cheminent des paysans dans la clarté matinale.

Phản hồi :

 

Tran Van Kinh

8:54 PM (11 minutes ago)

Tôi hân hạnh được đọc bài Cổng làng của BBL, lại được đọc các bản chuyển ngữ đặc sắc của các bậc đàn anh, bỗng nhớ đến một bài tôi viết đã lâu, bèn xin góp vui gọi là của kẻ hậu sinh.

Ra ngõ

Ra ngõ gặp ngoi Đình

Nghe xập xình chiêng trống

Những đám rước quê mình

Điệu Hành vân, Lưu thủy …

Ra nữa gặp ngôi Đền

Nhớ anh hùng, kiệt hiệt

Lịch sử hiện dần lên

Những trang đời oanh liệt

Ra nữa gặp ngôi Chùa

Nhìn bon chen…cát bụi

Ngó danh lợi…phù du

Thấy u mê lầm lỗi !

Ra nữa gặp ngôi Trường

Lúc trống trường vào học

Ta đứng nép bên đường

Nhìn bóng mình…ngày trước

Ngõ làng ta vậy đó

Dù bao giờ bay xa

Chân trời trong mắt nhỏ

Chẳng bao giờ bay qua..

.


 Phản hồi của Trần Trọng Chiêm :

Mẹ ơi con nhớ thuở nào

Dắt trâu vác cuốc bên ao cổng làng

Bây giờ nhà ngói cao sang

Chợ Chùa bánh đúc mơ màng tuổi thơ

TTCh​