Đỗ Anh Thơ : Cuối đời, nhặt truyện cũ đăng lại (2) : Lão Nhắng với Tôi

   Với đôi kính trắng, chiếc áo ba đờ xuy, cái xe đạp mi ni mới của Trung Quốc, trông lão thật xứng là một người danh giá, vọng tộc trong làng. Đời Lê, họ nhà lão có đến ba tiến sĩ. Nhưng truyền thuyết kể rằng: “Ông tổ nhà lão làm nghề cất vó. Một đêm đi mò cá, biết họ Võ đào nền chùa tìm huyệt. Ông tổ nhà lão dọa tố cáo. Họ Võ đành nhường cho một cái nên chỉ có thể phát được có ba đời”. Lão nghe chuyện, liền nổi xung. Lão đánh tiếng sẽ gọi con cháu đầu gấu đến họ Võ xin tí tiết. Ai ai nghe cũng phải sợ.

Buổi đầu, mới về làng này, chưa quen, tôi giáp mặt lão, không chào. Lão dương mắt kính, nhìn tôi trân trân. Đi một đoạn, lão buông một câu trống không:

– Đường cái làng này, mười viên gạch thì họ Trần nhà tao có chín viên. Mấy thằng ngụ cư, không biết lề thói, gì cả!

Từ đó về sau, nếu tôi có chào, lão cũng không thèm lên tiếng đáp lại . Thế là tôi bắt buộc phải tìm cách lánh mặt. Hễ nhác thấy bóng lão từ xa, tôi giả vờ sửa xe, hoặc đành quay lại, y chuyện Lạn Tương Như với Liêm Pha, xưa kia.

Có lẽ, lão hơn tôi đến hơn chục tuổi. Đã thuộc làu câu “kính… nhi viễn chi” của Khổng tử, đúng ra, tôi phải sửa lỗi lầm đó. Nhưng mà không được, lý là tại làm sao? Lòng tự ái trong tôi cứ dày vò mãi. Vợ con cứ trách tôi rằng, chẳng hiểu câu nói của cha ông xưa: “bán bà con xa mua láng giềng gần” gì cả. Đã nghỉ hưu rồi, làm anh dân thường, mà còn làm phách. Cực chẳng đã, chiều mồng hai tết năm đó, tôi chủ động sang nhà lão. Lão nằm ngay trên giường, đắp chăn không dậy. Bà vợ hai rót chén nước, mời chiếu lệ. Tôi vội vàng làm thủ tục của cha ông, nói mấy câu chúc mừng năm mới, rồi lủi thủi ra về.

Sau đó mấy hôm, xóm họp người cao tuổi. Tôi cũng được mời. Các cụ dòng họ Võ phấn khởi lắm. Biết tôi võ vẽ đôi ba câu, nên họ bắt tôi đọc thơ xuân. Bỗng có một tiếng cắt ngang:

– Thôn quê chúng tôi ít chữ, biết gì “thơ với thẩn”!

Tôi quay sang nhìn, thấy lão Nhắng tỉnh bơ, đang nói tiếp:

– Có bàn lễ hội thì bàn. Không, tôi về!

Cụ chủ nhiệm câu lạc bộ tuổi già cuống quýt, bấm lưng tôi. Tôi cụt hứng. Té ra cụ nào trong xóm cũng sợ lão Nhắng. Có lẽ vì lão là hậu duệ của một dòng họ danh giá, lại là ông từ “lừ khừ giữ đền”, đang cho các cụ mượn làm trụ sở chăng?

Thế là kế hoạch hội nhập của tôi không thành công. Thậm chí, mấy ngày sau, tôi còn được nghe phong thanh rằng, lão Nhắng bảo, tôi muốn vào hội, để sau này xin “hai thước đất”… cuối làng.

Từ đó tôi bất cần. Gặp lão tôi cũng giương kính lên, nhìn thẳng.

Thế rồi thời thế xoay vần. Xã tôi thành phường, một phần huyện thành quận. Dân xóm tôi bầu khối trưởng mới. Ông trưởng xóm cũ, vốn họ Trần của lão Nhắng, do tham ô nhiều tiền làm đường điện, nên mất ghế. Thế là lão đứng lên, thọc tay vào túi áo ba đờ xuy, lững thững bước ra về. Các bà trong họ ấy cũng lỉnh gần hết. Tôi thấy ông trưởng khối mới, mặt có hơi tái đi, khi thấy ba gian đình, người vãn đi già nửa.

… Rồi một hôm, tôi đi qua, thấy lão Nhắng ngồi trực đền. Nhằm chọc tức lão, tôi vào đình, đọc câu đối và ghi ghi chép chép.

Ngờ đâu, lão Nhắng đứng lên đon đả rót nước mời tôi. Thế là từ đó, hai chúng tôi thân nhau, lui tới nhà nhau như chưa từng có hiềm khích bao giờ. Lão còn lấy trong ống bương ra một cuộn giấy bản to, toàn là sắc phong thời Lê, nhờ tôi dịch. Vợ tôi mừng ra mặt. Trong óc bà ấy thoáng nghĩ ngay đến cái cơ hội “hai thước đất” mà lão Nhắng đoán như trúng tim đen ấy, đã đến gần. Vì chả dấu gì các bạn, bà ấy với tôi, đều đã già, lại thuộc diện KT2, KT3 cả, chưa có tiền nộp thuế đất, làm đơn xin sổ đỏ để nhập hộ khẩu.

Nhưng rồi một năm trôi qua. Phường mới của tôi, trâu bò vẫn cứ thả rông. Rác rưởi, rơm rạ của các nhà hàng thịt chó vẫn hun mù mịt. Lòng, phân, nước thối nồng nặc vẫn mặc nhiên… chảy tràn qua đường… hội nhập với dòng sông Tô lững lờ đen.

Tôi ngán ngẩm. Thế rồi, không biết tôi đã nhiễm vi rút A.Q của lão, tự bao giờ. Ngồi với lão, tôi cũng đâm sính kể chuyện họ hàng, rằng bà con tôi, có tới hàng chục tiến sĩ, giáo sư đang sống ở Hà Nội. Còn phó tiến sĩ, phó giáo sư thì… đếm không xuể.

Tôi với lão thường vỗ đùi đen đét, tâng bốc lẫn nhau như thế, rồi tu rượu đến khuya. Chỉ có khác, lão nói tiến sĩ họ nhà lão thuở trước, còn bia trên Văn Miếu. Phần tôi, tôi nói chuyện thành đạt của con cháu tôi thời nay, hết đi Tây lại đi Mỹ. Thế thôi!

Advertisements

Đỗ Anh Thơ : Cuối đời, nhặt truyện cũ đăng lại (1) : Mùa hoa xoan

 Mùa đông đến, khi cây xoan chỉ còn đeo lủng lẳng mấy trùm quả khô teo, cành cong trơ trụi như những bàn tay xương xẩu, già cả… giơ lên trời để chống đỡ với gió lạnh thì mấy chú chào mào cũng ngồi ủ rũ, sệ cánh trên đó, không nơi ẩn nấp, không còn hót líu lo nữa.

Đàn chim ngói vụt bay đi, sà đến mấy thửa ruộng đầu làng để nhặt mấy hạt thóc cuối cùng trên cánh đồng nghèo, chỉ còn gốc dạ lẫn cây rau muối khiến lòng ta thêm buồn, lạnh lẽo, quạnh hiu.

Tết đã gần đến. Gương mặt mẹ tôi đầy lo toan. Bà nhìn bồ thóc trong buồng. Kể từ vụ mùa đến nay đã vơi đi già nửa, nhưng bà vẫn phải lường mấy rá… mang ra chợ.

Tôi với cô gái cùng xóm đang ngồi chơi đánh ô bằng những quả khô đắng, rụng đầy gốc của chính cái cây cùng có cái tên Xoan này.

Chơi đánh ô là thú của con gái sau đánh thẻ. Nhưng vì không có bạn đá bóng tôi đành phải chơi trò này. Bao giờ cũng vậy, khi Xoan hô: “hết quan, toàn dân…” là cô ấy vơ vào lòng toàn bộ hạt xoan. Tôi cứ phải vay nợ hoài. Nợ nhiều, cáu quá, tôi leo lên cây, hái mấy chùm đem xuống trả. Cuối cùng, khi mẹ tôi về chợ, tôi có cớ để bỏ chơi, chạy đi lục thúng mủng của mẹ.

… Tôi nghe tiếng thở dài của bà. Ngoài một chục mắm nục là món ăn mà tôi rất ghét, chỉ có một đùm lá chuối gói hai cái kẹo đường đỏ tẩm bột, dài bằng hai nửa ngón tay.

Tôi đưa cho Xoan một cái kẹo. Đôi mắt cô long lanh, bảo:

– Thế là em trừ hết nợ cho anh rồi đó!

Xoan nhảy qua bờ rào, chạy về nhà. Tôi nghe tiếng thằng Cậy giậm chân đành đạch:

– Anh Niêm lại cho chị kẹo rồi. Chị phải để em cắn một nửa.

… Sát tết, là ngày trời thường rét ngọt, lất phất mưa. Những cành xoan xương xẩu ấy như tươi lại, chúm chím nụ.

Chúng tôi thường qua những cái tết ngây thơ, giữa cái nghèo túng và lo toan của người lớn như vậy.

Ra giêng hai, đến trò chơi khác. Dưới gốc cây, chúng tôi lấy hoa xoan xâu thành cườm.

Tôi đóng chú rể, đeo chuỗi ngọc cho Xoan làm cô dâu.

Thường thường trò chơi này tôi và Xoan chơi vụng trộm, không để người lớn và thằng Cậy biết.

Đôi mắt Xoan tròn như mắt bồ câu, nhìn tôi, mặt ửng đỏ, ngượng ngùng… Còn tôi, tôi chỉ sợ bạn bè cùng xóm chế mà thôi.

Năm tháng qua đi, rồi tôi phải đi trọ học xa. Xoan ở nhà làm hàng xay, hàng xáo cùng mẹ. Xoan đã trở thành một cô gái xinh đẹp và đảm đang nhất làng.

Thỉnh thoảng, mỗi lần ở trọ hết gạo, tôi về nhà lấy để mang lên. Tôi thấy mẹ tôi tần ngần, rồi chạy sang nhà Xoan. Lát sau, cô mang sang hai cái ruột tượng đầy, màu nâu non. Tôi biết chắc đó là gạo cô chuẩn bị mang ra chợ. Tôi lúng túng, đỡ lấy từ tay Xoan. Cô lại đỏ mặt, cúi mặt xuống… rồi giả vờ quay sang bắt chấy cho mẹ tôi, để được ngắm tôi xếp sách vở vào ba lô và khoác hai cái bao tượng… ra đi.

Mẹ tôi thường bảo:

– Gắng học cho giỏi, nghe con!

Tội dạ và nhìn về phía mái tóc bạc của mẹ, đôi mắt Xoan long lanh, như đợi chờ như vô vọng. Còn tôi thì lãng mạn, thầm nghĩ sẽ là một Phạm Công xưa… với nàng.

Tuy cùng nhà tranh vách đất cả, nhưng bố mẹ Xoan nghèo khổ đã rõ. Còn nhà tôi, mới sa sút từ khi bố tôi, một nhà nho nghèo, mất cách đây hai năm. Cái túng đói của nhà tôi được mẹ tôi che giấu rất giỏi. Mỗi khi có bạn cùng lớp tôi về qua, bà đon đả, giữ chúng ở lại cho bằng được.

Bà nấu một nồi cơm đầy trên mâm có hai đĩa cá nục luộc, kho nhạt. Chúng tôi được một bữa cơm trắng no nê. Ăn xong, bưng mâm xuống nhà, tôi mới chợt thấy mẹ đang nhai từng lát khoai lang hấp. Trong lòng tôi hối hận vì sự chểnh mảng học hành và những chuyện đua đòi theo bạn.

Vì thế, tôi quyết chí học và chưa có bạn gái. Mặc dù trong lớp năm cuối cấp ba, một lần tôi nhận được một mẩu thư tình, có ướp một bông hồng, không ký tên.

… Khoảng ngoài mồng bốn tết năm con hổ vàng, túc là năm 1962, khi hoa xoan đã rắc đầy ngõ, những hạt cườm tím, tôi nhận được một tin sét đánh. Ngày đó Xoan về nhà chồng.

Chả trách gì mà gần cả tháng nghỉ tết, tôi không làm sao tìm gặp được cô láng giềng ấy.

Đêm đó tôi trằn trọc và thức trắng. Nước mắt đầm đìa cả gối. Sáng ra, tôi chạy sang nhà, nhìn căn nhà thiếu vắng hình ảnh một người… của tuổi thơ, tôi ôm lấy mẹ Xoan khóc to và buột miệng gọi “mẹ”.

 Bà rưng rưng nước mắt, xoa đầu tôi, an ủi:

– Em nó chờ cậu mãi! Con gái có thì… Mà nó đã đi lên chùa, xin thẻ. Về nó khóc suốt đêm. Nó bảo tuổi nó, nếu được cậu yêu chăng nữa, thì sau này cũng làm khổ cậu mà thôi. Bởi vậy, nó mới thuận lấy anh cán bộ tập kết đã theo đuổi nó bao năm nay…

Từ đó, thỉnh thoảng Xoan ghé thăm mẹ. Có khi, khớp với lần tôi nghỉ học, ở Hà Nội về nghỉ hè. Nhưng lại đến lượt tôi lẩn tránh Xoan.

…Sau năm 1975, miền Nam giải phóng. Xoan theo chồng về trong đó. Mẹ tôi và bố mẹ Xoan lần lượt qua đời.

Thế là chúng tôi bặt tin nhau cho đến tận bây giờ. Cũng từ đó, mỗi độ xuân về, thấy hoa xoan nở đầy đường, tôi lại rón rén bước giày, cho khỏi đạp lên.

Tôi biết rằng, hết mùa hoa, nó chỉ đem lại quả đắng mà thôi. Còn đâu cái háo hức tuổi thơ… tôi trèo lên hái, để trả nợ cho ai nữa.

DAT

Phan hoi :

       Dang de le :

Câu chuyện quá hay, buồn, đẹp nhưng rất lãng mạn, làm tan chảy tâm hồn người đọc

Đỗ Anh Thơ : Thương nhớ mãi chú có Capi ( kỳ 3)

Một thời gian sau, đứa con gái Docago đi lao động ở Đức, chắt bóp gửi về cho lão hai chiếc xe Honda . Lão bán đi , mua đất xây nhà bên bờ sông Tô Lịch rồi chuyển lên Hà Nội  . Con cả lão vào nam, bán nhà ở Nam Định . Do đó  Capi cũng được  về thủ đô . Trừ lão có hộ khẩu tập thể, còn cả nhà còn phải sống chui . Mấy tuần sau, Docago và đứa con út đi xe máy về đón Capi lên thủ đô . Ngày đưa chú đi cũng là ngày giao nhà . Hình như chú cũng quyến luyến căn nhà cũ,  Lúc r a xe, chú được bế lên , đặt vào dỏ trước tay lái. Chú buồn rười rưỡi, nằm im thin thít . Mắt chú  liếc nhìn căn nhà , rồi liếc trôm Docago nhiều lượt, hình như chú có ý nghi ngờ bị đem bán  . Tới khi thấy lão rồ máy, phóng xe ra khỏi nhà, thì chú mới yên tâm . Chú nằm trước dỏ xe , quay mặt nhìn lão. Cái đuôi chú ve vẩy, mắt bắt đầu ngơ ngác nhìn người và xe cộ trên đường .  Lần đầu tiên chú được  ngồi xe và đi xa . Chắc chắn chú suy nghĩ lung lắm. Nòi giống becgie  nhà chú chưa từng bị lên dao thớt, làm bạn với riềng mẻ nên trong đầu chú chưa hề có  thông tin này.

Chú nhởn nhơ vẫy đuôi hòai . Tới thị xã Phủ Lý , chú được xuống xe, đi vệ sinh. Xong lại ngoan ngoãn tới nằm dưới chân Docago . Vốn bản tính hay khoe khoang, Docago chỉ ăn có nửa tô phở, rồi cầm nửa còn lai, đứng dậy. Thấy sẵn có cái bát nhôm bẩn của nhà hàng, lão mượn và ra hiệu cho Capi .Lão thử diễn tro xiếc chó , giữa đông người như cụ Vitalis . Capi hiểu ý, đến ngoặm lấy mang bát đến dưới chân cho lão trút phở thừa vào . Đôi mắt Capi  hau háu , nằm chờ lệnh chủ . Chú chó lông xù nhà hàng, to gấp đôi Capi, định xông vào . Nhưng chú chỉ mới nhăn răng, gầm gừ, nó đã vội cong đuôi, biến mất . Ra tới gốc bàng trước quán, nó không quên ghếch cẳng đái, rồi lấy hai chân cào… rồi sủa vang như tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của mình. Các thực khách nhìn trầm trồ và khen chú chó khôn  . Capi thưởng thức gần nửa tô phở đó. Có lẽ chú cảm thấy ngon nhất trên đời. Còn Docago thì tự hào về chó, xuýt nữa quên cả trả tiền. Cái mũi lão phập phồng, nở to , chỉ thiếu được bôi đỏ của thằng hề là lão có thể trở thành chủ gánh xiếc, kiếm ra tiền.

Ăn xong, con lão lái xe thay lão. Capi được ngồi vào lòng chủ , tiếp tục lên đưỡng .

( Còn nữa)                                                                       Tại Bình Thạnh SG

30/8/2017

ĐAT

 

Đỗ Anh Thơ : Tiếng ếch kêu ngoài tường rào nhà Docago ( tiếp theo)

Docago mê chích chòe lửa đó đến quên ăn, quên ngủ. Ngoài gốc sung ra, lào còn thường treo nó canh bờ rào sắt , gần với một chú cu gáy .

Ông già câu cá khuyên láo :

: Tui để ý thấy , đã có một hai thanh niên cầm sào , lảng vảng quanh nhà bác đó.

-Bác cứ yên tâm đi.  Tui đã có bầy béc giê rất thính tai, cảnh giới từ xa rồi . Gần thì có camera. Sợ gì !

Khác với chích chòe lủa hay làm dáng, cu gáy thì đạo mạo như một triết gia . Khi thấy mặt lão  lấy ngón tay ra hiệu , nó lại rụt cái cổ cườm rồi cố gắng rướn lên gù mấy tiếng như muốn đàm đạo với lão về thuyết này, thuyết nọ, như muốn chê bai chích chòe lửa , chỉ được cái đẹp mã , nhưng cái đầu thì rộng tuyếch. Lão ngồi trên ghế đá, ngắm những ông phỗng , rối thác lời chúng cật vấn nhau…  để vơi đi nỗi đau nhân tình …

             ‘ Ngài mặc chiếc quần ống chẽn đỏ
Vai khoắc áo đuôi tôm tuyền đen .
Xứng danh hiệp sĩ chích chòe lửa ,.
Kiếm đâu” không bênh vực khuyên hèn ?
Ta già , nằm yên là một lẽ
Ngài sao còn trẻ , sức thanh niên.
Hay cám trứng, lồng son, mãn nguyện
Chỉ hót huyên thiên để kiếm tiền
 ! “

( còn nữa)

22/8/2017

Tại Bình Thạnh- SG

ĐAT

Đỗ Anh Thơ : Truyện ngắn : Tiếng ếch kêu ngoài tường rào nhà Docago

Một hôm, ngồi chơi xem ông Ba câu cá ngoài sông Rạch Chiếc, Docago thấy ông vừa móc  trùn vào lưỡi câu , vừa nhìn lão chậm rãi nói :

– Phía tường ngòai gốc sung nhà bác có một con ếch to lắm!

– Sao bác biết ?

–  Nhiều hôm động trời, tui nghe nó kêu. Chiều nay hết mồi , ra đó đào trùn, tui đã phát hiện ra hang của nó, nhưng tui sợ…gặp rắn. Tui thấy không xa đó , dưới đống đá bác bỏ lại, còn có một cái hang nữa . Có lẽ là hang rắn, vì có lần tui đã thấy dưới ánh trăng hình như có một con hổ mun bơi từ dưới sông lên , trườn vào đó thì phải. Bác phải bảo các cháu cẩn thận , đừng chơi gần .

Docago nghe, biết thế, nhưng rồi không để ý đến lời ông bạn già dặn .

Mấy tuần sau, lão mua được một con chích choè lửa . Nó vừa đoạt giải trong một cuộc thi, nên giá lên tới 4 triệu, kể cả cái lồng Huế gác bếp lâu năm. Lão hý hửng treo dưới gốc sung, rồi lên phòng nằm nghe nó hót líu lo . Về sau, cứ vài hôm một lần, lão lại đặt nước, áp cáí lồng sắt cho nó tắm. Tắm xong, nó đứng trau chuốt, rỉa bộ lông đỏ, đen, trắng và cái đuôi kiêu sa … mà dân sành chim cứ ước lượng chiều dài để trả giá.  Khi nó dưới nước, đang ướt nhảy lên cầu, nhìn nó gầy nhom, như một cô gái nhịn ăn, để chờ đi thi hoa hậu vậy.

Lão lại thương hại , mở hộp sâu tươi cho đầy một coóng .

Còn nữa

( ĐAT)

21/8/2017

( tại Bình Thạnh SG)

_

Nguyễn Xuân Thiệu : Những bến phà để thương để nhớ của lũ Dê già

Nguyễn Xuân Thiệu : Những bến phà để thương để nhơ của lũ Dê già

Đỗ Anh Thơ : 

   Qua bến phà Rạch Miễu 

Để em đau khổ một mình

Rồi anh lại chở mối tình sang sông

Thuyền anh qua bến mênh mông

Gặp bao khuôn mặt mà không gặp lòng :

Một trời mấy chốn nhớ mong,

Một đời gặp mấy tấm lòng hở em ?

……………………..

Trần Văn Kinh

Chuyến phà Bãi Cháy

Đã lâu rồi anh không về Bãi Cháy

Còn nhớ chăng chuyến phà mộng năm xưa

Cầu cao đã nối đôi bờ

Mênh mang sóng nước,thấy đâu con phà

Một thời trai trẻ đi qua

Bây giờ về già,nhớ chuyến phà xưa .

Nguyễn Xuân Thiệu

Phà Tân Đệ

Sông Hồng mãi chảy xuôi giòng

Mùa này nước lớn mênh mông đôi bờ

Bến xưa tôi đứng ngẩn ngơ

Ngày tàn,nắng tắt,tôi chờ….chờ ai?

Trần Trọng Chiêm :

“Mối tình đầu” chẳng bến phà

Một đời nhung nhớ mặn mà yêu thương

Tóc xanh bạc trắng vấn vương

“Sten” còn đó vết thương chưa lành

TTCh

Chợ Chùa

Trở về giỗ mẹ vào mùa

Nhớ tương, bánh đúc chợ Chùa ấu thơ

Mẹ ơi con vẫn bơ vơ

Thánh hiền cha dạy bạc phơ mái đầu

Vẫn thơ dại, vẫn dãi dầu

Bãi sông bên  nước một mầu hoang sơ

Bao giờ trở lại tuổi thơ

Cho con trả hết dại khờ tháng nắm.

TTCh

Attachments area

Đỗ Anh Thơ : Thương nhớ mãi chú chó Capi ( tiếp theo)

Trong đầu Docago có lúc thoáng hiện ra cụ già Vitalis  làm xiếc chó trong truyện “Không gia đình” của nhà văn Hertor Malot. Cảnh cụ thổi kèn , còn chú cho Capi thì ngoạm chiếc mũ, đi bằng hai chân sau, một vòng quanh đám đông để xin tiền. Bời vì cuộc sống của Docago lúc đó cũng nghèo khó, bấp bênh có khác gì Vitalis ?

Có hôm nhà có cậu em vợ lên chơi, cô con gái lão phải đổ mấy bò gạo mậu dịch đầy thóc, đang chờ đi xát lại, cố vét ra cho được một ít , nấu cơm để mời khách.

Mấy tháng sau đó thì Docago cũng hết chế độ ưu tiên cơm không  bo bo, thưc ăn cũng chỉ là rau muống, như mọi thành viên trong nhà. Nhưng tội nghiệp nhất có lẽ là Capi. Chú đang độ lớn. Thế mà bát cơm chỉ rau muống già với vỏ khoai mà thôi. Chú xọc mõm vào bát hai lần là hết sạch, sau đó, nằm nhìn lão đang bưng bát cơm trên tay, với đôi mắt hau háu , thèm thuồng .

Nhưng rồi những ngày cơ cực nhất cũng phải qua đi . Trong lần đổi tiền thứ 2, vợ lão bán nốt hai con ngan đẻ , mấy chục mét vải, màn tuyn, chăn con công … được thưởng, rồi tiền vay mượn thêm, đưa cho lão mua  một cái tủ lạnh cũ điện 110 V của người hàng xóm đi thăm bà con trong nam vừa vượt qua được con mắt bọn quản lý thị trường, đưa ra . Lão phải mua một cái biến áp tự ngẫu để chạy tủ lạnh, lâý đá hàng ngày bán cho quán nước ngoài bến ô tô .

Vì thế, bữa cơm đã no hơn . Trên mâm thường ngày, lão thấy đã có thịt hoặc đầu cá thu nướng. Cậu con út đang học cấp 3 chuyên toán ở Hà Nội đã được tiếp tế tôm he kho ngọt, hàng tuần. Chú Capi thì béo ra trông thấy, bộ lông xám  mượt và thông minh lên nhanh chóng. Vợ lão chẻ củi ngoài đường, dạy cho chú tha vào bếp. Mỗi lần như vậy , chú lại được lão thưởng cho một cái kẹo Hải Châu , nên chú làm việc rất cần cù, không qua loa , bỏ củi lại dọc đường …

( còn tiếp)

Tại Bình Thạnh SG

9/8/2017

ĐAT

.