Đỗ Anh Thơ : Nhật ký viết trên tầu Quy Hư (4)

                                              Tỉnh dậy : đêm qua còn thấy mơ :

                                               Nghiêng nghiêng nón lá,dáng em chờ .

                                                 Cây đa bến cũ, dòng sông cũ

                                              Vẫn áo xanh lơ, mái tóc xưa !  (*)

                                                            10/8/2018

                                 Sinh nhật lần thư 85 tại Bình Thạnh SG

                                                           ĐAT

                                      (*) Xin đọc : Truyện ngắn Đỗ Anh

Thơ: Tà áo Lơ muya

Advertisements

Đỗ Anh Thơ : Nhật ký viết trên tầu Quy Hư (3)

                                         Mới đó , ngày sinh lại đến rồi!

                                         Rềnh ràng công việc vẫn chưa xuôi .

                                         Vườn hoa sân thượng hồng đang nụ

                                         Sách chửa in xong , bạc chửa đòi.

                                          Áo trắng coi chừng quên đóng gói

                                         Quần jean có lẽ vẫn còn hôi .

                                          Còi tầu giục giã ngoài sông nước:

                                          Vũng xoáy hố đen …mở miệng rồi !

                                                                            Tại Bình Thạnh SG

                                                                                   8/8/2018

                                                                                         ĐAT

Chuyen mục thơ dịch của Nguyễn Chân (4): TÔI ĐÃ YÊU NÀNG của PUSHKIN A.C.  Я ВАС ЛЮБИЛ (1)

Я ВАС ЛЮБИЛ (1)

ПУШКИН А. С.

Я вас любил, любовь ещё, быть может

В душе моей угасла не совсем.

Но пусть она вас болше не тревожит,

Я не хочу печалить вас ничем.

Я вас любил безмолвно, безнадежно,

То робостю, то ревностю томим.(2)

Я вас любил так искренно, так нежно,

Как дай вам бог любимой быть другим.

1829

TÔI ĐÃ YÊU NÀNG

PUSHKIN A.C.

Tôi đã yêu, nhưng vẫn còn có thể

Ngọn lửa tình chưa dễ tắt trong tim.

Nhưng tôi thôi, không làm phiền nàng nữa,

Không để tình lần lữa quấy rầy ai.

Âm thầm yêu, chẳng mong nàng đáp lại.

Lúc e dè, khi hăng hái, khổ  nhau.(2)

Yêu chân thành, luôn trìu mến trước sau.

Người theo nàng tôi cầu Trời phù hộ :

Sẽ yêu nàng như từ thuở tôi yêu!

JE VOUS AI AIMÉE

POUCHKINE A.S.

Je vous ai aimée, pourtant dans mon âme

L’amour, peut-être, reste encore en flamme.

Qu’il ne vous inquiète plus! C’est  mon voeu.

Que vous n’en occupiez vous, même un peu!

Sans espoir, je vous aimais en silence.

Tantôt le zèle, tantôt la pudeur

Nous a causé fréquemment des langueurs.(3)

Mon amour pour vous est tendre et sincère.

Je supplie Dieu : Un autre soupirant

Vous aimerait de pareille manière.

(Adaptation de NGUYỄN CHÂN)

25.02.2010

———————-

(1)Tác giả dùng BAC, chứ không TEБЯ, tỏ vẻ tôn trọng, nên tôi không

dịch là EM. Tiếng Việt không có từ tương đương. Tôi tạm dịch là nàng,

ngôi thứ hai. Đây là Ông viết về tình yêu đối với Anna  Ôlênina con

một nhà quí tộc, quen biết từ trước, sau những năm bị đi dầy trở về,

nhưng không được nàng đáp ứng và gia đình nàng cũng không ưng thuận.

(2) Chữ  РЕВНОСТЬ đối nghịch với РОБОСТЬ(RỤT RÈ, E THẸN) nên tôi dịch

theo nghĩa khác : SỐT SẮNG, NHIỆT TÌNH. Hơn nữa trong bài thơ không

chỗ nào nói đến “tình địch” và trong thực tế cũng không có nên không

có GHEN TUÔNG.

(3) So sánh 2 câu 6 và 7 tiếng Pháp với 2 câu sau, nên chọn 2 câu nào

«C’est la pudeur ou le zèle parfois

Nous a causé beaucoup de désarrois” ?

Trần Trọng Chiêm :Dấu ấn Hà nôi Qua ảnh Hocquard 1884-1885 


1.Dấu ấn trên vách tường mặt Thành Cửa Bắc còn giữ nguyên đến hôm nay để lưu hậu thế nhớ ngày thực dân Pháp đánh thành Hà nội lần 2 :
Với dòng chữ cả Pháp và Việt: Nguyên văn biển đá bằng tiếng Pháp: 25 avril 1882: Bombarde de la citadelle par les canonnières “Surprise” et “Fanfare”; nghĩa là Ngày 25/04/1882: Vết bắn phá thành của các pháo thuyền “Surprise” và “Fanfare”.
Thì đây di ảnh cụ Hocquard còn lưu đầy đủ 2 chiếc ca nô pháo hạm Fanfare và Surprise của Pháp năm đó đã vào Sông Hồng, đoạn trước cửa Ô Quan Chưởng bắn pháo liên tục từ 8:15 đến 10:45 giờ . Sau đó đến 11 giờ mởi đổ lục quân vào đánh chiếm Thành . Tổng đốc Hoàng Diệu cố gắng chống cự nhưng quân Pháp đã tràn vào thành, đành treo cổ tự vẫn dưới một cái cây trước Võ Miếu (Võ Miếu, sau bị phá hủy cùng thành Hà Nội, nằm tại góc tây nam thành ở vị trí đầu phố Chu Văn An trước mặt trụ sở Bộ Ngoại giao ngày nay).
2. Giai đoạn đánh Thành Hà nội bấy giờ, quân Pháp chưa có biên chế phóng viên nhiếp ảnh chiến trường, Ông Hocquard vừa là thầy thuốc theo đoàn quân vừa ghi lại hình ảnh chiến sự, ông ghi khá đầy đủ nhứng dấu ấn chiến trường, cùng nhưng ảnh mang tính văn hóa ở xứ lạ qua cách cảm nhận nghiệp dư của ông.Tôi giới thiêu 2 ảnh xử trảm tại pháp trường, mà địa điểm pháp trường lại chính cạnh Hồ Gươm, trên nền đất của Chùa Báo Thiên mà đã tự lâu nơi đây hoang phế đã làm nơi hop chợ, pháp trường và nơi đóng quân của Pháp, nơi ở của Giám Mục Puginier. Ông Hocquard có để lại 1 anh ghi “Condamné à mort marchant au supplice “ (kẻ tử tù đến nơi hành hình), ông chỉ chụp như người ghi nhận một sự kiện, không nói tại đâu và tên người tội phạm; song chính ông đã gọi Chùa Báo Thiên là “ pagode des supplices” và qua khảo sát trên mạng tôi cho rằng cảnh này chinh tại trung tâm Hà nội ngày nay, mà nhà văn Nguyễn Tuân đã nói trong Vang bóng một thời của ông, người chém tử tù bằng nghệ thuật “chém treo ngành”, nghĩa là chém ngọt, chém đủ 1 lưỡi chém, đủ chết ngay mà tử tù đầu còn chưa lìa khỏi xác, còn bám 1 ít da vào thân !”…Những tia máu phun kêu phì phì, vọt cao lên nền trời chiều. Trên áng cỏ hoen ố, không một chếc thủ cấp nào rụng xuống…”(truyện Chém treo ngành trong Vang bóng 1 thời của Nguyễn Tuân)
Tôi không tham gia vào chuyện đất Chùa hay đất Chúa, vì thời gian đã qua đi 130 năm,tuy nhiên tôi muốn đưa các nét hữu về 1 sự kiện lịch sử chân thực. Ngôi chùa này là nạn nhân cực kỳ đau khổ của quân xâm lược nước ngoài: năm 1426, quân xâm lược Tàu (Vương Thông nhà Minh) đã phá đổ Đại Thắng Tư Thiên Tháp cao 12 tầng và cướp phá nghiêm trọng những vật hạng bằng đồng, bằng kim loại trong chùa để đúc súng, sau đó nhà Lê có cho trùng tu nhiều lần ngôi chùa sắc tứ này, nhưng đều dang dở, do đất nước luôn có chiến tranh với Phương Bắc (với Nhà Thanh tiếp sau); năm 1873, quân xâm lược Pháp (F.Garnier) lại lấy ngôi chùa này giao cho Giám Mục Puginier dùng làm nhà ở và chỗ làm việc tạm khi Giám Mục về Hà Nội làm thông ngôn cho F.Garnier, tư lệnh cuộc đánh chiếm Hà Nội lần thứ I; năm 1882, sau khi đánh chiếm Hà Nội lần thứ II, quân xâm lược Pháp (H.Riviere) đã xô sập tất cả đền chùa xung quanh Hà Nội để lấy gạch gỗ đá xây dựng công sự. Một ngôi Chùa đồ xộ nhất, đẹp đẽ nhất, lâu đời nhất đã trở thành hoang phế.Nó đã trở thành nơi họp chợ của người Hà nợi xưa, rồi làm pháp trường án chém thời Tự Đức.Đành rằng ông Tổng đốc Hà nôi Nguyễn Hữu Độ là người chịu tội với lịch sử ,khiếp sợ người Pháp và bạc nhược trước Triều đình Huế (Ngày F,Garnier chết, Vua còn bắt Nguyễn Khuyến làm thơ tế Ông Ngạc Nhi) và trong kế hoạch bố phòng Thành Hà nội của Hoàng Diệu cùng tổng đốc Sơn Tây Nguyên Hữu Đô, Vua Tự Đức còn trách cứ kế luu binh. Đó là những nguyên nhân khiến Nguyễn Hữu Độ đã trao tay cho Bonnal công sứ Hà nội, giấy chuyển giao mảnh đất Chùa Báo thiên cho linh mục Puginier xây nhà Thờ lớn Hà nội.
T.T.Ch
9-1-2012

Trong hình ảnh có thể có: ngoài trời

Trong hình ảnh có thể có: ngoài trời và văn bản

Trong hình ảnh có thể có: đại dương, bầu trời, nước và ngoài trời

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, mọi người đang đứng và văn bản

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người và văn bản

+2

ThíchHiển thị thêm cảm xúc

Thơ bà Huyện Thanh Quan do Nguyễn Chân dịch

NHỚ VỀ THÀNH THĂNG LONG CŨ

BÀ HUYỆN THANH QUAN

Tạo hoá gây chi cuộc hí trường

Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương

Đá vẫn bền gan cùng tuế nguyệt

Nước còn chau mặt với tang thương

Nghìn năm gương cũ soi kim cổ

Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.

 

升 龙 城 怀 古

青 观 县 尹 夫 人

造 化 为 何 肇 戏 场

至 今 荏 苒 几 星 霜

辇 车 古 迹 凋 秋 草

楼 阁 陈 基 耀 夕 旸

石 已 披 肝 同 岁 月

水 犹 皱 面 对 桑 沧

千 年 旧 镜 明 今 古

对 景 时 人 欲 断 肠

 

 

THĂNG LONG THÀNH HOÀI CỔ

THANH QUAN HUYỆN DOÃN PHU NHÂN

Tạo hoá vi hà triệu hí trường

Chí kim nhẫm nhiễm kỉ tinh sương

Liễn xa cổ tích điêu thu thảo

Lâu các trần cơ diệu tịch dương

Thạch dĩ phi can đồng tuế nguyệt

Thuỷ do trứu diện đối tang thương

Thiên niên cựu kính minh kim cổ

Đối cảnh thời nhân dục đoạn trường

 

REGRETS DE LA VIEILLE CAPITALE THANG LONG

LA SOUS-PRÉFÈTE DE THANH QUAN

Pourquoi Dieu monte cette scène de badinage

Qui se déroule des siècles jusqu’à présent

Les herbes étiolées hantent les chemins d’antan

Où défilaient tant de chevaux et équipages

Les fondements des palais d’autrefois s’étalent

Actuellement sous la clarté vespérale

Les pierres persistent mois et années durant

Les eaux se renfrognent devant ces changements

Le miroir du jadis depuis toujours éclaire

Sans distinctions les évènements millénaires

Oh! Qu’on souffre devant ce spectacle déchirant

 

NGUYỄN CHÂN 17.04.2009

 

 

QUA ĐÈO NGANG

BÀ HUYÊN THANH QUAN

Qua đỉnh Đèo Ngang bóng xế tà,

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.

Lom khom dưới núi, tiều vài chú,

Lác đác bên sông, rợ mấy nhà.(*)

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.(**)

Dừng chân đứng lại : trời, non, nước,(***)

Một mảnh tình riêng ta với ta!

 

过 横 巅

青 关 县 尹 夫 人

步 到 横 巅 日 已 斜

石 侵 草 树 叶 侵 花

俯 身 山 下 樵 三 俩

疏 落 江 边 俗 数 窝

杜 鹉 怀 邦 鸣 国 国

鹧 鸪 伤 眷 叫 家 家

回 头 停 步 天 山 水

一 片 私 情 独 自 嗟

 

QUÁ HOÀNH ĐIÊN

THANH QUAN HUYỆN DOÃN PHU NHÂN

Bộ đáo Hoành Điên nhật dĩ tà.

Thạch xâm thảo thụ, diệp xâm hoa.

Phủ thân sơn hạ, tiều tam lưỡng,

Sơ lạc giang biên, tục sổ oa.

Đỗ vũ hoài bang minh “quốc quốc”,

Giá cô thương quyến khiếu “gia gia”.

Hồi đầu, đình bộ : thiên, sơn, thủy,

Nhất phiến tư tình, độc tự ta!

 

AU COL DEO NGANG

LA SOUS – PRÉFÈTE DE THANH QUAN

On arrive au col Deo Ngang juste au crépuscule.

Buissons et pierres, feuilles et fleurs se bousculent.

Dans la vallée deux-trois gens cherchent les bûchettes.

De loin s’entrevoient quelques gîtes riverains.

Se lamente de sa patrie la marouette,

Chiale de sa famille le francolin.

On s’arrête, monts, eaux et cieux innondent les yeux,

Garder sa confidence en soi, seul ce qu’on peut!

——————

(*)Đã từ lâu người ta tranh lụân mãi “chợ mấy nhà” hay “rợ mấy nhà.

“Chợ” thì chẳng ăn nhập gì cả. Còn “rợ” thì bảo là phân biệt chủng

tộc, coi thường người dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, cần  nhớ đây là vào

thời của tác giả. Ngay những năm 1943-1944, ở quê tôi (Thị Cầu-Bắc

Ninh), Pháp đưa một số lính người Tây Nguyên ra để “chống Nhật”, dân

vẫn gọi là “lính Mọi”. Hơn nữa nếu là “chợ” thì sao “đối” được với

“tiều”? Vì vậy tôi cho”rợ” có lí hơn.

(**)” Quốc quốc, gia gia” cũng tranh luận mãi. Quốc quốc thì ổn, nhưng

“gia gia”, có người cho là “da da” lại có người bảo phải là “đa đa”.

Riêng tôi cho đây la từ chỉ có nghĩa “đối” với “quốc

quốc”, vì vậy “gia gia”, đúng hơn. “Quốc quốc” là tương thanh

nhưng”gia gia” thì không, mà “đa đa” cũng không phải. Nó là chim đa

đa, nhưng lại kêu”bắt tép kho cà”, còn có tên là con gà gô.

(***) Câu 7 các sách xưa nay viết như trên, nhưng khi chuyển ngữ, tôi

thấy đã “dừng chân” thì đương nhiên là “đứng lại” rồi, vì vậy trong

bản Hán văn, tôi  thêm “hồi đầu-ngoảnh lại”, còn trong bản Pháp văn

tôi chỉ để một chữ “On s’arrête” thôi.

 

NGUYỄN CHÂN 20.05.2009

 

 

CHIỀU HÔM NHỚ NHÀ

BÀ HUYỆN THANH QUAN

Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn.

Tiếng ốc xa đưa lẫn trống đồn.

Gác mái ngư ông về viễn phố.

Gõ sừng mục tử lại cô thôn.

Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,

Dặm liễu sương sa khách bước dồn.

Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ,

Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn !

 

日 暮 怀 家

青 关 县 尹 夫 人

斜 阳 冷 寂 泛 黄 昏

角 鼓 声 闻 自 远 屯

渔 父 搁 桡 归 远 浦

牧 童 敲 角 复 孤 村

梅 林 风 动 鸦 飞 倦

柳 陌 霜 垂 客 急 奔

人 在 章 台 人 旅 次

与 谁 可 以 叙 寒 温

 

NHẬT MỘ HOÀI GIA

THANH QUAN HUYỆN DOÃN PHU NHÂN

Tà dương lãnh tịch phiếm hoàng hôn

Giác cổ thanh văn tự viễn đồn,

Ngư phủ các nhiêu qui viễn phố,

Mục đồng xao giác phục cô thôn.

Mai lâm phong động nha phi quyện,

Liễu mạch sương thuỳ khách cấp bôn.

Nhân tại Chương Đài, nhân lữ thứ,

Dữ thuỳ khả dĩ tự hàn ôn !

 

LE MAL DE LA FAMILLE AU SOIR

LA SOUS-PRÉFÈTE DE THANH QUAN

Tremblote la faible lueur crépusculaire.

Le cor et le tambour du poste font tintouin.

Posant la rame le pêcheur gagne un bord lointain,

Frappant les cornes le pâtre rentre au hameau solitaire.

L’oiseau se débat dans le vent sur la forêt.

Le voyageur presse ses pas, longeant les saulées.

L’un est en route, mais l’autre est dans leur foyer,

Avec qui pourrait-on les peines partager !

 

NGUYỄN CHÂN dịch 23.05.2009

 

 

TỨC CẢNH CHIỀU THU

BÀ HUYỆN THANH QUAN

Thánh thót tầu tiêu mấy hạt mưa,

Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ.

Xanh um cổ thụ tròn xoe tán,

Trắng xoá tràng giang phẳng lặng tờ.

Bầu giốc giang sơn say chấp rượu,

Túi lưng phong nguyệt nặng vì thơ.

Cho hay cảnh cũng ưa người nhỉ,

Thấy cảnh ai mà chẳng ngẩn ngơ !

 

 

秋 日 暮 即 景

青 关 县 尹 夫 人

雨 打 芭 蕉 鸣 啪 啪

萧 疏 画 景 称 嘉 那

绿 油 古 树 连 圆 伞

银 白 长 流 平 滑 赊

壶 倒 江 山 斟 酒 醉

囊 中 风 月 满 诗 歌

爱 人 景 也 真 奇 否

对 此 冷 心 可 奈 何

 

THU NHẬT MỘ TỨC CẢNH

THANH QUAN HUYỆN DOÃN PHU NHÂN

Vũ đả ba tiêu minh phách phách,

Tiêu sơ hoạ cảnh xứng gia na.

Lục du cổ thụ liên viên tản,

Ngân bạch trường lưu bình hoạt xa.

Hồ đảo giang sơn châm tửu tuý,

Nang trung phong nguyệt mãn thi ca.

Ái nhân cảnh dĩ chân kì phủ,

Đối thử lãnh tâm khả nại hà!

 

PAYSAGE DU SOIR D’AUTOMNE

LA SOUS- PRÉFÈTE DE THANH QUAN

La pluie frappe aux feuilles des bananiers régulièrement.

Le Créateur est louable de ce site séduisant.

Les feuillages ronds séculaires sont d’un vert foncé.

Le fleuve immense et calme reflète un blanc immaculé.

Renversons donc la gourde pour un peu nous enivrer.

La lune et le vent dans la poche sont un vrai Parnasse.

Les hommes, comme ce panorama se met à aimer.

Devant ce paysage enchanteur outre personne ne passe.

 

NGUYỄN CHÂN dịch 25.05.2009

Tản Đà :SAY RƯỢU TRỞ VỀ LÚC SẨM TỐI – Do Nguyễn Chân dịch sang Việt và Pháp ngữ

Nguyên văn chữ Hán

    

         薄  晚 醉 歸

               高 伯 适

酩 酊 歸 來 不 用 扶

一 江 煙 竹 正 模 糊

喃 喃 自 與 蓮 花 說

可 得 紅 如 酒 面 無

    BẠC VÃN TUÝ QUI

      CAO BÁ QUÁT

Mính đính qui lai bất dụng phù

Nhất giang yên trúc chính mô hồ

Nam nam tự dữ liên hoa thuyết

Khả đắc hồng như tửu diện vô.

SAY RƯỢU TRỞ VỀ LÚC SẨM TỐI

CAO BÁ QUÁT

Say mèm trở về không cần ai dắt

Khói trên bụi trúc che mờ cả dòng sông

Lầm rầm ghé hỏi hoa sen :

Hoa có đỏ như mặt người say rượu không?(*)

   SAY RƯỢU TRỞ VỀ LÚC SẨM TỐI

          CAO BÁ QUÁT

Một mình say khướt trở về

Khói sương mờ phủ bốn bề trên sông

Ghé tai sen khẽ hỏi cùng

Sắc sen liệu có đỏ bằng mặt say?

Quay về say khướt không cần dắt

Sương phủ mờ mờ khắp mặt sông

Nhỏ nhẹ hỏi sen, sen có biết :

Sắc sen có giống mặt say hồng?

     RENTRER SOULARD À LA NUIT TOMBANTE

               CAO BA QUAT

Pas besoin d’aucune aide rentre le soûlard

Le fleuve et les bambous sont couverts de brouillard

À mi-voix au lotus une question il pose:

Tel visage soûlé tes fleurs sont-elles roses?

———————-

(*) Lẽ ra phải hỏi : Mặt người say rượu có đỏ như hoa không?

可似紅花酒面無-Khả tự hồng hoa tửu diện vô?

         NGUYÊNX CHÂN 29.12.2009

Tản Đà : Tống biệt : do Nguyễn Chân (dịch)

TỐNG BIỆT

TẢN ĐÀ

Lá đào rơi rắc lối Thiên Thai.

Suối tiễn, oanh đưa luống ngậm ngùi.

Nửa năm tiên cảnh,

Một phút trần ai.

Ước cũ, duyên thừa có thế thôi!

Đá mòn, rêu nhạt,

Nước chảy, huê trôi.

Cái hạc bay lên vút tận trời.

Trời đất từ đây xa cách mãi.

Cửa động,

Đầu non,

Đường lối cũ,

Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi

L’ADIEU

Les fleurs de pêcher parsèment l’allée des fées

La source et le loriot reconduisent l’amant

Qui quitte ce site, plein d’attendrissements.

Au bas-monde un pas, fin au semestre à l’Éden.

Rien ne reste de la chance et d’ancien serment.

Les roches corrodées. Les mousses délavées,

Les eaux s’écoulent, charriant les fleurs tombées.

La grue s’envole à tire-d’aile au firmament.

L’un séparé de l’autre indéfectiblement.

Devant la grotte, sur la sente d’autrefois

Longeant le versant, le clair de lune errera

Mille ans rêveusement et silencieusement.

送 別

傘 沱

桃 花 撒 播 天 台 路

鳥 澗 送 人 客 復 惆

半 年 仙 景

一 刻 塵 攸

舊 約 陳  緣 有 這 吁

石 磨 苔 謝

水 滾 花 浮

隻 鶴 高 飛 空 碧 逝

地 天 從 此 永 懸 殊

谷 口 山 巔

初 路 跡

千 年 月 影 寂 悠 悠

TỐNG BIỆT

Đào hoa tán bá Thiên Thai lộ.

Điểu giản tống nhân, khách phục trù.

Bán niên tiên cảnh. Nhất khắc trần du.

Cựu ước, trần duyên hữu giá hu.

Thạch ma. Đài tạ

Thuỷ cổn. Hoa phù

Chích hạc cao phi không bích thệ.

Địa thiên tòng thử vĩnh huyền thù.

Cốc khẩu. Sơn điên.

Sơ lộ tích.

Thiên niên nguyệt ảnh tịch du du !

NGUYỄN CHÂN dịch sang Hán văn và Pháp văn 11.09.2011

Я ВАС ЛЮБИЛ (1)

ПУШКИН А. С.

Я вас любил, любовь ещё, быть может

В душе моей угасла не совсем.

Но пусть она вас болше не тревожит,

Я не хочу печалить вас ничем.

Я вас любил безмолвно, безнадежно,

То робостю, то ревностю томим.(2)

Я вас любил так искренно, так нежно,

Как дай вам бог любимой быть другим.

1829

TÔI ĐÃ YÊU NÀNG

PUSHKIN A.C.

Tôi đã yêu, nhưng vẫn còn có thể

Ngọn lửa tình chưa dễ tắt trong tim.

Nhưng tôi thôi, không làm phiền nàng nữa,

Không để tình lần lữa quấy rầy ai.

Âm thầm yêu, chẳng mong nàng đáp lại.

Lúc e dè, khi hăng hái, khổ  nhau.(2)

Yêu chân thành, luôn trìu mến trước sau.

Người theo nàng tôi cầu Trời phù hộ :

Sẽ yêu nàng như từ thuở tôi yêu!

JE VOUS AI AIMÉE

POUCHKINE A.S.

Je vous ai aimée, pourtant dans mon âme

L’amour, peut-être, reste encore en flamme.

Qu’il ne vous inquiète plus! C’est  mon voeu.

Que vous n’en occupiez vous, même un peu!

Sans espoir, je vous aimais en silence.

Tantôt le zèle, tantôt la pudeur

Nous a causé fréquemment des langueurs.(3)

Mon amour pour vous est tendre et sincère.

Je supplie Dieu : Un autre soupirant

Vous aimerait de pareille manière.

(Adaptation de NGUYỄN CHÂN)

25.02.2010

———————-

(1)Tác giả dùng BAC, chứ không TEБЯ, tỏ vẻ tôn trọng, nên tôi không

dịch là EM. Tiếng Việt không có từ tương đương. Tôi tạm dịch là nàng,

ngôi thứ hai. Đây là Ông viết về tình yêu đối với Anna  Ôlênina con

một nhà quí tộc, quen biết từ trước, sau những năm bị đi dầy trở về,

nhưng không được nàng đáp ứng và gia đình nàng cũng không ưng thuận.

(2) Chữ  РЕВНОСТЬ đối nghịch với РОБОСТЬ(RỤT RÈ, E THẸN) nên tôi dịch

theo nghĩa khác : SỐT SẮNG, NHIỆT TÌNH. Hơn nữa trong bài thơ không

chỗ nào nói đến “tình địch” và trong thực tế cũng không có nên không

có GHEN TUÔNG.

(3) So sánh 2 câu 6 và 7 tiếng Pháp với 2 câu sau, nên chọn 2 câu nào

«C’est la pudeur ou le zèle parfois

Nous a causé beaucoup de désarrois” ?

NHỚ VỀ THÀNH THĂNG LONG CŨ

BÀ HUYỆN THANH QUAN

Tạo hoá gây chi cuộc hí trường

Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương

Đá vẫn bền gan cùng tuế nguyệt

Nước còn chau mặt với tang thương

Nghìn năm gương cũ soi kim cổ

Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.

升 龍 城 懷 古

青 觀 縣 尹 夫 人

造 化 為 何 肇 戲 場

至 今 荏 苒 幾 星 霜

輦 車 古 跡 凋 秋 草

樓 閣 陳 基 耀 夕 暘

石 已 披 肝 同 歲 月

水 猶 皺 面 對 桑 滄

千 年 舊 鏡 明 今 古

對 景 時 人 欲 斷 腸

THĂNG LONG THÀNH HOÀI CỔ

THANH QUAN HUYỆN DOÃN PHU NHÂN

Tạo hoá vi hà triệu hí trường

Chí kim nhẫm nhiễm kỉ tinh sương

Liễn xa cổ tích điêu thu thảo

Lâu các trần cơ diệu tịch dương

Thạch dĩ phi can đồng tuế nguyệt

Thuỷ do trứu diện đối tang thương

Thiên niên cựu kính minh kim cổ

Đối cảnh thời nhân dục đoạn trường

REGRETS DE LA VIEILLE CAPITALE THANG LONG

LA SOUS-PRÉFÈTE DE THANH QUAN

Pourquoi Dieu monte cette scène de badinage

Qui se déroule des siècles jusqu’à présent

Les herbes étiolées hantent les chemins d’antan

Où défilaient tant de chevaux et équipages

Les fondements des palais d’autrefois s’étalent

Actuellement sous la clarté vespérale

Les pierres persistent mois et années durant

Les eaux se renfrognent devant ces changements

Le miroir du jadis depuis toujours éclaire

Sans distinctions les évènements millénaires

Oh! Qu’on souffre devant ce spectacle déchirant

NGUYỄN CHÂN 17.04.2009

QUA ĐÈO NGANG

BÀ HUYÊN THANH QUAN

Qua đỉnh Đèo Ngang bóng xế tà,

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.

Lom khom dưới núi, tiều vài chú,

Lác đác bên sông, rợ mấy nhà.(*)

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.(**)

Dừng chân đứng lại : trời, non, nước,(***)

Một mảnh tình riêng ta với ta!

過 橫 巔

青 關 縣 尹 夫 人

步 到 橫 巔 日 已 斜

石 侵 草 樹 葉 侵 花

俯 身 山 下 樵 三 倆

疏 落 江 邊 俗 數 窩

杜 鵡 懷 邦 鳴 國 國

鷓 鴣 傷 眷 叫 家 家

迴 頭 停 步 天 山 水

一 片 私 情 獨 自 嗟

QUÁ HOÀNH ĐIÊN

THANH QUAN HUYỆN DOÃN PHU NHÂN

Bộ đáo Hoành Điên nhật dĩ tà.

Thạch xâm thảo thụ, diệp xâm hoa.

Phủ thân sơn hạ, tiều tam lưỡng,

Sơ lạc giang biên, tục sổ oa.

Đỗ vũ hoài bang minh “quốc quốc”,

Giá cô thương quyến khiếu “gia gia”.

Hồi đầu, đình bộ : thiên, sơn, thủy,

Nhất phiến tư tình, độc tự ta!

AU COL DEO NGANG

LA SOUS – PRÉFÈTE DE THANH QUAN

On arrive au col Deo Ngang juste au crépuscule.

Buissons et pierres, feuilles et fleurs se bousculent.

Dans la vallée deux-trois gens cherchent les bûchettes.

De loin s’entrevoient quelques gîtes riverains.

Se lamente de sa patrie la marouette,

Chiale de sa famille le francolin.

On s’arrête, monts, eaux et cieux innondent les yeux,

Garder sa confidence en soi, seul ce qu’on peut!

——————

(*)Đã từ lâu người ta tranh lụân mãi “chợ mấy nhà” hay “rợ mấy nhà.

“Chợ” thì chẳng ăn nhập gì cả. Còn “rợ” thì bảo là phân biệt chủng

tộc, coi thường người dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, cần  nhớ đây là vào

thời của tác giả. Ngay những năm 1943-1944, ở quê tôi (Thị Cầu-Bắc

Ninh), Pháp đưa một số lính người Tây Nguyên ra để “chống Nhật”, dân

vẫn gọi là “lính Mọi”. Hơn nữa nếu là “chợ” thì sao “đối” được với

“tiều”? Vì vậy tôi cho”rợ” có lí hơn.

(**)” Quốc quốc, gia gia” cũng tranh luận mãi. Quốc quốc thì ổn, nhưng

“gia gia”, có người cho là “da da” lại có người bảo phải là “đa đa”.

Riêng tôi cho đây la từ chỉ có nghĩa “đối” với “quốc

quốc”, vì vậy “gia gia”, đúng hơn. “Quốc quốc” là tương thanh

nhưng”gia gia” thì không, mà “đa đa” cũng không phải. Nó là chim đa

đa, nhưng lại kêu”bắt tép kho cà”, còn có tên là con gà gô.

(***) Câu 7 các sách xưa nay viết như trên, nhưng khi chuyển ngữ, tôi

thấy đã “dừng chân” thì đương nhiên là “đứng lại” rồi, vì vậy trong

bản Hán văn, tôi  thêm “hồi đầu-ngoảnh lại”, còn trong bản Pháp văn

tôi chỉ để một chữ “On s’arrête” thôi.

NGUYỄN CHÂN 20.05.2009

CHIỀU HÔM NHỚ NHÀ

BÀ HUYỆN THANH QUAN

Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn.

Tiếng ốc xa đưa lẫn trống đồn.

Gác mái ngư ông về viễn phố.

Gõ sừng mục tử lại cô thôn.

Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,

Dặm liễu sương sa khách bước dồn.

Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ,

Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn !

日 暮 懷 家

青 關 縣 尹 夫 人

斜 陽 冷 寂 泛 黃 昏

角 鼓 聲 聞 自 遠 屯

漁 父 擱 橈 歸 遠 浦

牧 童 敲 角 復 孤 村

梅 林 風 動 鴉 飛 倦

柳 陌 霜 垂 客 急 奔

人 在 章 臺 人 旅 次

與 誰 可 以 敘 寒 溫

NHẬT MỘ HOÀI GIA

THANH QUAN HUYỆN DOÃN PHU NHÂN

Tà dương lãnh tịch phiếm hoàng hôn

Giác cổ thanh văn tự viễn đồn,

Ngư phủ các nhiêu qui viễn phố,

Mục đồng xao giác phục cô thôn.

Mai lâm phong động nha phi quyện,

Liễu mạch sương thuỳ khách cấp bôn.

Nhân tại Chương Đài, nhân lữ thứ,

Dữ thuỳ khả dĩ tự hàn ôn !

LE MAL DE LA FAMILLE AU SOIR

LA SOUS-PRÉFÈTE DE THANH QUAN

Tremblote la faible lueur crépusculaire.

Le cor et le tambour du poste font tintouin.

Posant la rame le pêcheur gagne un bord lointain,

Frappant les cornes le pâtre rentre au hameau solitaire.

L’oiseau se débat dans le vent sur la forêt.

Le voyageur presse ses pas, longeant les saulées.

L’un est en route, mais l’autre est dans leur foyer,

Avec qui pourrait-on les peines partager !

NGUYỄN CHÂN dịch 23.05.2009

TỨC CẢNH CHIỀU THU

BÀ HUYỆN THANH QUAN

Thánh thót tầu tiêu mấy hạt mưa,

Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ.

Xanh um cổ thụ tròn xoe tán,

Trắng xoá tràng giang phẳng lặng tờ.

Bầu giốc giang sơn say chấp rượu,

Túi lưng phong nguyệt nặng vì thơ.

Cho hay cảnh cũng ưa người nhỉ,

Thấy cảnh ai mà chẳng ngẩn ngơ !

秋 日 暮 即 景

青 關 縣 尹 夫 人

雨 打 芭 蕉 鳴 啪 啪

蕭 疏 畫 景 稱 嘉 那

綠 油 古 樹 連 圓 傘

銀 白 長 流 平 滑 賒

壺 倒 江 山 斟 酒 醉

囊 中 風 月 滿 詩 歌

愛 人 景 也 真 奇 否

對 此 冷 心 可 奈 何

THU NHẬT MỘ TỨC CẢNH

THANH QUAN HUYỆN DOÃN PHU NHÂN

Vũ đả ba tiêu minh phách phách,

Tiêu sơ hoạ cảnh xứng gia na.

Lục du cổ thụ liên viên tản,

Ngân bạch trường lưu bình hoạt xa.

Hồ đảo giang sơn châm tửu tuý,

Nang trung phong nguyệt mãn thi ca.

Ái nhân cảnh dĩ chân kì phủ,

Đối thử lãnh tâm khả nại hà!

PAYSAGE DU SOIR D’AUTOMNE

LA SOUS- PRÉFÈTE DE THANH QUAN

La pluie frappe aux feuilles des bananiers régulièrement.

Le Créateur est louable de ce site séduisant.

Les feuillages ronds séculaires sont d’un vert foncé.

Le fleuve immense et calme reflète un blanc immaculé.

Renversons donc la gourde pour un peu nous enivrer.

La lune et le vent dans la poche sont un vrai Parnasse.

Les hommes, comme ce panorama se met à aimer.

Devant ce paysage enchanteur outre personne ne passe.

NGUYỄN CHÂN dịch 25.05.2009

ĐƯỜNG ĐỜI (*)

KHUYẾT DANH

Màn đã buông rồi, sân khấu vắng

Người đi vạn nẻo có sầu vương?

Ta vào treo kiếm, lau son phấn.

Thôi hết công danh, hết đoạn trường!

世 途

缺 名

劇 終 幕 下 戲 台 寂

觀 眾 帶 愁 散 各 方

我 回 掛 劍 揩 脂 粉

排 脫 功 名 脫 斷 腸

THẾ ĐỒ

KHUYẾT DANH

Kịch chung mạc há  hí đài tịch.

Quan chúng đái sầu tán các phương.

Ngã hồi quải kiếm, khai chi phấn,

Bài thoát công danh, thoát đoạn trường!

—————–

(*)Đầu đề do tôi đặt. Nghe nói bài này của ĐÀO TẤN.

LE COURS DE LA VIE

Le rideau est baissé et la scène est déserte.

Qui donc s’est affligé parmi les spectateurs?

Ainsi j’accroche l’épée et fais la toilette.

Et bien, prennent fin tous les honneurs et douleurs!

NGUYỄN CHÂN dịch 02.08.2009

江 上 色(*)

缺 名

芙 蓉 遍 照 滿 江 紅

人 道 芙 蓉 勝 妾 容

昨 日 妾 隨 江 上 去

為 何 人 不 看 芙 蓉

GIANG THƯỢNG SẮC

Phù dung biến chiếu mãn giang hồng,

Nhân đạo phù dung thắng thiếp dung.

Tạc nhật thiếp tuỳ giang thượng khứ.

Vi hà nhân bất khán phù dung ?

Dịch nghĩa

SẮC ĐẸP TRÊN SÔNG

Ánh hoa sen chiếu đỏ rực cả dòng sông.

Người ta bảo nhan sắc của hoa sen hơn nhan sắc của thiếp.

Hôm qua thiếp đã theo dòng sông mà đi xa.

Vì sao người ta lại không đến ngắm hoa sen nữa?

——————

(*) Tên bài do tôi đặt. Tuy có bị “mạ đề” nhưng có lẽ hợp hơn cả.

SẮC ĐẸP TRÊN SÔNG

KHUYẾT DANH

Ánh sen đỏ rực dòng sông,

Người rằng nhan sắc thiếp không thể bì.

Hôm qua rời bến thiếp đi,

Vì sao người chẳng đoái gì đến sen ?

Đỏ rực dòng sông ánh sắc sen.

Người so nhan sắc thiếp đây hèn.

Hôm qua thiếp đã xa rời bến.

Sen đẹp sao người chẳng đến xem ?

LA BEAUTÉ SUR LA RIVIÈRE

Les fleurs de lotus rougissent toute la rivière.

On dit qu’en comparant avec le mien

leur charme est meilleur.

Hier je m’en suis allée, laissant cet embarcadère.

Pour quelle raison on ne vient plus contempler ces fleurs ?

NGUYỄN CHÂN 06.04.2008

江 上 色(*)

缺 名

芙 蓉 遍 照 滿 江 紅

人 道 芙 蓉 勝 妾 容

昨 日 妾 隨 江 上 去

為 何 人 不 看 芙 蓉

GIANG THƯỢNG SẮC

Phù dung biến chiếu mãn giang hồng,

Nhân đạo phù dung thắng thiếp dung.

Tạc nhật thiếp tuỳ giang thượng khứ.

Vi hà nhân bất khán phù dung ?

Dịch nghĩa

SẮC ĐẸP TRÊN SÔNG

Ánh hoa sen chiếu đỏ rực cả dòng sông.

Người ta bảo nhan sắc của hoa sen hơn nhan sắc của thiếp.

Hôm qua thiếp đã theo dòng sông mà đi xa.

Vì sao người ta lại không đến ngắm hoa sen nữa?

——————

(*) Tên bài do tôi đặt. Tuy có bị “mạ đề” nhưng có lẽ hợp hơn cả.

ĐƯỜNG ĐỜI (*)

KHUYẾT DANH

Màn đã buông rồi, sân khấu vắng

Người đi vạn nẻo có sầu vương?

Ta vào treo kiếm, lau son phấn.

Thôi hết công danh, hết đoạn trường!

世 途

缺 名

劇 終 幕 下 戲 台 寂

觀 眾 帶 愁 散 各 方

我 回 掛 劍 揩 脂 粉

排 脫 功 名 脫 斷 腸

THẾ ĐỒ

KHUYẾT DANH

Kịch chung mạc há  hí đài tịch.

Quan chúng đái sầu tán các phương.

Ngã hồi quải kiếm, khai chi phấn,

Bài thoát công danh, thoát đoạn trường!

—————–

(*)Đầu đề do tôi đặt. Nghe nói bài này của ĐÀO TẤN.

LE COURS DE LA VIE

Le rideau est baissé et la scène est déserte.

Qui donc s’est affligé parmi les spectateurs?

Ainsi j’accroche l’épée et fais la toilette.

Et bien prennent fin tous les honneurs et douleurs!

NGUYỄN CHÂN dịch 02.08.2009

江 上 色(*)

缺 名

芙 蓉 遍 照 滿 江 紅

人 道 芙 蓉 勝 妾 容

昨 日 妾 隨 江 上 去

為 何 人 不 看 芙 蓉

GIANG THƯỢNG SẮC

KHUYẾT DANH

Phù dung biến chiếu mãn giang hồng,

Nhân đạo phù dung thắng thiếp dung.

Tạc nhật thiếp tuỳ giang thượng khứ.

Vi hà nhân bất khán phù dung ?

Dịch nghĩa

SẮC ĐẸP TRÊN SÔNG

Ánh hoa sen chiếu đỏ rực cả dòng sông.

Người ta bảo nhan sắc của hoa sen hơn nhan sắc của thiếp.

Hôm qua thiếp đã theo dòng sông mà đi xa.

Vì sao người ta lại không đến ngắm hoa sen nữa?

—————-

(*) Tên bài do tôi đặt. Tuy có bị “mạ đề” nhưng có lẽ hợp hơn cả.

SẮC ĐẸP TRÊN SÔNG

KHUYẾT DANH

Ánh sen đỏ rực dòng sông,

Người rằng nhan sắc thiếp không thể bì.

Hôm qua rời bến thiếp đi,

Vì sao người chẳng đoái gì đến sen ?

Đỏ rực dòng sông ánh sắc sen.

Người so nhan sắc thiếp đây hèn.

Hôm qua thiếp đã xa rời bến.

Sen đẹp sao người chẳng đến xem ?

LA BEAUTÉ SUR LA RIVIÈRE

Les fleurs de lotus rougissent toute la rivière.

On dit qu’en comparant avec le mien

leur charme est meilleur.

Hier je m’en suis allée, laissant cet embarcadère.

Pour quelle raison on ne vient plus

contempler ces fleurs ?

NGUYỄN CHÂN 06.04.2008

GIỌT LỆ THU (I)

TƯƠNG PHỐ

Trời thu ảm đạm một mầu,

Gió thu hiu hắt thêm rầu lòng em.

Trăng thu bóng ngả bên thềm,

Tình thu ai để duyên em bẽ bàng.

秋 淚 (一)

相 浦

黯 淡 秋 天 惟 一 色

秋 風 微 送 引 愁 思

簷 前 秋 月 移 斜 影

誰 惹 秋 情 使 我 羞

THU LỆ (I)

Ảm đạm thu thiên duy nhất sắc,

Thu phong vi tống dẫn sầu tư.

Thiềm tiền thu nguyệt di tà ảnh,

Thuỳ nhạ thu tình sử ngã tu.

LARMES D’AUTOMNE (I)

Tout sombre et triste est le ciel de l’automne.

M’afflige son vent qui souffle et fredonne.

La lune au déclin laisse au perron sa lueur.

Toujours l’amour de nos jours me serre le coeur.

NGUYỄN CHÂN dịch 23.07.2009

GIỌT LỆ THU (II)

TƯƠNG PHố

Sầu thu nặng, lệ thu đầy,

Vi lau san sát hơi may lạnh lùng.

Ngổn ngang trăm mối bên lòng,

Ai đem thu cảnh bạn cùng thu tâm.

秋 淚 (二)

相 浦

汪 汪 秋 淚 秋 愁 滿

瑟 瑟 蘆 葦 冷 落 深

百 緒 千 絲 心 態 亂

誰 將 秋 景 入 秋 心

THU LỆ (II)

Uông uông thu lệ, thu sầu mãn

Sắt sắt lô vi, lãnh lạc thâm

Bách tự thiên ti tâm thái loạn

Thuỳ tương thu cảnh nhập thu tâm.

LARMES D’AUTOMNE (II)

La roselière bruit sous la bise glaciale.

Je m’embrouille devant ce spectacle affligeant

Excitée toujours à tant de larmoiements.

Qui m’a bourré au coeur cette scène automnale?

NGUYỄN CHÂN 07.08.2009

THU ĐIẾU

NGUYỄN KHUYẾN

Ao thu lạnh lẽo, nước trong veo.

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí.

Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.

Tầng mây lơ lửng, trời xanh ngắt.

Ngõ trúc quanh co, khách vắng teo.

Tựa gối, ôm cần, lâu chẳng được.

Cá đâu đớp dộng dưới chân bèo!

秋 釣

阮 勸

清 水 冷 池 滿 氣 秋

泛 流 一 葉 小 漁 舟

翠 波 水 面 漣 漪 起

黃 葉 風 間 飄 落 颼

碧 上 悠 悠 雲 一 段

竹 途 曲 曲 客 全 無

持 竿 倚 膝 堅 遲 待

苹 下 動 彈 數 鯉 魚

CÂU CÁ MÙA THU

NGUYỄN KHUYẾN

Thanh thuỷ lãnh trì mãn khí thu.

Phiếm lưu nhất diệp tiểu ngư chu.

Thuý ba thủy diện liên y khởi.

Hoàng diệp phong gian phiêu lạc sưu.

Bích thượng du du vân nhất đoạn.

Trúc đồ khúc khúc khách toàn vô.

Trì can, ỷ tất kiên trì đãi.

Bình hạ động đàn sổ lí ngư.

PÊCHE EN AUTOMNE

NGUYEN KHUYEN

Sur la mare à l’eau claire et dans l’air froid

Un petit sampan du pêcheur dérive.

Les vaguelettes bleues se poursuivent.

Sous le vent, les feuilles jaunes tournoient.

Dans l’azur erre un nuage indécis.

L’allée des bambous, personne ne suit.

S’accoudant aux genoux, la ligne en main

Longuement on a attendu en vain

Les poissons frétillant sous les lentilles.

NGUYỄN CHÂN dịch 29.05.2009

THU VỊNH

NGUYỄN KHUYẾN

Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao.

Ngõ trúc lơ phơ gió hắt hiu.

Nước biếc coi như tầng khói phủ,

Song thu để mặc ánh trăng vào.

Mấy chùm trước giậu, hoa năm ngoái,

Một tiếng trên không, ngỗng nước nào?

Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,

Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào!

秋 詠

阮 勸

秋 天 盡 碧 幾 層 高

竹 巷 稀 疏 拂 拂 搖

綠 水 看 如 煙 幕 覆

秋 窗 隨 便 月 明 遨

去 年 花 簇 提 籬 上

何 處 天 鵝 叫 覓 巢

執 筆 欲 揮 心 自 愧

不 如 陶 老 顯 風 騷

THU VỊNH

NGUYỄN KHUYẾN

Thu thiên tận bích kỉ tằng cao

Trúc hạng hi sơ phất phất dao.

Lục thủy khán như yên mạc phú,

Thu song tuỳ tiện nguyệt minh ngao.

Khứ niên hoa thốc đề li thượng,

Hà xứ thiên nga khiếu mịch sào.

Chấp bút dục huy tâm tự quí,

Bất như Đào Lão hiển phong tao!

PAYSAGE D’AUTOMNE

NGUYEN KHUYEN

L’azur d’automne est profondément immaculé.

Sous le vent, les bambous légèrement s’agitent.

Un voile de fumée enrobe l’eau limpide.

L’embrasure laisse entrer la lune à son gré.

Les fleurs sur la haie rappellent celles de l’année passée.

Un cri de cygne ! Il vient de quelle contrée?

Inspiré, on voudrait prendre le pinceau,

Mais pensant à Dao Tiem, on se sent honteux!(*)

——————-

(*) Dao Tiem (365-427) : Célèbre poète chinois.

NGUYỄN CHÂN dịch 30.05.2009

СНЕЖНАЯ РАВНИНА, БЕЛАЯ ЛУНА

ECEHИН С.

Снежная равнина , белая луна,

Саваном покрыта наша сторона.

И берёзы в белом плачут по лесам.

Кто погиб здесь? Умер? Уж не я ли сам ?

BÌNH NGUYÊN TUYẾT DƯỚI TRĂNG

ỄXÊNIN S.

Mênh mông tuyết phủ bình nguyên

Dưới trăng như vải liệm trên quê nhà.

Bạch dương trắng lệ rừng già,

Ai vừa tạ thế ? Chính ta không chừng !

LA PLAINE NEIGEUSE AU CLAIR DE LUNE

ÉSÉNINE S.

De la plaine neigeuse et du disque argenté

Mon pays est couvert d’un linceul au teint blême.

Et les bouleaux tout blancs pleurent dans la forêt.

Qui trépassa ici ? Peut-être c’est moi-même ?

雪 原 月 下

雪 原 月 下 白 光 寒

酷 似 家 鄉 渾 襝 覆

林 中 立 泣 白 楊 行

此 地 誰 亡 真 我 否

TUYẾT NGUYÊN NGUYỆT HẠ

Tuyết nguyên nguyệt hạ bạch quang hàn,

Khốc tự gia hương hồn liệm phú.

Lâm trung lập khấp bạch dương hàng.

Thử địa thuỳ vong ? Chân ngã phủ ?

NGUYỄN CHÂN DỊCH 30.07.2008

ЦВЕТЫ

ЕСЕНИН C.

Цветы мне говорят прощай!

Головками кивая низко.

Ты больше не увидишь близко

Родное поле, очий край!

Любимые! Ну что ж? Ну что ж?

Я видел вас и видел землю.

И эту гробовую дрожь,

Как ласку новую приемлю!

NHỮNG BÔNG HOA

ÊXÊNIN S.

Cúi đầu hoa vĩnh biệt ta:

Từ nay chẳng thấy quê nhà gần đâu!

Thì sao? Đành vậy, mặc dầu

Ta cùng hoa, đất thân nhau lâu rồi!

Hoa run trên nắp quan tài

Mến thương, âu yếm mới này xin ghi!

花  束

低  頭  別  我  數  叢  花

從  此  鄉  關  見  奈  何

如  是  做  摸  應  也  罷

我  曾  賞  您  共  山  河

此   時  棺 上  花  微  抖

迎  合  新  傳  偎  愛  那

HOA THÚC

Đê đầu biệt ngã sổ tùng hoa

Tòng thử hương quan kiến nại hà

Như thị tố mô ưng dã bãi

Ngã tằng thưởng nhĩ cộng sơn hà

Thử thời quan thượng hoa vi đẩu

Nghinh hợp tân truyền ôi ái na.

BOUQUET DE FLEURS

ÉSÉNINE S.

Me faisant adieu, les fleurs s’inclinent très bas.

Tu n’apercevras plus ton pays natal! Toi!

Mais oui, chères amies! Eh bien quoi! Eh bien quoi!

Je l’ai vu, et aussi je vous ai vues déjà!

À vos frissons au-desus de mon cercueil

Comme caresses, je réserve bon accueil!

NGUYỄN CHÂN 08.02.2008

ПАРУС

ЛЕРМОНТОВ М.

Белеет парус одинокой

В тумане моря голубом.

Что ищет он в сране далёкой?

Что кинул он в ккраю родном?

Играют волны, ветер свищет.

И мачта гнётся, и скрипит.

Увы ! Он счастия не ищет.

И от счастия не бежит.

Под ним струя светлей лазури.

Над ним луч солнца золотой.

А он, мятежный, просит бури.

Как будто, в бурях есть покой.

CÁNH BUỒM

LERMONTOV M.

Cánh buồm trắng đơn côi

Trong sương lam biển cả.

Tìm gì chốn xa xôi?

Bỏ gì trên đất tổ?

Và gió reo, sóng vỗ,

Kẽo kẹt cột buồm cong.

Vốn hạnh phúc không mong

Và cũng không chối bỏ!

Trong xanh lướt trên làn

Dưới ánh vàng rực rỡ.

Vùng lên kêu bão tố

Dường trong đó bình an!

LA VOILE

LERMONTOV M.

Blanchit la voile solitaire

Dans l’espace brumeux de la mer.

Qu’est-ce-qu’elle cherche au lointain?

Que laisse-t-elle sur cette terre?

Les flots déploient, sifflent les vents.

Le mât se courbe, tout en craquant.

Ne cherchant pas les bonheurs, pourtant

Elle ne les refuse point!

Glissant sur les vagues bleuâtres

Sous les rayons solaires éclatants

Elle révolte, appellant les tempêtes

Comme si la paix règne dedans!

NGUYỄN CHÂN 15.08.2008 (Adaptation)

Phung Thi Hong Van

16:35, 13 thg 7, 2018 (19 giờ trước)

tới tôi

ПРОЩАЙ, НЕМЫТАЯ РОССИЯ

ЛЕРМОНТОВ М.

Прощай, немытая Россия,

Страна рабов, страна господ.

И вы, мундиры голубые,

И ты, им преданный народ.

Быть может, за стеной Кавказа

Укроюсь от твоих пашей,

От их всевидящего глаза,

От их всеслышащих ушей.

VĨNH BIỆT NƯỚC NGA

LERMOMTOV M.

Xin vĩnh biệt nước Nga còn nhem nhuốc

Của nông nô và chúa đất quí ngài.

Vĩnh biệt luôn, xanh quân phục các ngươi

Cùng dân đen luôn vì ai chung thuỷ.

Có thể rồi, sau Cáp-ca chướng luỹ

Khuất mắt tôi bọn quyền quí nhỏ to

Với nhãn quan luôn chỉ biết rình mò

Và đôi tai chỉ toàn lo hóng hớt.

ADIEU, RUSSIE AVILISSANTE

LERMONTOV M.

Russie avilissante, Adieu !

Pays des esclaves et des maitres.

Adieu! vous, uniformes bleus,

Et toi, peuple! À eux dévoué.

Peut-être derrière la chaine de Kavkaz

Je me débarrasserai de tous tes pachas

Aux yeux qui scrutent tout en permanence,

Et ses oreilles qui se dressent avec constance.

NGUYỄN CHÂN 29.08.2008 (Adaptation)

BẾN XƯA

XUÂN SÁCH

Tôi về tới bến sông xưa,

Hút tàn điếu thuốc mà chưa gọi đò.

Nhìn theo ngọn khói  vu vơ

Nhớ thương thì có, đợi chờ thì không.

Buồn ai thả lại giữa dòng

Cho tôi mang lấy nặng lòng chiều nay.

Hư hao một thoáng heo may

Sương nhoà mặt đất, mây bay cuối trời.

Cất lên một tiếng : Đò ơi!

Nhỏ nhoi như giọt mưa rơi giữa đồng!

L’ANCIEN EMBARCADÈRE

XUAN SACH

Je viens de rentrer à l’ancien embarcadère

Et termine à fumer toute une cigarette.

En ne me hâtant pas à héler la barque.

Couvant des yeux sa fumée, je me laisse

Saisir par des attachements, mais pas d’attentes

Souffle légèrement l’aquilon

Répandant les brouillasses sur la terre.

Et dérivant les nuages à l’horízon.

Qui a lâché la tristesse au courant

Que je la repêche en m’en souciant.

Je hèle la barque d’une voix rappellant

Une goutte de pluie qui tombe sur le champ.

NGUYỄN CHÂN 09.08.2009 (Adaptation)

YÊN TỬ

XUÂN SÁCH

Làm vua mà cũng chán,

Bỏ đi theo mây ngàn.

Một nước cờ Yên Tử

Làm bận lòng thế gian.

安 子

當 時 皇 位 厭

尋 覓 雲 山 庵

安 子 一 棋 著

操 心 此 世 間

YÊN TỦ

Đương thời hoàng vị yếm

Tầm mịch vân sơn am.

Yên Tử nhất kì trước

Thao tâm thử thế gian.

YEN TU (*)

Pour lui le trône est devenu si fastidieux.

Il s’en va chercher un coin dans les monts et cieux.

Se rendre à Yen Tu – Une réflexion profonde !

C’est un coup d’échec dont s’occupe tout ce monde.

———————

(*)Après les victoires remportées sur les Mongols en 1385 et 1388, le

Roi TRAN NHAN TONG laisse le trône à son fils pour aller à Yen Tu

étudier le Bouddhisme et devint le fondateur de la secte Truc Lam.

NGUYỄN CHÂN 02.08.2009

VŨNG NƯỚC

NGUYỄN BÍNH

Hồn tôi như vũng nước đầy,

Em như cữ nắng bảy ngày chưa thôi.

Nắng đưa vũng nước lên trời,

Làm mây lơ lửng để rồi làm mưa.

Vũng khô năm đợi, mười chờ.

Mưa sang xứ khác, ai ngờ hồn tôi!

水 窪

阮 丙

我 似 水 窪 常 滿 溢

君 如 七 日 續 晴 天

日 抽 我 盡 行 雲 作

冷 氣 逢 雲 轉 雨 纏

我 請 深 恩 恩 不 應

他 方 雨 露 使 心 煩

THUỶ OA

Ngã tự thuỷ oa thường mãn dật

Quân như thất nhật tục tình thiên

Nhật trừu ngã tận hành vân tác

Lãnh khí phùng vân chuyển vũ triền

Ngã thỉnh thâm ân ân bất ứng

Tha phương vũ lộ sử tâm phiền.

LA FLAQUE D’EAU

NGUYEN BINH

Mon âme est comme une flaque d’eau dormante,

Et toi-Le soleil à chaleur accablante

Qui grille tout sept jours consécutivement

M’enlevant et me transformant en nuages et pluies.

Désséchée, j’attends ces pluies jours et nuits.

Mais elles tombent aux autres lieux, pour autrui.

Qu’elle croie, ma pauvre âme!

NGUYỄN CHÂN 25.07.2009 (Adaptation)

NGỌN NẾN

VŨ ĐÌNH HẠNH

Biết chắt hương từ mưa

Biết lọc màu từ nắng

Hoa làm nên say đắm

Giữa mảnh vườn hoang sơ

Muốn tiếng mình bay cao

Diều phải lên đón gió

Hết chao nghiêng, chao ngửa

Mới ngang tầm trời mây

Thân mảnh mai hao gầy

Ngọn nến kia toả sáng

Muốn làm nên chút nắng

Phải đốt mình lên thôi.

04.1993

LA BOUGIE

VU DINH HANH

Soutirant le parfum de l’eau

Du spectre choisissant le beau

La fleur s’en faisait séduisante

Au jardin en déserte ambiance.

Pour que se répande plus loin son chant

Le cerf-volant doit s’opposer au vent

Constamment en tous sens elle chancèle

Aux nuages en rehaussant ses ailes.

De son corps svelte cette bougie

Sa lumière splendide répand

Un peu de soleil contribuant

Au  monde, elle consume sa vie.

NGUYỄN CHÂN 15.12.2008

Vào ngày 13/07/2018, Phung Thi Hong Van

<hongvanmauthin01011928@gmail.com> viết:

Trả lờiChuyển tiếp