Thơ Việt Phương : CUỘC ĐỜI YÊU NHƯ VỢ CỦA TA ƠI ( khổ 3-4) và

                                                    Chân dung nhà thơ Việt Phương

BÀI THƠ TMCS THÀNH KÍNH DÂNG TẶNG NGƯỜI  ĐI XA…

( TMCS)

Hôm nay, ngồi trong Trà đình dựng nơi đất khách quê người, trước tập thơ Cửa mở của nhà thơ Việt Phương, TMCS mò mẫm từng lời, từng ý để chuyển ngữ …trong lòng xốn xang, nao nao tưởng nhớ một tài Thơ…Về tuổi đời, VP chỉ trước lứa TMCS vài ba năm  nhưng sự trải nghiệm và cống hiến về mọi mặt cho đất nước thì ông lồng lộng ở phía trước rất xa, rất rất xa và ở một tầm cao rất đáng kính nể…Ông có tư tưởng rất sáng tạo và đáng quý nhất là tinh thần dũng cảm nêu ra những ý nghĩ, quan điểm, cách nhìn rất mới ở thời điểm đó…Theo TMCS, đấy chính là điều đáng khâm phục, kính trọng nhất của VP...Hình như việc này, khó khăn , phức tạp, đôi khi “mạo hiểm” hơn nhiều so với lặp lại hoặc diễn giải thêm chung quanh các “nội dung kinh điển” từng là “khuôn vàng, thước ngọc”do các vĩ nhân đề xướng và đã được chọn làm “kim chỉ nam” cho hậu thế…   

Với TMCS, chúng ta không chỉ có một thi sĩ – chiến sĩ Việt Phương mà ở ông còn thấp thoáng đường nét của một LE PENSEUR hao hao như TMCS đã bao lần chiêm ngưỡng ở bảo tàng Le Louvre (Paris- Pháp)…

Xin chân thành dâng lên hương linh Ông đôi dòng cũng là nỗi niềm của một kẻ đi sau, đang học tập ông qua những dòng thơ đang còn ở bước dò dẫm để chuyển ngữ sang Anh và Hán.

Bài THƠ kính dâng Ông, TMCS đã viết Hán thi trước , rồi dịch Nôm sau. 

Kì này xin bổ sung thêm phần Anh ngữ, TMCS vừa hoàn thành.

   Chữ Hán : TMCS.

译越方诗 

(相梅居士) 

他方今日译君诗

回想家乡于战期 

战火朦胧花满放 

人文全胜暴残时 

决心真理胜艰屯

如檄君诗催献身 

奇思忠言恒照耀

山河呼吁译时闻 

Phiên âm: TMCS

DỊCH VIỆT PHƯƠNG THI

                  (TMCS)

Tha phương kim nhật dịch quân thi

Hồi tưởng gia hương ư chiến kì

Chiến hoả mông lung hoa mãn phóng

Nhân văn toàn thắng bạo tàn thì.

 

Quyết tâm chân lí thắng gian truân,

Như hịch, quân thi thôi hiến thân,

Kỳ tứ trung ngôn  hằng chiếu diệu,

Sơn hà hô dụ, dịch thời văn.

Dịch nghĩa: TMCS

DỊCH THƠ VIỆT PHƯƠNG

          (TMCS)

Hôm nay, ở phương xa dịch thơ Ông,

Nhớ lại quê nhà vào thời kì chiến tranh,

Khói lửa mịt mù, hoa (vẫn) nở nhiều,

Tư tưởng Nhân văn đã toàn thắng thời buổi tàn bạo.

Quyết tâm vì Chân lí vượt qua khó khăn,

Thơ Ông như lời hịch thúc dục dấn thân.

Ý tưởng mới lạ, lời lẽ trung thực mãi mãi toả sáng.

Lúc dịch thơ (Ông) nghe thấy tiếng gọi của non sông.

  

Dịch Nôm (TMCS)

  

   DỊCH THƠ VIỆT PHƯƠNG

        Xứ người tôi dịch thơ Anh

Nhớ về một thuở chiến tranh quê nhà,

        Trong bom đạn, vẫn nở hoa,

Vượt trên  tàn bạo, đậm đà nhân văn.

       Vì Chân lí, thắng gian truân

Thơ Anh lời hịch : dấn thân vì đời !

        Lời Ngay, ý Mới  sáng ngời,

Dịch  câu thơ, vọng nghe lời núi sông

                                            TMCS- Juillet 2017

TRANSLATING POEM BY VIỆT PHƯƠNG

(TMCS)

Today in the distance, translating your poetry,

I recall the war time in our country.

Everywhere, there were not only the smoke and fire

But plenty of flowers were blooming meanwhile.

Humanity defeated the cruel even at the time.

For the TRUTH, we decided to overcome every difficulty.

As the proclamation, your poetry encouraged us

to plunge into the struggle for our country. 

New ideas in your righteous poems will be brilliant forever.

In the time of translating your poem,

I hear the call of our mountains and rivers.

                                                                           Juillet 2017.  

CUỘC ĐỜI YÊU NHƯ VỢ CỦA TA ƠI

        (Thơ Việt Phương-Khổ 3-4)

Dịch:

TMCS: Anh, Hán

Trịnh Phúc Nguyên: Pháp

Phan Hoàng Mạnh: Pháp

Ta nhất quyết đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ
Hình như đây là niềm tin, ý chí và tự hào

Mường tượng rằng trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ
Sự ngây thơ đẹp tuyệt vời và ngờ nghệch làm sao

Một phần tư thế kỷ đã qua đi và có lẽ bây giờ ta đã biết
Thế nào là yêu thương thế nào là chém giết
Ta đã thấy những chỗ lõm chỗ lồi trên mặt trăng sao
Những vết bùn trên tận đỉnh chín tầng cao

Anh: TMCS

We confirm the watches made in Soviet Union are undoubtedly

better than the ones made in Switzerland. 

It seems that it’s our belief, our will and our pride.

We imagine that the China’s moon is more perfect than the one of America.

How wonderful and stupid our naivety is !

 

A quarter of century passed already,

 Perhaps now we know well: what’s love and what’s killing.

We can discover the convexities and concavities

On the surface of  the moon and stars.

We can see the muddy stains on the  ranks being so high.

Hán- Phiên âm, dịch nghĩa : TMCS

Tô chung  bì* Thụỵ đinh ninh hảo  Đồng hồ Liên Xô so  Thuỵ sĩ đinh ninh là tốt hơn, 

Ý chí, kiêu tâm cộng tín tâm ???   (Đây là…)Ý chí, lòng tự hào cùng với lòng tin ???

Trung nguyệt bì Hoa kì nguyệt mãn, Trăng TQ so với trăng Hoa kì đầy đặn hơn.

Ngai ngu, kì diệu – ngã thiên chân.   Sự ngây thơ của ta (thật là) tuyệt diệu, ngờ nghệch!

Chấp ngũ dư niên kim nhận thức Quá hai lăm năm, nay đã nhận thức rõ

Tương thân hà dị tỉ  tương tàn   Tương thân so tương tàn khác nhau thế nào

Dĩ tri ao đột tinh cầu thượng.  Đã biết chỗ lồi lõm trên các tinh cầu.

Khả kiến cao tằng nễ thổ ban Có khả năng nhìn thấy vết bùn ở tầng cao.

* 比:  tỉ, bì.

Chữ Hán: TMCS

苏钟比瑞丁宁好 

意志骄心共信心

中月比花旗月满

呆愚奇妙我天真

廿五余年今认识

相亲何异比相残

已知凹凸星球上

可见高层泥土班

Pháp: Trịnh Phúc nguyên

Nous étions déterminés que la montre soviétique était meilleure que la montre Suisse,

Il semblait que c’était la foi,la volonté,la fierté,

Nous croyions que la lune chinoise était plus ronde que celle des Etats-Unis d’Amérique,

Oh!Que cette innocence était tellement superbe et naïve!

Un quart de siècle a passé,peut-être à présent, nous reconnaissons

Que   ce qu’est l’affection ,ce qu’est  le massacre,

Nous avons trouvé les points convexes et concaves sur la configuration de la lune et des étoiles,

Et les traces boueuses sur les sommets de neuf hauts étages.

Pháp: Phan Hoàng Mạnh

Nous étions persuadés que la montre soviétique est meilleure 

                                                                   que la montre suisse.

Il nous semblait que c’est la Foi, la Volonté et la Fierté…

Nous croyions que la lune en Chine est plus ronde que celle 

                                                                         des Etats- Unis …                      

Oh, cette innocence était tellement superbe et naïve!

Un quart de siècle a passé. Peut-être à présent nous reconnaissons

Ce que c’est que l’amour, ce que c’est que tuer.

Nous avions distingué les zones saillantes et creuses sur la surface

                                                                  de la lune et des étoiles

Et les traces de boue sale sur les hauts sommets de neuf étages.

Thơ Việt Phương CUỘC ĐỜI YÊU NHƯ VỢ CỦA TA ƠI( khổ 1-2) và bài thơ TMCS kính tặng người đi xa

Dịch thơ 

TMCS : Anh, Hán.

Trịnh Phúc Ngyên : Pháp

Phan Hoàng Mạnh: Pháp

BÀI THƠ TMCS THÀNH KÍNH DÂNG TẶNG NGƯỜI  ĐI XA…

                 Nhà thơ Việt Phương và vợ ông – bà Tú Lan

Nhà thơ Việt Phương, tập thơ Cửa mở
,

BÀI THƠ TMCS THÀNH KÍNH DÂNG TẶNG NGƯỜI  ĐI XA…

Hôm nay, ngồi trong Trà đình dựng nơi đất khách quê người, trước tập thơ Cửa mở của nhà thơ Việt Phương, TMCS mò mẫm từng lời, từng ý để chuyển ngữ …trong lòng xốn xang, nao nao tưởng nhớ một tài Thơ…Về tuổi đời, VP chỉ trước lứa TMCS vài ba năm  nhưng sự trải nghiệm và cống hiến về mọi mặt cho đất nước thì ông lồng lộng ở phía trước rất xa, rất rất xa và ở một tầm cao rất đáng kính nể…Ông có tư tưởng rất sáng tạo và đáng quý nhất là tinh thần dũng cảm nêu ra những ý nghĩ, quan điểm, cách nhìn rất mới ở thời điểm đó…Theo TMCS, đấy chính là điều đáng khâm phục, kính trọng nhất của VP...Hình như việc này, khó khăn , phức tạp, đôi khi “mạo hiểm” hơn nhiều so với lặp lại hoặc diễn giải thêm chung quanh các “nội dung kinh điển” từng là “khuôn vàng, thước ngọc”do các vĩ nhân đề xướng và đã được chọn làm “kim chỉ nam” cho hậu thế…   

Với TMCS, chúng ta không chỉ có một thi sĩ – chiến sĩ Việt Phương mà ở ông còn thấp thoáng đường nét của một LE PENSEUR hao hao như TMCS đã bao lần chiêm ngưỡng ở bảo tàng Le Louvre (Paris- Pháp)…

Xin chân thành dâng lên hương linh Ông đôi dòng cũng là nỗi niềm của một kẻ đi sau, đang học tập ông qua những dòng thơ đang còn ở bước dò dẫm để chuyển ngữ sang Anh và Hán.

Bài THƠ kính dâng Ông, TMCS đã viết Hán thi trước , rồi dịch Nôm sau. Tất cả mới “hòm hòm”, phác thành cái “khung” như dưới đây:

   Chữ Hán : TMCS.

译越方诗 

(相梅居士) 

他方今日译君诗

回想家乡于战期 

战火朦胧花满放 

人文全胜暴残时 

决心真理胜艰屯

如檄君诗催献身 

奇思忠言恒照耀

山河呼吁译时闻 

Phiên âm: TMCS

DỊCH VIỆT PHƯƠNG THI

                  (TMCS)

Tha phương kim nhật dịch quân thi

Hồi tưởng gia hương ư chiến kì

Chiến hoả mông lung hoa mãn phóng

Nhân văn toàn thắng bạo tàn thì.

 

Quyết tâm chân lí thắng gian truân,

Như hịch, quân thi thôi hiến thân,

Kỳ tứ trung ngôn  hằng chiếu diệu,

Sơn hà hô dụ, dịch thời văn.

Dịch nghĩa: TMCS

DỊCH THƠ VIỆT PHƯƠNG

          (TMCS)

Hôm nay, ở phương xa dịch thơ Ông,

Nhớ lại quê nhà vào thời kì chiến tranh,

Khói lửa mịt mù, hoa (vẫn) nở nhiều,

Tư tưởng Nhân văn đã toàn thắng thời buổi tàn bạo.

Quyết tâm vì Chân lí vượt qua khó khăn,

Thơ Ông như lời hịch thúc dục dấn thân.

Ý tưởng mới lạ, lời lẽ trung thực mãi mãi toả sáng.

Lúc dịch thơ (Ông) nghe thấy tiếng gọi của non sông.

  

Dịch Nôm (TMCS)

  

   DỊCH THƠ VIỆT PHƯƠNG

        Xứ người tôi dịch thơ Anh

Nhớ về một thuở chiến tranh quê nhà,

        Trong bom đạn, vẫn nở hoa,

Vượt trên  tàn bạo, đậm đà nhân văn.

       Vì Chân lí, thắng gian truân

Thơ Anh lời hịch : dấn thân vì đời !

        Lời Ngay, ý Mới  sáng ngời,

Dịch  câu thơ, vọng nghe lời núi sông

                                            TMCS- Juillet 2017

THƠ VIỆT PHƯƠNG:

CUỘC ĐỜI YêU NHƯ VỢ CỦA TA ƠI (Khổ 1-2)

Năm xưa ta nói rất nhiều “cực kỳ” và “hết sức”

Tội nghiệp nhất là ta nói chân thành rất mực
Chưa biết rằng “trời” còn xanh hơn “trời xanh”
Ta thiếu sự trầm lắng đúc nên bởi nhiệt tình.

Ta cứ nghĩ đồng chí rồi thì không ai xấu nữa
Trong hàng ngũ ta chỉ có chỗ của yêu thương
Đã chọn đường đi, chẳng ai dừng ở giữa

Mạc Tư Khoa còn hơn cả thiên đường. 

Anh:  TMCS

OH ! LIFE IS AS LOVELY AS MY WIFE.

 (Poem by Việt Phương – Translation by TMCS)

Since many years ago, we have repeated too much

the words “ super ” and “extremely”.

What a pity that we’ve spoken with our extreme sincerity.

We don’t know that the sky is bluer than the “blue-sky”.

We have not enough the  calm created by the enthusiasm.

We think that those who became “comrades”

Will never be bad persons.

In our ranks, there is only love and pity.

After selection,  stops on the midway nobody.

Moscow is certainly better than paradise.

Hán- Phiên âm, dịch nghĩa: TMCS

TỰ NGÃ THÊ KHẢ ÁI, A NHÂN SINH !
HỠI CUỘC ĐỜI ĐÁNG YÊU NHƯ  VỢ CỦA TA ƠI
 !

(Việt Phương thi – TMCS dịch)         Thơ Việt Phương- TMCS dịch

Cực kì, tuyệt dỉnh, thường niên ngữ. Hàng năm vẫn  nói: Hết mức, cực kì

Lão thực tương đàm,tối khả lân   Đáng thương nhất là nói  thật thà với nhau

Thiên tỉ lam không phi thức biệt Chưa biết phân biệt so sánh trời với trời xanh

Nhiệt tình đào chú thiểu thâm trầm Nhiệt tình hun đúc ra sự thiếu sâu lắng 

Thuỳ vi đồng chí  phi băng hoại        Ai là đồng chí thì không xấu nữa. 崩坏

Nội bộ chi gian chỉ cảm thương.    Nội bộ với nhau chỉ có thương yêu.

Dĩ hoạch hành trình nhu đáo đích. Đã vạch đường di phải đến đích.

Mạc tư khoa mỹ thắng thiên đường.  Mạc tư khoa đẹp hơn thiên đường.

Chữ Hán: TMCS

似我妻可爱-阿人生. 

(越方诗- 相梅居士译)

极其绝顶常年语

老实相谈最可怜

天比蓝空非识别

热情陶铸少深沉

谁为同志非崩坏

内部之间只感伤

已划路程行到的

莫斯科美胜天堂

Pháp: Trịnh Phúc Nguyên

OH! QUE LAVIE EST BELLE, QUE JE T’AIME COMME MON ÉPOUSE AIMÉE !

Le temps passé,nous avons trop souvent parlé:”extrêmement,beaucoup plus”,

Le plus pitoyablement,c’est que nous avons parlé avec grande sincérité,

Ne sachant que le”Ciel” était encore plus bleu que le”Ciel bleu”

Nous manquions ce caractère calme ,cultivé par l’enthousiasme.

Nous croyions toujours qu’étant camarades,aucun de nous n’était mauvais,

Dans nos rangs,il n’y avait qu’une seule place pour l’affection,

Une fois le chemin à parcourir déjà choisi,personne ne s’arrêterait à mi-chemin,

Moscou est mieux que Paradis!

Pháp: Phan Hoàng Mạnh.

 OH LA VIE QUE J’AIME COMME MON 

                          ÉPOUSE CHÉRIE!

Les ans passés, nous avions trop souvent employé des  mots  

                                        “extrêmement”, “de toutes forces”…

Et bien pitoyable , c’était que nous avions parlé en toute

                                                                                      sincérité!

Nous ne savions pas que “le ciel” est encore plus bleu  que “le

                                                                                       ciel bleu”,

Nous manquions de réflexion profonde,  absorbés par 

                                                                             l’enthiousiasme.

Nous pensions que, étant camarades du Parti, aucun ne 

                                                                             sera mauvais;

Dans nos rangs, il n’existe rien que de l’affection…

Une fois que le chemin a été choisi, personne ne s’arrêtera à 

                                                                                  mi chemin…

Et Moscou est meilleur que même le Paradis!

Dịch thơ 

TMCS : Anh, Hán.

Trịnh Phúc Ngyên : Pháp

Phan Hoàng Mạnh: Pháp

BÀI THƠ TMCS THÀNH KÍNH DÂNG TẶNG NGƯỜI  ĐI XA…

                 Nhà thơ Việt Phương và vợ ông – bà Tú Lan

Nhà thơ Việt Phương, tập thơ Cửa mở
,

BÀI THƠ TMCS THÀNH KÍNH DÂNG TẶNG NGƯỜI  ĐI XA…

Hôm nay, ngồi trong Trà đình dựng nơi đất khách quê người, trước tập thơ Cửa mở của nhà thơ Việt Phương, TMCS mò mẫm từng lời, từng ý để chuyển ngữ …trong lòng xốn xang, nao nao tưởng nhớ một tài Thơ…Về tuổi đời, VP chỉ trước lứa TMCS vài ba năm  nhưng sự trải nghiệm và cống hiến về mọi mặt cho đất nước thì ông lồng lộng ở phía trước rất xa, rất rất xa và ở một tầm cao rất đáng kính nể…Ông có tư tưởng rất sáng tạo và đáng quý nhất là tinh thần dũng cảm nêu ra những ý nghĩ, quan điểm, cách nhìn rất mới ở thời điểm đó…Theo TMCS, đấy chính là điều đáng khâm phục, kính trọng nhất của VP...Hình như việc này, khó khăn , phức tạp, đôi khi “mạo hiểm” hơn nhiều so với lặp lại hoặc diễn giải thêm chung quanh các “nội dung kinh điển” từng là “khuôn vàng, thước ngọc”do các vĩ nhân đề xướng và đã được chọn làm “kim chỉ nam” cho hậu thế…   

Với TMCS, chúng ta không chỉ có một thi sĩ – chiến sĩ Việt Phương mà ở ông còn thấp thoáng đường nét của một LE PENSEUR hao hao như TMCS đã bao lần chiêm ngưỡng ở bảo tàng Le Louvre (Paris- Pháp)…

Xin chân thành dâng lên hương linh Ông đôi dòng cũng là nỗi niềm của một kẻ đi sau, đang học tập ông qua những dòng thơ đang còn ở bước dò dẫm để chuyển ngữ sang Anh và Hán.

Bài THƠ kính dâng Ông, TMCS đã viết Hán thi trước , rồi dịch Nôm sau. Tất cả mới “hòm hòm”, phác thành cái “khung” như dưới đây:

   Chữ Hán : TMCS.

译越方诗 

(相梅居士) 

他方今日译君诗

回想家乡于战期 

战火朦胧花满放 

人文全胜暴残时 

决心真理胜艰屯

如檄君诗催献身 

奇思忠言恒照耀

山河呼吁译时闻 

Phiên âm: TMCS

DỊCH VIỆT PHƯƠNG THI

                  (TMCS)

Tha phương kim nhật dịch quân thi

Hồi tưởng gia hương ư chiến kì

Chiến hoả mông lung hoa mãn phóng

Nhân văn toàn thắng bạo tàn thì.

 

Quyết tâm chân lí thắng gian truân,

Như hịch, quân thi thôi hiến thân,

Kỳ tứ trung ngôn  hằng chiếu diệu,

Sơn hà hô dụ, dịch thời văn.

Dịch nghĩa: TMCS

DỊCH THƠ VIỆT PHƯƠNG

          (TMCS)

Hôm nay, ở phương xa dịch thơ Ông,

Nhớ lại quê nhà vào thời kì chiến tranh,

Khói lửa mịt mù, hoa (vẫn) nở nhiều,

Tư tưởng Nhân văn đã toàn thắng thời buổi tàn bạo.

Quyết tâm vì Chân lí vượt qua khó khăn,

Thơ Ông như lời hịch thúc dục dấn thân.

Ý tưởng mới lạ, lời lẽ trung thực mãi mãi toả sáng.

Lúc dịch thơ (Ông) nghe thấy tiếng gọi của non sông.

  

Dịch Nôm (TMCS)

  

   DỊCH THƠ VIỆT PHƯƠNG

        Xứ người tôi dịch thơ Anh

Nhớ về một thuở chiến tranh quê nhà,

        Trong bom đạn, vẫn nở hoa,

Vượt trên  tàn bạo, đậm đà nhân văn.

       Vì Chân lí, thắng gian truân

Thơ Anh lời hịch : dấn thân vì đời !

        Lời Ngay, ý Mới  sáng ngời,

Dịch  câu thơ, vọng nghe lời núi sông

                                            TMCS- Juillet 2017

THƠ VIỆT PHƯƠNG:

CUỘC ĐỜI YêU NHƯ VỢ CỦA TA ƠI (Khổ 1-2)

Năm xưa ta nói rất nhiều “cực kỳ” và “hết sức”

Tội nghiệp nhất là ta nói chân thành rất mực
Chưa biết rằng “trời” còn xanh hơn “trời xanh”
Ta thiếu sự trầm lắng đúc nên bởi nhiệt tình.

Ta cứ nghĩ đồng chí rồi thì không ai xấu nữa
Trong hàng ngũ ta chỉ có chỗ của yêu thương
Đã chọn đường đi, chẳng ai dừng ở giữa

Mạc Tư Khoa còn hơn cả thiên đường. 

Anh:  TMCS

OH ! LIFE IS AS LOVELY AS MY WIFE.

 (Poem by Việt Phương – Translation by TMCS)

Since many years ago, we have repeated too much

the words “ super ” and “extremely”.

What a pity that we’ve spoken with our extreme sincerity.

We don’t know that the sky is bluer than the “blue-sky”.

We have not enough the  calm created by the enthusiasm.

We think that those who became “comrades”

Will never be bad persons.

In our ranks, there is only love and pity.

After selection,  stops on the midway nobody.

Moscow is certainly better than paradise.

Hán- Phiên âm, dịch nghĩa: TMCS

TỰ NGÃ THÊ KHẢ ÁI, A NHÂN SINH !
HỠI CUỘC ĐỜI ĐÁNG YÊU NHƯ  VỢ CỦA TA ƠI
 !

(Việt Phương thi – TMCS dịch)         Thơ Việt Phương- TMCS dịch

Cực kì, tuyệt dỉnh, thường niên ngữ. Hàng năm vẫn  nói: Hết mức, cực kì

Lão thực tương đàm,tối khả lân   Đáng thương nhất là nói  thật thà với nhau

Thiên tỉ lam không phi thức biệt Chưa biết phân biệt so sánh trời với trời xanh

Nhiệt tình đào chú thiểu thâm trầm Nhiệt tình hun đúc ra sự thiếu sâu lắng 

Thuỳ vi đồng chí  phi băng hoại        Ai là đồng chí thì không xấu nữa. 崩坏

Nội bộ chi gian chỉ cảm thương.    Nội bộ với nhau chỉ có thương yêu.

Dĩ hoạch hành trình nhu đáo đích. Đã vạch đường di phải đến đích.

Mạc tư khoa mỹ thắng thiên đường.  Mạc tư khoa đẹp hơn thiên đường.

Chữ Hán: TMCS

似我妻可爱-阿人生. 

(越方诗- 相梅居士译)

极其绝顶常年语

老实相谈最可怜

天比蓝空非识别

热情陶铸少深沉

谁为同志非崩坏

内部之间只感伤

已划路程行到的

莫斯科美胜天堂

Pháp: Trịnh Phúc Nguyên

OH! QUE LAVIE EST BELLE, QUE JE T’AIME COMME MON ÉPOUSE AIMÉE !

Le temps passé,nous avons trop souvent parlé:”extrêmement,beaucoup plus”,

Le plus pitoyablement,c’est que nous avons parlé avec grande sincérité,

Ne sachant que le”Ciel” était encore plus bleu que le”Ciel bleu”

Nous manquions ce caractère calme ,cultivé par l’enthousiasme.

Nous croyions toujours qu’étant camarades,aucun de nous n’était mauvais,

Dans nos rangs,il n’y avait qu’une seule place pour l’affection,

Une fois le chemin à parcourir déjà choisi,personne ne s’arrêterait à mi-chemin,

Moscou est mieux que Paradis!

Pháp: Phan Hoàng Mạnh.

 OH LA VIE QUE J’AIME COMME MON 

                          ÉPOUSE CHÉRIE!

Les ans passés, nous avions trop souvent employé des  mots  

                                        “extrêmement”, “de toutes forces”…

Et bien pitoyable , c’était que nous avions parlé en toute

                                                                                      sincérité!

Nous ne savions pas que “le ciel” est encore plus bleu  que “le

                                                                                       ciel bleu”,

Nous manquions de réflexion profonde,  absorbés par 

                                                                             l’enthiousiasme.

Nous pensions que, étant camarades du Parti, aucun ne 

                                                                             sera mauvais;

Dans nos rangs, il n’existe rien que de l’affection…

Une fois que le chemin a été choisi, personne ne s’arrêtera à 

                                                                                  mi chemin…

Et Moscou est meilleur que même le Paradis!

Lý Vĩnh Cường : Lời nói đầu sách 1000 bức danh họa TQ , Do Đỗ Anh Thơ dịch

 (*) Một năm nay, nhằm chống quên tiếng Tầu , Docago miễn cưỡng ký hợp đồng dịch quyển 1000 bức danh họa TQ cho NS Thăng Long .

           Công việc sắp hoàn tất , nhưng do sách được mua bản quyền mà Docago chỉ là người dịch thuê , nên không thể công bố hết trên mạng . Vậy chỉ post một đoạn mở đầu để giới thiệu với bạn đọc thấu hiểu cho chút bền bỉ trong tuổi già của dịch giả . Bạn nào quan tâm tới hội họa TQ xin chờ khi sách ra mắt ./.

                                              Đỗ Anh Thơ

 

Tổng luận

 

Lịch sử Trung Quốc họa đã có rất lâu đời, bắt đầu từ văn hoá gốm màu thời kỳ nguyên thuỷ tới ngày nay, thế kỷ 21 với nhiều sắc thái, đã trải qua thời gian hàng nghìn năm dài dằng dặc, lưu truyền, kế thừa, phát triển, đột phá, cách tân không ngừng, dã được lịch sử chọn lọc và tích lũy định hinh văn hoá, cuối cùng khiến cho Trung quốc hoạ  trở thành báu vật đặc sắc của vườn hoa nghệ thuật dân tộc Trung Hoa, trở thành một kỳ tích, doá hoa  ngoan mục trong vườn hoa thế giới .

Trung quốc hoạ dựa vào triết học Trung Quốc làm nội dung tư tưởng, lấy cơ sở văn hoá văn, sử, triết…làm chỗ dựa cho khoa học nghệ thuật. So với nghệ thuật phương Tây, có sự khác biệt rất lớn. Nó kết tinh phương thức tư duy độc đáo của người Trung Quốc, là hình thức biểu thị hoàn mỹ của văn hoá Trung Hoa, giống như một cái gương để chúng ta soi hiện tượng văn hoá của triết học, tôn giáo, đạo đức, văn nghệ …của các thời kỳ lịch sử. Nó cũng giống như một con sông dài, chảỷ êm đềm qua các vùng miền, đều lưu lại sinh khí văn hoá và hương thơm nghệ thuật .

Từ manh nha đến lúc hình thành, Trung quốc hoạ trải qua một quá trình lịch sử lâu dài, khởi đầu có thể đã chìm đắm trong thời kỳ tiền sử xa xôi, hội hoạ thời đại đồ đá mới chủ yếu tập trung trên phương diện nghệ thuật vẽ trên đá và gốm màu, chúng nằm trong giai đoạn lạm tràng, là mạch nước đầu nguồn của Trung quốc hoạ . Những  mài khắc trên đồ đá, những đẽo đục trên nham thạch, trên vách động đó đều dùng vật liệu mầu của khoáng  chất để vẽ tạo nên hình thái ban đầu của Trung quốc hoạ. Những cảnh và hoạt đông như săn bắn, cầu cúng tế tự, hoặc ca múa, hoặc nông tác, đều thể hiện cảnh sinh hoạt của người thời nguyên thuỷ, mang tính sinh hoạt, thần bí và thú vui chơi nhất đinh . Những hoa văn trang trí trên gốm màu hoặc ảnh tượng cụ thể , ảnh trừu tượng đều có quan hệ mật thiết với sinh hoạt người thời nguyên thuỷ, như nghi thức cúng bái, vu thuât, thờ cúng totem, săn bắn, trồng trọt …truyền đạt tư tưởng và ý thức thẩm mỹ của người đời xưa .

Thành tựu nghệ thuật thời kỳ Tiên Tần  chủ yếu tập trung ở phương diện đồ vật bằng thanh đồng. Nghệ thuật hội hoạ của nó thể hiện trên tranh vách (壁 画 –bích hoạ) và tranh lụa ( 帛画 –bạch hoạ ) còn tương đối yếu. Vẽ hình tượng người là chính, có tác dụng biểu thị vui buồn, thịnh suy, làm gương, răn đe, chiến công trận mạc, khoa trương công trạng.

Hội hoạ thời kỳ này có hình thức đơn điệu, thủ pháp kỹ thuật đơn giản, gam màu ít, tạo hình giản lươc nhưng cũng đã cải biến trạng thái hội hoạ dựa trên vật dụng, biểu  hiện được tính độc lập nhất định . Thời kỳ Tần Hán  do sùng bai phong khí xã hội sau khi chết (hậu táng) nên hội hoạ chủ yếu biểu hiện hình thức vẽ trên vách nhà mồ ( mộ thất bích hoạ) , đá tạc tượng và gạch tạc tượng. Những hội hoạ này chủ yếu miêu tả nội dung sinh hoạt, hưởng lạc của chủ nhân ngôi mộ lúc còn sống và nơi tiên cảnh lúc chết.  Cách nhìn , thẩm mỹ và nghệ thuật trên lịch sử văn hoá Trung Quốc về cơ bản có từ thời kỳ Nam Bắc triều.  Hội hoạ thời kỳ này, một mặt vẫn kế thừa mang tính  giáo hoá và hỗ trợ  luân lý đạo đức ( “thành giáo hoá, trợ công luân” ), mặt khác  là có thể giúp người xem hưởng thụ cái đẹp. Đề tài chủ yếu tập trung ở phương diện nhân vật.  Lúc này vẽ người

nhân vật hoạ) đã đạt tới mức độ thành thục cao,  còn tranh sơn thuỷ, tranh hoa lá và chim ( hoa điểu hoạ) chưa thành một ngành độc lập mà tồn tại dựa vào làm bối cảnh cho nhân vật hoạ.  Thành tựu của tranh nhân vật đã đạt thành tựu cao , nó không những đã có những tác phẩm lưu truyền mà còn có sách lý luân. Trong thời kỳ Nam Bắc triều- Nguỵ Tấn nó đã chiếm địa vị không nhỏ.  Với tác phẩm “ Lời khuyên răn con gái ” (“ Nữ sử châm đồ ” ) có thể nói là đã đặt đến đỉnh cao tác phẩm kinh điển . Còn mệnh đề về mỹ học hội họa như “ Truyền thần tả chiếu” ( 传 神写照 –  vẽ sao cho lột tả được cái thần của nhân vật- ND chú) “ Thiên tưởng diệu đắc”  ( 迁 想 妙 得 – nghĩa là dời ý tưởng( chủ quan)  để đạt được sự diệu kỳ  của bức tranh. ) (*)… cũng đã đạt tới phương pháp số một là “ khí vận sinh động” trong lục pháp (**) (**).

………………………………………………………

(*) ND chú :

Theo nhiều học giả, trong đó có Quách Mạt Nhươc  cho rằng Cố Khải Chi đã viết nhầm. Đây phải là chữ ( hà) nghĩa là “ làm sao”  và câu trên có thể dịch là “ Nghĩ làm sao để có thể đạt được sự kỳ diệu của bức tranh.

   (**) Lục pháp: 1.- Khí vận sinh động(气韵生动)  2 Cốt pháp dụng bút ( 骨法用笔) ,3.-  Ứng vật tương hình (应物象形) ,4.- Tùy loại phủ màu (随 类赋彩),5。– Vị trí kinh doanh  (经营位置)6.- Chuyển dịch mô tả (传移模写)。”

——————————————————–

Cố Khải Chi nói : ‘Tứ thể nghiên xuy bản vong quan ư diệu xứ ” ( 四 体妍媸本亡关于妙处nghĩa là bốn dáng xấu, đẹp, có, không… đều nhờ ở sự khéo léo ) ‘Truyền thần tả chiếu, chính tại a đổ trung” (传神写照正在阿堵中nghiã là truyền được cái thần của bức vẽ hay không chính là ở tự nó, nhờ sự xuất thần. – chữ 阿堵 là một khẩu ngữ cổ, ở đây có nghĩa là như thế , sự xuất thần- ND chú) .

Lại xem sách “ Thế thuyết tân ngữ” của Lưu Nghĩa Khánh đời Nam Tống , đối chiếu với những ghi chép luận thuyết liên quan với nghệ thuật, thì ta có thể nhận định rõ rằng Cố Khải Chi không đề xướng ra thuyết lấy hình dáng để tả thần khí con người ( “ Dĩ hình tả thần” ( 以 形 写 神 – lấy hình dáng để tả thần khí con người) vậy.

Ngoài Cố Khải Chi  lúc này tranh vẽ người còn có Tào  Bất Hưng, Vệ Hiệp, Lục Tham Vi , Trương Tăng Diêu,Tiêu Ráng,       Tào Trọng Đạt   ….Họ đã sáng tạo nên những kiểu vẽ nhân vật khác nhau . ví như kiểu vẽ sơ lược ( 疏 体-  sơ thể ) kiểu vẽ “ nhất nhị “ ( Bút tại  tài nhất nhị, tướng dĩ ứng yên ( 笔才 一 二 像 已 应 焉 ) nghĩa là chỉ với một vài nét bút đã có thần tướng rồi  của Trương Tăng Diêu và kiểu vẽ nét bút kín đặc “ Bút tích chu mật” của Lục Tham Vi , như “ Y phục khẩn trách“ ( áo xiêm ken đầy)  “Tào y xuất thuỷ “ ( áo quần như nước) của Tào Bất Hưng …thì có thể nói nhân vật hoạ lúc đó  đã đạt tới trạng thái thành thục cao độ .

Sơn thuỷ hoạ và hoa điểu hoạ ở thời kỳ này cũng đã có sự phát triển nhất định nhưng chưa thành trào lưu chính. Tuy nhiên lúc này nó cũng đã xuất hiện những hoạ gia chuyên môn và những bài lý luận hội hoạ như “ Hoạ sơn thuỷ tự” ( lời bàn về vẽ tranh song núi) của Tôn Bính  , “ Tự họa” ( Lời tựa về hội họa ) của Vương Vi ( 王 微) …đã lý giải đối với  sơn thuỷ hoạ hết sức  tinh tường.. Tôn Bỉnh đem sơn thuỷ hoạ quy về “ Thần tư” ( nghĩa là suy tư thần thánh).  Vương Vi cũng nói ‘ Đồ họa phi chỉ nghệ hành, thành đương dị tương đồng thể|’ ( nghĩa là đồ họa không chỉ là một ngành nghệ thuật, thành công của nó cùng với tranh tượng là một) . Ông chỉ ra cái khác biệt giữa sơn thủy họa với địa đồ và nhấn manh cái tình và thần trong sang tạo của sơn thủy họa. Tuy thời kỳ này chưa có tranh sơn thủy họa truyền thế nhưng lý luận về sơn thủy họa đã hoàn toàn chín muồi, đã có họa gia, do đó có thể nói thời kỳ Ngụy Tấn , sơn thủy họa đã thành ngành độc lập nhưng chưa hoàn thiện về kỹ pháp và kỷ xảo.

Trên cơ sở hội hoạ thời kỳ Nguỵ Tấn, hội hoạ đơi Đường đã thu được thành tựu cực lớn, danh gia nhân vật hoạ, sơn thuỷ hoạ, hoa điểu hoạ xuất hiện hàng loạt và lưu lại không ít tác phẩm nổi tiếng . Đế quốc Đường thống nhất thiên hạ, kinh tế , văn hoá, quân sự đều phát triển rất mạnh. Công năng giáo dục chính thống phát huy cao độ .Trương Ngạn Viễn từng nói : “ Phù hoạ giả , thành giáo hoá, trợ nhân luân. cùng thần biến, trắc u vi, dự lục tịch đồng công, tứ thời bính vận ” (nghĩa là: Hội hoạ, góp phần hoàn thành sự dạy dỗ, giúp cho việc vun đắp quan hệ con người , đi đến cùng sự biến đổi diệu kỳ, trắc nghiệm được tới sự huyền bí u minh. Nó tác động và vận động bốn mùa cùng với 6 sách trong xã hội ) ( lục tịch – còn gọi là sáu kinh tức kinh Thi, Thư, Dịch,Lễ, Xuân thu, Nhạc – ND chú)  Hội hoạ thậm chí mang tác dụng là biểu thi tác dụng báu vật của nước nhà, sửa sang cương kỷ khi lễ nhạc hỗn loạn. Công năng chính giáo đó thúc đẩy sự phát triển nhân vật hoạ đạt tới đỉnh cao, Các tác giả như Diêm Lập Bản, Uất trì Ất Tăng, Ngô Đạo Tử, Trương Tuyên, Chu Phường …đã để lại cho chúng ta nhiều di sản quý báu về nhân vật hoạ . Nhất là bức “Ngô đái đương phong” “ Ngô gia tường” của Ngô Đạo Tử, bức “ Y thường kinh giản, thái sắc nhu lệ” , “ Chu gia tường” của Chu Phường  càng tỏ rõ ma luc và trình độ nghệ thuật của nhân vật hoạ thời Đường. Sơn thuỷ hoạ ở đời này cũng phát triển tương đối lớn . Tranh sơn thuỷ màu xanh lục của Lý Tư Huấn, Lý  Chiêu Đạo, tranh sơn thuỷ chấm phá ( 破 墨) – phá mạc) của Vương Duy ( 王 维) , tranh vẩy mực (泼墨- bát mạc) của  Trương Tảo,  Vương Hợp …họ đều trên cơ sở kế thừa truyền thống , đã phát triển lớn kỹ pháp sơn thuỷ hoạ. Về tạo hình thì “thụ thạch hoạ pháp” ( phương pháp vẽ tranh cây và đá) đã cải biến trạng thái  : “ nhược thân tý bố chỉ” tức là cách vẽ cành cây cối như cánh tay được kéo duỗi ra của đời Nguỵ Tấn , từ bức tranh “ Minh hoàng tị thử đồ”( Đường Minh Hoàng đi tránh nắng nóng) của Lý Chiêu Đạo ta thấy tỷ lệ kích thước cây cối , tạo hình, vẽ cành cây… đều đáng nghiên cứu, có thể nói kỹ pháp đã hoàn bị .Ta còn có tranh thi hoạ ( tức là tranh kết hợp với thơ) đã đạt mức cao của Vương Duy. Nó đã khai sáng nên ý cảnh trữ tình mà đơn giản của tranh sơn thuỷ màu xanh lục .

Đời Đường, hoa điểu hoạ ( tranh vẽ hoa và chim) đã thành một ngành độc lập. Do thời cổ đại, ngựa là tượng trưng cho một loại lực lượng quân sự, tượng trưng cho sự giàu có, nên hoa điểu hoạ đời Đường lấy yên ngựa làm chính, xuất hiện danh gia chuyên vẽ ngựa như Tào Bá, Hàn Cán, Trần Hoành, Vi Yển …ngoài ra còn những người nổi tiếng về vẽ trâu  như Vệ Hoảng , Đái Sầm… vẽ chim sẻ, chim hạc….Dứới sự chi phối công năng chính giáo , phong cách nghệ thuật hội hoạ đời Đường  đi theo xu hướng tả thực, cơ bản đều phục vụ chính trị , phục vụ cung đình, thể hiện trạng thái phát triển của Trung Quốc hoạ dưới ảnh hưởng của tư tưởng nhà Nho.

Đời Tống là một triều đại mà Trung quốc hoạ có một ảnh hưởng rất quan trọng và là một đỉnh cao trong lịch sử Trung quốc.

Đại sư  về Trung Quôc học Trần Diễn Khác trong bài tựa quyển “ Khảo chứng quan chức chí đời Tống” của Trịnh Quảng Minh đã viết: “ Văn hoá dân tộc Hoa Hạ theo tiến trình lịch sử hàng nghìn năm đã tạo nên cái thế của Triệu Tống” (  Tống Thái tổ tên là Triệu Khuông Dẫn nên sử sách thường gọi nhà Tống là Triệu Tống- ND). Đại sư Vương Quốc Duy cũng cho rằng: “ Xét về mặt hoạt động nhân trí    và đa phương diện văn hoá của Thiên thuỷ nhất triều ( chỉ triều Tống) , thì trước là Hán Đường sau là Nguyên- Minh đều không thể so sánh kịp nó. Văn hoá Tống triều cực kỳ phát đạt. Trong tám đại gia Đường Tống” thì thời Tống đã chiếm tới 6 người . Đời Tống đã hình thành bốn thư viện lớn nổi tiếng trong lịch sử là: Tung Dương, Nhạc Lộc, Ứng Thiên Phủ và Bạch Lộc Động.

Do giai cấp thống trị đời Tống thi hành  chính sách “ Sùng văn ức vũ’ (đề cao văn chương, ức chế võ nghệ),  khích lệ phát triển văn hóa, đề cao sự gia tăng người có học, đề cao trình độ văn hóa phổ thông nên đã có ảnh hưởng không thể xem nhẹ đối với hội họa và sự gia tăng văn nhân tham gia vẽ, làm biến đổi căn bản thân phận đám hoa sĩ dương thời, hình thành nên bộ măt hai tầng lơp đại phu văn nhân và đông đảo đại phu hội họa.. Lý luận về hôi họa tương đối thành thục, làm xuất hiện một loạt những đại văn gia kiêm họa gia như Tô Thức, Hoàng đình Kiên…Họ không những có trình độ văn học mà về kỹ pháp và thẩm mỹ hội họa đều cao, có tính đột phá về bộ măt vốn có của văn hóa.  Họ đề xướng nên quan điểm vẽ không cần thật giống như hình, mà cần tìm cái ý đạm bạc, tiêu sơ, như Âu Dương Tu trong ‘ Âu Dương văn trung tập’ đã viết : “ Tiêu sơ đạm bac đó là cái ý khó vẽ. nhà hội họa vị tất đã biết , tức là đang chạy như bay rồi ngừng lại , y như là vật ở gần dễ thấy, yên nhàn nghiêm tĩnh, cái tâm vươn xa nên khó hình dung, như bối cảnh nhướng lên cao mà lại hướng xuống thấp, xa gần trùng điệp, nghệ thuật họa công đó là công viêc rát khó mà người ta xem tranh có thể soi tìm cho rõ. Thẩm Quát trong quyển “ Mộng khê bút đàm” đã viết : cái kỳ diệu của thư họa là dựa vào cái thần hội ( lĩnh hội cái thiêng liêng , khó mà tìm được bằng hình khí). Người xem tranh thông thường phần lớn chỉ biết chỉ trích vị trí của hình tượng , mơ hồ xét tì vết, lỗi lầm về màu sắc mà ít thấy con người trong đó. Sự xuất hiện danh nhân vẽ danh nhân hoạ còn cải biến tiêu chuẩn bình phẩm tác phẩm hội hoạ từ thời Đường về sau, đem phương pháp phê bình hội hoạ “ phi hoạ chi bản pháp” ( tức phương pháp không chỉ lấy họa làm cơ bản để bình phẩm – ND) , từ tiêu chí “ thần, diệu, năng, dật” ( tức tranh phải có thần, tinh tế , giàu khả năng truyền cảm và thể hiện sự thanh nhàn- ND) theo “ Đường triều danh hoạ lục”  của Chu Cảnh Huyền , cuối cùng tiến lên vị trí độc tôn “ dật , thần , diệu, năng “ ( thanh nhàn, có thần, tinh tế , khả năng biểu đạt- ND) , trứơc tiên phải nói lên được phong cách riêng về nhàn dật của bức tranh nhân hoạ, rất khó tìm ra cái khác cùng loại. “ Chuyết quy cụ ư phương viên , bỉ tinh nghiên ư thái hoạ” ( nghĩa là khó đặt mực thước cho vườn vuông, khó chọn mực cho tranh màu) , “ Bút giản hình cụ, đắc chi tự nhiên. Mạc khả khải mô, xuất ư ý biểu“ ( nghĩa là bút thì vài nét đơn sơ, nhưng hình thì thể hiện cụ thể đạt được vẻ tự nhiên, không thể sai khuôn phép) (  Trích : Ích Châu danh hoạ lục của Hoàng Hưu Phục)

Nghệ thuật hội hoạ trước đời Tống chiu ảnh hưởng của tinh thần Nho gia , tức là đề tài lấy nhân vật hoạ là chính, phong cách tả thực, màu sắc tranh sặc sỡ, nhưng từ Tống về sau , hội hoạ phần lớn chịu ảnh hưởng tinh thận thiền đạo nên công năng, thẩm mỹ , đề tài, tiêu chuẩn, phong cách,  sắc mầu …đều có thay đổi rất lớn . Quách Nhược Hư trong quyển “ Đồ thư kiến văn chí” đã nói : “ Hoặc vấn cận đại chí nghệ dự cổ nhân hà như? Đáp viết : Cận đại phương cổ đa bất cập nhi quá diệc hữu chi. Nhươc luận phật đạo nhân vật, sĩ nữ ngưu mã.tắc cận bất cập cổ; nhược luận sơn thuỷ lâm thạch, hoa trúc cầm ngư , tắc cổ bất cập cận. ” nghĩa là : thử hỏi nghệ thuất người xưa và nay khác nhau như thế nao ? Xin trả lời : Hội hoạ cận đại có những cái không bắt kịp cổ nhưng cũng có cái vượt trội. Nếu bàn về hoạ nhân vật, thiền phật, sĩ tử nữ nhi, vẽ trâu bò lừa ngựa thì cận đại không bằng cổ đại; nếu bàn về núi non sông nước, rừng núi, hoa trúc, cá chim… thì cổ không bằng kim). Như thế có thể thấy rõ  sơn thuỷ, hoa điểu hoạ sau thời đại Tống dần dần vượt lên, trở thành dòng chính, còn nhân vật hoạ thì dần dần thoát khỏi vũ đài. Công năng hội hoạ đã từ “ thành giáo hoá, trợ nhân luân “ chuyển biến thành “ thưởng tâm thoát tình, phấn sức thái bình “ ( Nghĩa là biểu lộ tâm tình , tô vẽ cho cuộc sống thái bình). Tô Thức – người đã thúc đẩy văn nhân hoạ từng nói “ Thư dĩ đạt ngô tâm , hoạ dĩ thích ngô ý nhi dĩ” ( sách để đạt cái tâm, còn hội hoạ là  hợp với cái ý của ta vậy) .

Đời Tống là một thời kỳ quá độ, cũng là một thời kỳ đây mâu thuẫn của lịch sử hội hoạ Trung Quốc . Là nghệ thuật hội hoạ, một mặt nó tiếp tục thời kỳ Đường Ngũ Đại, nhất là truyền thống tả thực. mặt khác nó lại thu nhận ảnh hưởng văn nhân hoạ , thai nghén dạng thức và truy tìm thẩm mỹ của hội hoạ mới, do đó nó xuất hiện mâu thuẫn vừa tả thực vừa tả ý. Ví dụ như Tô Thức một mặt nói “ Luận hoạ dĩ hình tư , kiến ư nhi đồng lân” ( nghĩa là : bàn về hội hoạ cần lấy nguyên tắc phải giống như xem hình đứa trẻ con trong xóm), mặt khác ông phê bình cái bệnh của Hoàng Thuyên là vẽ chim rõ hết cả chân và cổ. Một mặt ông tán thưởng cái vi diệu “ như đăng thụ ảnh” của tranh của Ngô Đạo Tử ; ta còn có Thẩm Quát một mặt nói “ thư hoạ chi diệu , đương dĩ thần hội , nan khả dĩ hình khí cầu dã “ ( nghĩa là cái diệu kỳ của thư hoạ phải lĩnh hội bằng tinh thần , khó mà tìm ở hình cụ thể) nhưng măt khác ông lại tán thưởng bút pháp “ miêu nhãn tảo mộ tắc tinh viên, nhật trản trung hiệp trừơng, chính ngọ tắc như nhất tuyến nhĩ” ( vẽ mắt con mèo buổi sáng chiều tôí thì tròn, mặt trời lên thì dài, khép nhỏ , giữa trưa thì còn như sợi chỉ) . Hoang Hưu Phục một mắt đề cao tính ý tượng : “ Hoạ chi dật cách , tối nan kỳ trù” ( nghĩa là vẽ phong thái nhàn, khó nhất là vẽ đám đông) , một mặt lại tán thưởng Hoàng Thuyên vẽ hạc trắng, chim ưng bị ngộ nhận là thực. . Còn có Tông Trưng, , Tôn Triệu Kết một măt đề cao cái tinh tế trong hội hoạ như “ Khổng tước đăng cao, tất tiên cử tả” ( con công muốn bay lên, trước tiên phải cất lên từ bên trái) “ Nhật trung nguyệt quý, vô hào biến sai” ( nghĩa là tiết trời, trăng, không hề sai) mặt khác trên bức hoạ lại vung bút đề từ, làm thơ tỏ hết tình ý.

Văn học hoá , thi ý hoá hội hoạ cũng là một đặc điểm hội hoạ đời Tống. Có nghĩa là hội hoạ không còn đơn thuần truy tìm hình ảnh chân thưc, mà còn đi tìm cái ý bên ngoài hoạ, cái âm thanh bên ngoài hoạ, truy tìm hoàn cảnh nói chung của hội hoạ, thơ ca, kéo khoảng cach hội hoạ và thơ văn lại gần nhau hơn, cuối cùng hình thành nên tiêu chuẩn thẩm mỹ “ Thi thị vô hình hoạ, hoạ thị hữu hình thi “  ( thơ tức là hoạ không có hình, hoạ tức là thơ có hình) . Tô Thức nói : “ Vị ma cật chi thi, thi trung hữu hoạ. Quan ma cật chi hoạ, hoạ trung hữu thi”  ( Nếm được cai mùi vị kết tinh trong thơ ca  là trong thơ có hoạ. Thấy đựơc cái kết tinh trong hoạ ấy là trong hoạ có thơ) . Câu nói đó đã trở thành kinh điển.Văn học hoá và thi ý hoá hội hoạ đời Tống còn là sự xuất hiện ở hai phương diện đề thơ trên tranh và dựa vào chủ đề thơ văn để vẽ tranh , điều này trước đời Tống chưa thấy mấy, hoặc có thể nói chưa có. Đó là sản phẩm đặc hữu đời này. Như trong tác phẩm “ Phù dung cẩm kê đồ” của Triệu Kết đời Tống Huy Tông có câu thơ : “ Thu kinh cự sương thịnh, nga quan cẩm vũ kê. Dĩ tri toàn ngũ đức , an dật thắng phù ê          ( nghĩa là: chống cự được với sương thu mạnh, là con gà sao mào cao , nó đã có năm cái đức vẹn toàn, để an nhàn đánh thắng được cò diệc và le le) . Trong tranh “Lạp mai hàn cầm đồ” có đề thơ : “ Sơn cầm căng dật thái, mai phấn lộng khinh nhu, Dĩ hữu đan thanh ước, thiên thu chỉ bạc đầu “ ( nghĩa là: chim núi xót thương cảnh nhàn, phấn hoa mai đùa với gió nhẹ. Đã nguyện ước giữ cho lòng sang, thì phải gắng cho tới khi đầu bạc). Còn có rất nhiều tác phẩm của các hoạ gia khác đề thơ gần kín cả bức tranh. Ngoài ra còn có hiện tượng lấy chủ đề thơ để vẽ tranh như “ Trúc toả kiều biên mại tửu gia” ( Quán rượu bên cầu, trúc phủ kín) “ Đạp hoa quy khứ mã đề hương” ( Hương thơm của hoa đã bị vó ngựa trở về đạp lên) , “ Vạn niên chi thượng thái bình tước” ( Chim sẻ thái bình trên cành cây van niên),” Dã thuỷ vô nhân độ, cô chu tận nhật hoành” ( Con đò nằm ngang cả ngày trên sông không người ) .” Thâm sơn tang cổ tự” ( Ngôi chùa ẩn trong núi sâu )….Những câu thơ nổi tiếng này đều là chủ đề cho hội hoạ đương thời , chả trách gì mà Trịnh Thung đã phải thốt lên : “ Hoạ giả , văn chi cực dã” ( nghia là: hội hoạ là cực điểm cuả thơ văn) . Chữ “ cực” là ngôn ngữ sâu sắc đến tột cùng vậy.

Đời Tống do hai triều đại Bắc Nam Tống tổ thành. Sơn thuỷ hoạ Bắc Tống tiếp nối truyền thống sơn thuỷ hoạ thời kỳ Ngũ Đại.  Các danh gia như Quách Hy , Hứa Đạo Ninh, Cù Viện Thâm , Lý Tông Thành, Yến Tiêu  Tống Đích…xuất hiện . Họ đều học và chịu ảnh hưởng của Lý Thành “ Tề Lỗ chi sĩ , duy mạc doanh khâu., trong đó thành tựu của Quách Hy là cao nhất, như những bức hoạ Tảo xuân đồ ( Sớm xuân) “ Lâm tuyền cao chí tập” ( tập tranh vẽ suối rừng) đều đã trở thành kinh điển của lịch sử sơn thuỷ hoạ Trung Quốc.. Quách Hy đề ra “ tam viễn pháp” đã có ảnh hưởng rất lớn trong sơn thuỷ hoạ, đó là :từ dưới chân núi ngước nhìn lên đỉnh núi là “ cao viễn_”, từ trước núi ngoảnh nhìn phía sau núi là “ thâm viễn” , từ núi gần nhìn về núi xa thì gọi là “ bình viễn” . Ông còn đề ra cho cảnh giới sơn thuỷ hoạ chân thực là “ khả hành” “ khả vọng”, “khả cư”, khả du” ( có thể thực hành, có thể ngắm nghía, có thể chiếm giữ , có thể du ngoạn) và nó đã ảnh hưởng trực tiếp và phản ảnh tình trạng sang tác tranh sơn thuỷ Bắc Tống. Ngoài ra còn có tranh sơn thuỷ xanh lục của Vương Hy Mạnh, tranh thuỷ mạc đề thơ của Tề Trọng Thường cũng đạt tới không ít thành công. . Nói tóm lại , sơn thuỷ hoạ thời Bắc Tống phần lớn nhân mạnh tranh bố cục toàn cảnh, tức thượng lưu thiên, hạ lưu địa ( trên có cảnh trời dưới có đât) , nó khác biệt rất lớn cách tìm thòi “ biên giác chi cảnh” ( cảnh một góc bên ) của tranh sơn thuỷ thời kỳ Nam Tống.

Hoa điểu hoạ thời Sơ Tống cơ bản bị bao trùm bởi phong cách tranh của Hoàng Thuyên cho tới khi Thôi Bạch và Ngô Nguyên Du xuất hiện mới thay đổi tình trạng này. Do đó quyển 18 trong “ Tuyên Hoà hoạ đồ” đã viết : “ Tổ tông dĩ lai, đồ hoạ viện chi giác nghệ giả tất dĩ Hoàng Thuyên phu tử bút pháp vi trình thức, tự Bạch cập Ngô Nguyên Du xuất, kỳ cách toại biến” ( nghĩa là :Từ tổ tông đến nay những hoạ gia viện hội hoạ đều lấy bút phap của Hoàng Thuyên phu tử làm chuẩn mực. Chỉ từ khi có Thôi Bach, Ngô Nguyên Du xuất hiên thì phong cách mới đổi.  Trước Thôi  Ngô, tranh hoa điểu phàn lớn vẽ cảnh giàu sang, cảnh chốn cung đình, những kỳ hoa dị thảo màu sắc sặc sỡ , những cầm thú quý hiếm. Nay tranh hoa điểu của Thôi Bach thay đổi khác,tuy hai ông vẫn có sự kế thừa Hoàng Thuyên nhưng về phong cách đã thể hiện sự truy tìm cái đẹp “ hoang hàn” , “ tiêu sơ” “ đạm dật” ( lạnh hoang vắng, sơ sài, nhàn tản) , đi tìm cái “ vô ngã chi cảnh” ( cảnh không có ta trong đó), với sự “công chỉnh” (công phu hoàn chỉnh) ,” hình tựa” ( giống như)  thậm chí là “khắc bản”của hoa điểu hoạ, chuyển biến thành “ hữu ngã chi cảnh” ( trong cảnh có ta) đầy vẻ “ sinh động” “ tình cảm” “ hung ức” ( ức ngực, nghĩa bóng nghĩa là nỗi lòng)mở đường cho hình thái lớn hội hoạ thuỷ mạc tả ý, lâm ly, ướt átcủa thời kỳ Minh Thanh. Tuy nhiên công lao đó không thể quy tất cả cho Thôi Bạch và học trò của ông là Ngô Nguyên Du , bởi vì họ thành côngcũng là nhờ những cống hiến củaTriệu Xương, Dịch Nguyên Kết trước đó.

Hội hoạ Nam Tống tương đối đơn điệu. Sơn thuỷ hoạ do bốn nhà chiếm lĩnh vị trí trong yếu mà đứng đầu là Lý Đường. Nhất là Mã Nguyên và Mã Khuê , trên cơ sở kế thừa Lý Đường đã tang cường dạng thức bố cục bức hoạ theo “ nhất giốc “ ( một góc) “ bán biên “ ( nửa bên) nên mới có câu “ Mã nhất giốc, Mã bán biên” trong lịch sử hội hoạ Trung Quốc. Do cuộc biến Tĩnh Khang , nên những tác phẩm hội hoạ trong Viện hộ hoạ Bắc Tống đều bị người Kim cướp sạch nên không còn phiên bản cho hoạ sư Nam Tống xem để học tập và nhất là để tôn làm thầy, chỉ có  Lý Đường về cuối đời từ Bắc Tống chạy về Hàng Châu để lại những tác phẩm mà thôi. Hơn nữa , Tống Cao Tông Triệu Cấu luc bé cũng có học vẽ nên sơn thuỷ hoạ Nam Tống đều xuất phát từ Lý Đường vì thế phong cách tương đối thống nhất. Hinh thái hoa điểu hoạ Nam Tống gồm có Lý Địch, Lý An Trung, Lâm Thung, Mã Viễn, Mã Lân, Mao Ích, Ngô Bỉnh, Trần Dung …ngoài ra còn có hình thái tranh thuỷ mạc tả ý của Dương Vô Cửu , Triệu Mạnh Kiên, Pháp Thường…nhưng về tổng thể họ có ảnh hưởng tương đối yếu trong lịch sử hội hoạ hoa điểu.

Sơ kỳ thế kỷ 13, Thành Cát Tư Hãn sang lập nên Hãn quốc Mông cổ nhờ vào sự dũng mãnh thiện chiến của các bộ tộc du mục và tới năm 1279 thì diệt Nam Tống , thoongd nhất Trung Quốc., kết thúc cục diên 300 năm các chính quyền cùng tồn tại.  Marx từng nói : “ Kẻ chinh phục dã man , luôn luôn bị các dân tộc khác có nền văn hoá cao hơn chinh phục “ Triều đại nhà Nguyên đúng như vậy . Nguyên Thế Tổ Hôt Tất Liệt sau khi thống nhất Trung Quốc lập tức thi hành hán văn, tôn sung tư tưởng truyền thống nho gia. Tuy như vậy nhưng ở thời Nguyên sơ , quý tộc Mông Cổ vẫn thực hiên chính sách kỳ thị dân tộc, chia dân chúng ra thành người Mông Cổ, người Sắc Mục, người Hán, người Nam Tống…Địa vị đại sĩ phu Hán tộc hết sức thấp, hơn nữa thời Nguyên sơ bỏ chế độ khoa cử, tuy sau khôi phục lại nhưng số nho sĩ được dung rất ít, chính quyền quốc gia nằm trong tay quý tộc Mông Cổ nên dưới triều Nguyên, đại sĩ phu Hán tộc trong tình trạng sĩ đồ thất ý ( kẻ đi học mất hết hoài bão học hành để ra làm quan) chuyển sang tiêu ma ngày tháng trong lĩnh vực hội hoạ , sang tạo nên văn hoá nghệ thuật “ ẩn dật “ của đời Nguyên.

Triều đại Nguyên, sơn thuỷ hoạ ở vào vị trí chủ đạo, đứng đầu là Triệu Mạnh  Phủ với những những người như Hoàng Công Vọng, Vương Mông, Nghê Toản , Ngô Trấn …làm trung tâm, đã sang tạo nên một thế giới và phong cách hội hoạ khác với thời Tống. Triệu Manh Phủ từng làm quan to, nay sống trong cảnh nghèo khổ, thất vọng. Ông than rằng: “ Xí khoát đầu đồng lục thập tam, nhất sinh sự sự tổng kham tàm,  Duy dư bút nghiên tình do tại, lưu dữ nhân gian tác tiếu đàm”, nghĩa là : (Sáu ba tuổi đầu trọc răng long, cả đời mọi việc làm đều đáng hổ thẹn. Chỉ có tình bút nghiên là vẫn còn, để lại cho thế gian cười và luận bàn ). Do vậy trên tư tưởng tình cảm, tác phẩm hội hoạ của ông thống nhất cùng một hướng với các hoạ gia ẩn dật.

Ảnh hưởng của Triệu Mạnh Phủ rất lớn . Vô luận về mặt kỹ pháp hay tư tưởng hội hoạ của bốn đại gia thời Nguyên đều chịu ảnh hưởng của ông.

Thành tựu hội hoạ của ông bao gồm rất nhiều lĩnh vực từ sơn thuỷ đến hoa điểu , nhân vật , trúc thạch ( tranh vẽ trúc và đá núi) …kiêm  bị cả  công bút  , tả ý, thanh lục,thuỷ mạc…nhất là về mặt lý luân hội hoạ.  Mệnh đề “ Cổ ý” ( ý xưa) và “ Thi hoa bản lai đồng” ( thơ và hoạ vốn là đồng nhất) có sức cuốn hút càng sâu.  Bốn đại gia đời Nguyên chịu ảnh hưởng của Triệu Manh Phủ đều là văn nhân vùng Giang Triết Những nguời này ( bốn hoạ gia lớn),chuyên về tranh thuỷ mạc, kiêm vẽ tranh trúc thạch, hoạt động chủ yếu vào thời gian động loạn cuối đời Nguyên , nên tranh của họ chú trọng bút mạc, chú trọng tình cảm, thông qua tác phẩm vẽ về song núi có đề thơ để nói lên nỗi niềm bi thương, đạm bac, cô tịch . Phong cách cả bốn người đều gần nhau, nhưng vẫn có diện mạo riêng. Vương Mông dung nét bút đặc kín vẽ Hoàng Hạc sơn; Nghê Toản vẽ Thái hồ với “phong cách thanh lạnh, tích bút như kim” ( nghĩa là phong cách có vẻ như lạnh đạm, nhưng nét bút thì tiếc nuối, sắc như dao); Hoàng Công Vọng vẽ Ngu sơn , Phú Xuân sơn nét bút thanh thoat nhuần nhuyễn; Ngô Trấn vẽ cảnh ngư phủ  du nhàn tiêu sái…

Về mặt hoa điểu hoạ tiền kỳ nhà Nguyên chỉ có Tiền Tuyển và Trịnh Tư Tiêu là đáng bàn, trung kỳ về sau có Trần Lâm , Trương Trung, Vương Miễn , Kha Cửu Tư xuất hiện làm cho văn đàn hoa điểu hoạ đông đảo hơn. Lúc này dòng chính của nó phát triển theo hướng tình cảnh văn nhân, “ tá vật trữ tình” ( mượn sự vật để tả tình) “ ký tình ngụ ý” vẽ tranh thuỷ mạc , hoa lá chim chóc vẽ người tả ý như cảnh mai, lan,  trúc, cúc …trong số đó Vương Uyên và Trương Trung có ảnh hưởng lớn nhất. Nhìn từ tác phẩm thì phong cách vẫn tương đối tả thực, tạo hình nghiêm chỉnh như cũ nhưng đã hoàn thành tiến trình khứ sắc thái hoa ( bớt màu sắc loè loẹt) , đặt cơ sở cho sự xuất hiện tranh hoa điểu hoạ tả ý của Trần Thuần, Từ Vị  đời Minh sau này.

Về nhân vật hoạ thì Vương Dịch có ít nhiều ảnh hưởng. Tác phẩm của ông chủ yếu là vẽ các nhà quyền quý, rất ít những đề tài lịch sử và hiện thực.

Nói tóm lại, nghệ thuật văn nhân hoạ đời Nguyên phát triển trên cơ sở đời Tống đã đề ra nhưng chưa toàn diện.

Nhà Minh tồn tại gần 300 năm, hội hoạ phát triển muôn màu muôn vẻ, nhưng các thời kỳ khác nhau, phong cách cũng khác nhau. Minh sơ , bọn thống trị nhằm củng cố trung ương tập quyền đã thi hành chính sách “ hoàn trung sĩ đại phu bất vi cư dụng, kỳ tội giai chí sao tráp”( nghĩa là trong toàn cõi không được dùng người đỗ đạt cao, nếu ho bi tội đều phải kê khai tịch biên) nên rất nhiều phần tử trí thức đã bị giết. Trong hoàn cảnh áp bức cao độ đó , đại bộ phận các nghệ thuật gia đều phải sống náu mình, lo sợ như đi trên bang mỏng, vì thế nghệ thuật thời Minh sơ không có gì sang tạo và tình cảm lớn, cơ bản chỉ có những sang tác phục vụ cho khiếu thẩm mỹ của giai cấp thống trị mà thôi. Do Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương có con mắt thẩm mỹ là thượng võ, dũng mãnh , quảng đại …nên văn nhân hoạ thời Nguyên có lúc đã phát triển thì đến đầu đời Minh này cũng đình trễ, thay vào đó chỉ là sự học tập phong cách khí thế hội hoạ  của Nam Tống . Tác phẩm của bốn hoạ gia thời Minh sơ như Cảnh Thiệu, Tôn Long, Lâm Lương , Lã Kỷ thường lấy loại đề tài hoa điểu hoạ là con chim ưng dung mãnh  . Tới giữa đời Minh, tư tưởng mỹ học hội hoạ có sự biến đổi rất lớn . Kinh tế thành thị phát đạt, thị dân phát triển, học phái Thái châu hưng khởi cùng với Thiền Tông lưu hành, cuối cùng đã thai nghén phát triển phong trào giải phóng tư tưởng mà trung tâm là giải phóng cá tính như “ lương tri tâm học “ của Vương Dưowng Minh . Vương Kỳ nhấn mạnh “ chân tính, bản tính, phản đối hư nguỵ, kiều sức tính” ( tính chân thưc, tính vốn có, phản đối giả tạo trống rỗng, ẻo lả,uỷ mị), “ tạo mệnh thuyết ” của Vương Cấn ,” đồng tâm thuyết’ của Lý Chí, “ tính linh thuyết” của Công an phái, “ duy tình thuyết” của Dương Hiển Tổ…hoặc tiếp nối nhau, hoạc ảnh hưởng lẫn nhau , cả một phong trào tư tưởng bừng bừng, mở rộng nhanh chóng. Cuộc vận động giải phóng tư tưởng đó đã đả kích mạnh vào tất cả đạo đức, tư tưởng, quan niệm, thẩm mỹ truyền thống, lĩnh vực hội hoạ cũng không nằm ngoại lệ, giải phóng cá tính, chú trọng tự ngã là tư tưởng mỹ học điển hình hậu trung kỳ đời Minh.

Tư tưởng mỹ học đó làm xuất hiện ba đặc điểm về phương diện hội hoạ đương thời: thứ nhất là thay đổi hình thức tranh thư hoạ, từ kiểu nằm ngang thành kiểu dọc đứng, từ nhỏ sang lớn, điểm này tương đối thể hiện rõ trên lĩnh vực thư pháp. Thứ hai là sự tìm tòi về bút mạc ( dùng bút mực) . Sự truy tìm này đã loại bỏ cái được gọi là tạo hình thời Đường Tống. Từ Vị có câu nói : “ Hồ lô y dạng bất thắng giai, năng như tạo hoá tuyệt an bài ? bất cầu hình tựa cầu sinh vận, cân bạt giai ngô ngũ chỉ tài .”( nghĩa là vẽ trau chốt quả bầu khó,  phải chăng trời sắp đặt?không cầu thật giống mà cầu sinh vận, ấy là nhờ ở năm ngón tay ta ). Đổng Kỳ Xương cũng nói: “ Dĩ cảnh chi kỳ quái luận, tắc hoạ bất như sơn thuỷ; dĩ bút mạc chi tinh diệu luận, tắc sơn thuỷ quyết bất như hoạ” ( nghĩa là:  dựsự biểu hiện a vào thuyết kỳ quan cảnh trí thì hoạ không như sơn thuỷ, dựa vào thuyết tinh xảo của bút mực thì sơn thuỷ quyết không như hoạ). Trần Kế Nhu cũng nói: “ Văn nhân chi hoạ, bất tại hề kinh, nhi tại bút mạc” ( nghĩa là vẽ văn nhân thì không có lối đi sẵn mà ở nét bút của từng người) thì ta có thấy hình thức tạo hình và bút mực thời kỳ đó đã nặng nhẹ khác nhau.. Thứ ba là : sự biểu hiện cái tự ngã ( tức cái riêng ta) . Cái công năng chính giáo mà hội hoạ phải gánh vác quá nhiều , đến lúc này đều đã đực chế ngự, khái niệm “ ngã” ( cái tôi ) , tình cảm “ tự ngã” (về cái riêng ta ) đã hoàn toàn bộc lộ, hình thành nên một loại ý thức tự ngã mãnh liệt.

Biến đổi đó về phương diện phong cách người vẽbắt đầu khởi phát từ Ngô môn hoạ gia cho đến Trần Thuần, Từ Vị , Đổng Kỳ Xương thì đã đạt tới đỉnh cao . Ngô môn hoạ gia bao gồm phần lớn là các văn nhân danh sĩ thi, thư, hoạ như Thẩm Châu, Văn Trưng Minh , Đường Dần ,Cừu Anh đứng đầu đã nhanh chóng thay thế địa vị viện thể thời Minh sơ và hoạ đàn Triết phái , họ nhạy cảm và thể nghiệm được mối nguy hiểm của con đường làm quan và sự hủ bại của chính trị nên đã chọn cuộc sống xuất thế, tiêu dao sơn thuỷ và gửi tình cảm vào văn từ thư hoạ. Họ tiếp tục niềm hứng thú vào văn nhân hoạ của đời Nguyên mà thời Minh sơ đã bị gián đoạn, họ đi tìm tính trữ tình trong bút mực và hội hoạ , cuối cùng hình thành nên phong cách nghệ thuật phong làlưu mà ninh tĩnh tao nhã. Thẩm Châu và Văn Trưng Minh có quan hệ thày trò nên về phương diện tạo hình bút mạc phần nhiều có tính thống nhất. Về kỹ pháp của hai người này chịu ảnh hưởng của Viện thể Nam Tống rất ít. Đề tài của họ chủ yếu là ngao du sơn thuỷ . Đường Dần và Cừu Anh thì là loại hình khác ,  Đường Dần từ văn nhân chuyển sang hoạ gia , Cừu Anh xuất thân từ thợ mộc là tầng lớp thấp trong xã hội lại học Chu Thần mà nghệ thuật ông này vốn từ Viện thể Nam Tống nên phong cách không thật mạnh mẽ.

Không còn nghi ngờ hội hoạ cuối đời Minh là đỉnh cao của một sự biến cách, về phương diện hoa điểu hoạ, Trần Thuần, Từ Vị trên cơ sở hoa điểu hoạ tả ý của Thẩm Châu,  Đường Dần đã đẩy mạnh tiến trình hội hoạ này lên cao. Hoa điểu hoạ tả ý của Trân Thuần so với Thẩm Châu có sắc thái phóng dật hơn và được tán dương là “ Nhất hoa bán diệp, đạm mạc y hào. Sơ tà lịch loạn chi trí, đốt đốt bức chân “ ( nghĩa là Một nụ hoa, nửa cái lá, đơn sơ thế nhưng muốn đạt đến độ chân thật cũng đã rất khó).

Trên cơ sở của Trần Thuần, Từ Vị đã tiến lên một bước về phía trước, hoàn thành cuộc biến cách hoa điểu hoạ thuỷ mạc tả ý. Đó là một kỳ tài, đỉnh cao trên các lĩnh vực văn học, kịch, âm luật, thư pháp, hội hoạ để  tu dưỡngquảng bá bút pháp cuồng thảo, cá tính buông thả , chỉ trên một thước tranh mà có thể thư hoạ cả một bữa yến tiệc linh đình. Tranh hoa điểu của ông thể hiện hình thái nghệ thuật “ tự dữ bất tự chi gian ” ( nằm giữa cái giống như mà không giống như), thông qua ngòi bút hoa điểu hoạ để truyền đạt nỗi bi phẫn và ý chí “ Thất hùng thất lộ, thác túc vô môn” ( nghĩa là tuy mất hết hùng khí, mất hết lối đi, không còn nơi tá túc) nhưng  sức mạnh của cuộc sống vẫn không bị mài mòn . Đào và thach lựu trong tác phẩm phần lớn là tự hoạ để bày tỏ tình cảm lâm ly của mình bị nén lai đã bừng lên,tranh hoa điểu do ông đề bút tả ý sang lập nên đã ảnh hưởng rất lớn đến bát đại sơn nhân ( 8 người đi ẩn trong núi)  bát quái kiệt Dương Châu ( tám danh hoạ kiệt xuất Dương Châu) đời Thanh.

Về phương điện tranh thuỷ mạc thì Đổng Kỳ Xương là cự phách nhất.  Cống hiến của ông là đã nâng phạm trù ngữ ngôn và phương pháp tạo hình bút mạc của hội hoạ Trung Quốc lên tới một gía trị thẩm mỹ riêng, thành mục tiêu chung cục cho cácvăn nhân hoạ đi tìm . Dưới sự phát động của họ Đổng, bút mạc đang từ vị trí phụ thuộc trở thành chủ thể và trở thành trung tâm hội hoạ, thành tiêu chuẩn đánh giá cao thấp , độ tinh tế của một bức hoạ. Đổng Kỳ Xương còn có mặt cống hiến khác là đề xuất nổi tiếng trong Nam Bắc Tống luận . Ông nói : Thiền gia tới đời Đường bắt đầu phân chia hai tông phái Nam Bắc. Hoạ gia cũng phân chia ra hai tông phái từ thời Đường, nhưng con người thì không chia Nam Bắc. Bắc Tống có cha con Lý Tư Huấn bắt tay vẽ tranh sơn thuỷ sau lưu truyền tới Triệu Cán,  Triệu Bá Câu . Nam Tống thì Vương Ma Kết bắt đầu dùng phép vẽ đẫm nhạt câu chước ( tức là phương pháp vẽ sơn thủy trước hết vẽ đường viền sau dùng bút lông chấm chỗ đậm chỗ nhạt – ND chú) rồi truyền cho Trương Tảo, Kinh. Quan, Đổng , Cự, Quách Trung Thứ, cha con họ Mễ , tới bốn đại gia đời Nguyên  cũng như sau đời lục tổ có cháu con Mã Cấu , Vân Môn , Lâm Tế  đã hình thành nên mà rồi sau đến Bắc Tống  cũng  suy vi.  Cái mà Ma Cật nói “ Đỉnh núi mây mù, dấu tích của đá, đột khởi bởi cơ trời, nét bút tung hoành, đều nhờ có tạo hóa can dự. ” (云峰石迹,迥出天机,笔意纵横,参乎造化者).

Đông Ba tán thành Ngô Đạo Tử, họa bích Vương Duy  cũng nói : Ta với Duy không có khoảng cách , biết ý lời của nhau. Ông đã tổng kết kinh nghiệm lịch sử của văn nhân họa, nhấn mạnh khái niệm sĩ khí và lấy thi thư đưa vào tranh và nhấn mạnh rằng các họa gia phải đi con đường dài vạn dăm, phải tu dưỡng văn khí đọc hang vạn sách , mới xây dựng nên đươc mô thức thẩm mỹ tiêu chuẩn văn nhân họa đời Nam Tống.  Quan niệm sùng Nam ức Bắc đã làm bá chủ nhất thống thiên hạ

Về phương diện nhân vật họa thì Nam có Trần, Bắc có Cù . Nhất là Trần (Hồng Hoãn) lúc thiếu thời có kỳ tài,  nhưng nhiều lần đi thi không đỗ , quyết từ bỏ đường làm quan mà chuyên công về thư họa. Hình tuơng nhân vật họa của ông kỳ cổ, thể hình to cao , hoa văn áo quần lớp lớp kín cả cổ, trước dùng bút pháp vuông gãy khúc. sau tròn mềm mại , sáng tạo nên con đường  hội họa “ thà ngay thẳng dù không có lông mày” (宁正勿媚). Ngoài ra còn có Tăng Kình (曾鲸) dẫn đầu hấp thụ nhân tố hội họa vân sóng boson do giáo sĩ phương Tây du nhập , đã sáng tạo nên kỷ pháp vẽ phác  đường viền ngũ quan bằng mực nhạt sau đó mới tô đâm , mỗi tranh tượng phải khéo léo nhuộm màu hàng chục lần , xong mới thôi, nên tranh nhân vật họa của ông đều có thần, có ảnh hưởng, có thể nói rằng những học giả đời sau Minh, Thanh đều có quan hệ tiếp nối , kế thừa nghẹ thuật của ông

Hội họa sơ kỳ đời Thanh chủ yếu kế tiếp và phát triển nghệ thuật trung hậu kỳ đời Minh. Không ít học giả cho rằng triều đại phong kiến Mãn Thanh cuối cùng suy thoái nên hội họa Thanh triều cũng suy thoái theo. Cách nói đó không khoa học. Mỗi thời đại đều có  một nền văn hoc của thời đại đó. Nghệ thuật cũng vậy. Hà tất phải đưa tiêu chuẩn thâm mỹ của 10 triều vua Thanh để phán đoán nó! Đây là hiện tuong rất hoang đường của thế kỷ 20.  Một mặt họ lấy việc đời Thanh sự sáng tạo trong tranh “ bút mặc” để đánh giá hội họa cao thấp , mặt khác lại lớn tiếng nguyền rủa hình thức chủ nghĩa của nó. Đó là kết luận thực sư cong vênh của sử quan sau bước ngoặt về hội họa thế kỷ 20.

Tranh thủy mặc đời Thanh sơ phát triển trên cơ sở thực tiễn và lý luận của Đồng Kỳ Xương (董其昌), đã xuất hiện  bốn ông họ Vương  tức Vương Thời Mẫn (王时敏), Vương Giám (王鉴) , Vương Nguyên Kỳ (王原祁) , Vương Huy (王翚)  thêm Ngô Lịch (吴历)

và Uẩn Thọ Bình (恽寿平) là sáu nhà ( lục gia) đều tôn thờ chủ trương và lý luận của Đổng Kỳ Xương, họ hết sức mô phỏng , nhấn mạnh kỹ pháp bút mặc , cuối cùng đã đẩy bút mặc lên tới độ đi lên không quay lại Vương Học Hạo từng nói : “ Tác họa đệ nhất luận bút mặc” ( nghĩa là bàn về nghề vẽ thứ nhất phải là bút mặc) . Có thể thấy Đổng Kỳ Xương và bốn ông họ Vương theo đuổi giá trị thẩm mỹ độc lập của “ bút mặc luận” là lạc hậu, không như nói sáng tạo của các họa gia đời Minh Thanh khác với mệnh đề thẩm mỹ các triều đại khác. Lý luận , chủ trương và hội họa của Tứ Vương ( bốn họ Vương) được khẳng định rộng rãi

trong xã hội đương thời, trở thanh họa phái chính thống, trào lưu chính ảnh hưởng rất lớn đến diễn đàn hội họa  đời Thanh sơ. Họa phái chính thống Tứ Vương có thể so sánh với “ Thanh sơ Tứ Tăng” (Bốn ông sư đời Thanh sơ) (*) trong đó Nguyên Tế (原济)  tức Thạch Đào (石涛) ,  Thạch Khê (石溪)tức Khôn Tàn (髡残), Tiệm Giang (渐江) tức Hoằng Nhân (弘仁) chủ  công sơn thủy họa còn Chu  Đáp (朱耷) Bát đại Sơn nhân(八大山人)thì sở trường về hoa điểu họa. Thạch Đào chủ trương tả sinh , tác phong phóng túng tiêu sái, Khôn Tàn có phong cách bút mặc đường nét ngắn, điểm bút dầy đặc , Hoằng Nhân cũng tương tự tạo nên phong cách tạo hình đá núi và ý cảnh không dật tiêu lãnh. Bát đại tiên nhân cực lực khuếch trương phong cách hoa điểu biến hình và nghệ thuật cực kỳ giản lươc. Họ cùng tạo nên phong cách hội họa có cá tính khác  biệt với Tứ Vương phái. Ngoài “ Tứ Tăng “ ( bốn sư) đời Thanh sơ , ở vùng khác như “Bát gia” ( Tám Nhà) ở Kim Lăng cũng có ảnh hưởng không nhỏ.

Sau trung kỳ đời Thanh, trong lĩnh vực hội họa xuất hiện hiện tượng hai trung tâm Bắc Kinh, Dương Châu. Bắc Kinh chủ yếu là hội họa cung đình. Trong cung đình nhà Thanh có đăt Họa Viện Xứ, Như Ý quan, chế độ hoàn thiện, tưởng thưởng rõ rang, họa gia cũng có địa vị nhật định. Hội họa cung đình lúc này ngoài họa pháp đích truyền của phái Tư Vương còn có họa pháp Tây phương do các giáo sĩ truyền sang , cùng tồn tại bên nhau. Họa gia tương đối nổi tiếng có Lang Thế Ninh (Castiglione) người Ý Đại Lợi, Hạ Thanh Thái (Louis Antoine de Poirot) người Đức, Vương Chí Thành (Attiret)  người Pháp,  Ngải Khải Mông  (Ai osvícení) người Tiệp . Sauk hi họ đến Trung Quốc , chịu ảnh hưởng của Trung Quốc họa và do yêu cầu của giai cấp thống trị, nên phần nhiều đã dùng công cụ của Trung Quốc, vận dụng tài liệu,  dùng quan điểm soi chiếu, mổ xẻ  qua hội họa Tây phương để sáng tạo có tham khảo nhất định về phương diện công bút họa, kỷ xảo tả thực của hội họa Trung Quốc

Họ có ảnh hưởng nhất định đến hội họa Trung Quốc , như Đinh Quan Bằng, Tiêu Thừa Trinh, Lệnh Mai đã dùng kỹ pháp truyền thoomgs kết hợp với kỹ xảo phương Tây, thể hiện đặc điểm nghệ thuật  Trung pháp là chính, Tây pháp là dụng 。Dương Châu  tức quần thể hội họa lấy tám Quái kiệt (Bát Quái ) Dương Châu là chính.  Dương Châu theo đà sản xuất phát đạt , kinh tế phồn vinh, thương phú nghề muối tập trung ở đây đã kéo theo văn hóa nghệ thuật phát triển.

Nói theo thân phận, tám quái kiệt Dương Châu có thể chia làm ba loại, một là văn nhân mất chức quan đến đây bán tranh, một loại là họa gia văn nhân áo vải,  một loại nữa là họa gia chuyên nghiệp có tu dưỡng văn nhân. Tám quái kiệt Dương Châu không chỉ tám vị họa gia mà phiếm chỉ văn nhân họa gia chức nghiệp đương thời ở Dương Châu lấy bán tranh làm kế mưu sinh .Tương đối có danh vọng là La Sính,  Lý Phương Ưng, Lý Thiện, Kim Nông, Hoàng Thận,  Trịnh Tiếp , Cao Tường, Uông Sĩ Thận, Hoàng Phong Hàn, Hoa Nham,  Mẫn Trinh, Biên Thọ Dân…

Đề tài  của tám quái kiệt Dương Châu chủ yếu là hoa điểu họa, tương quan mật thiết với hứng thú thẩm mỹvà yêu thích của thị dân Dương Châu đương thời . Đặc điểm chung của ho là thoát ly khỏi ảnh hưởng của phong cách họa phái chính thống, ở một mức độ nhất định, hoặc ít hoặc nhiều đã làm suy yếu cái gọi là sĩ khí, kiểu sách vở, hình thành phong cách hội họa độc đáo mang diện mạo phản ánh thời đại , đối với Hải phái sau này cũng có ảnh hưởng không nhỏ. Hải phái là tuyến phong cảnh mỹ lệ trên diễn đàn hội họa thời Thanh mạt, sau măm 50 của thế kỷ 19, kinh tế Thượng Hải phát triển rất mạnh, đồng thời kéo theo nghệ thuật thư họa phồn vinh nhanh chóng. Trương Minh Kha (张鸣珂) trong  “ Hàn tùng các đàm nghệ tỏa lục”  ( 寒松阁谈艺琐录) có ghi : Từ khi  mở cưả biển ,  mậu dịch phát triển, nhiều người lại qua Thượng Hải bán tranh mưu sinh . Lúc này họa gia trứ danh của Hải phái có Chu Hùng (朱熊), Trương Hùng (张熊), Nhiệm Hùng (任熊), Nhiệm Di (任颐), Ngô Xương Thạc(吴昌硕)…trong đó thành tựu của Nhiêm Di và Ngô Xương Thạc là cao nhất , ảnh hưởng lớn nhất

Danh gia Hải phái  lấy thi, thư, họa, in ấn thống nhất kết hợp  với văn nhân họa và mỹ thuật dân gian hơặc kết hợp chúng với nghệ thuật vàng đá , chủ yếu thể hiện những đề tài dân gian thích nghe, ưa nhìn ( cũng bao gồm cả đề tài văn nhân họa truyền thống), trong hội họa nhấn manh tới mầu sắc, khí tượng mới,  với nhã tục cùng nhau thưởng thức. Đây là  một đột phá rất lớn so với văn nhân họa truyền thống.

Cuối thế kỷ 19, đầu 20. đế quốc chủ nghĩa dùng chiến thuyền, pháo mạnh đập đổ cánh cửa bế quan tỏa cảng  và cũng đã kéo ra bức màn lịch sử cận hiên đai của Trung Quốc. Trung Quốc cận hiện đại  đầy sắc thái đấu tranh và cách mạng. Một loạt hoạt động cách mang thể hiện ra tinh thần phản đế của nhân dân , kiên đinh quyết tâm phản phong, niềm tin cách mạng.

Theo đà thâm nhập mạnh văn hóa , hội họa  của Tây phương,  diễn đàn hội họa Trung Quốc bị những công kích tới mức xưa nay chưa từng có , đến lúc này nó cũng phát sinh 11 năm rất nhiều những cải biến có tính cơ bản . Những từ như “ đan thanh” , “ thủy mặc” , “họa”  cũng được gọi là Trung Quốc họa để phân biệt với hội họa phương Tây. Tiêu chuẩn thẩm mỹ và bố cục cũng phát sinh biến đổi rất lớn. Mâu thuẫn giữa khoa học và nghệ thuật, mâu thuẫn giữa Tây phương và Đông phương, mâu thuẫn giữa vị nhân sinh và nghệ thuật, mâu thuẫn giữa “ nhã” và “tục”.. . bao vây lấy diễn đàn Trung quốc họa. Không ít những tinh anh văn hóa  đã lấy khoa học, tiêu chuẩn thẩm mỹ hội họa phương tây để thẩm xét Trung Quốc họa và  từ đó đi đến những kết luận hoang đường  là Trung Quốc họa đã suy bại, lạc hậu như “ suy bại luận” của Khang Hữu Vi, quan điểm  cải lương của Từ Bi Hồng,  “cách mạng luận”…khiến  “Trung Quốc họa” trở nên rất không khoa học, vụng về  hết mức và  không ít các tinh hoa văn hóa đã cảm thấy tự ty đi đến vọng ngoại,  như Từ Bi Hồng đã từng than rằng : Nước ta năm nghìn năm văn hóa , chỉ còn lại mảnh đất hoang mây che cỏ rậm, nhà cửa như cái khánh treo ( Tự thuật Từ Bi Hồng) .

Đối diện với hiện tương và kết luận đó, giới quốc họa việc trước tiên là phải “ cách mạng mỹ thuật”. Những nhân sĩ nổi tiếng như Khang Hữu Vi, Trần Độc Tú, Từ Bi Hồng …đều với các mức độ khác nhau, các mặt khác nhau , tìm không ít các phương thuốc  trị bệnh cho cách mạng Trung Quốc họa.  Lập luận hoang đường đó căn bản đều là hành vi sai lầm. Tuy  đến nay xem lại thì rất là buồn cười , nhưng lúc đó là sự thể hiện tính cách mạng và trách nhiệm của các “nhân giả xem về cái nhân, trí giả xét về trí”  sau “ cách mạng mỹ thuật” khiến cho nó phát triển hung hung liệt liệt. Năm 1937 chiến tranh xâm lược Trung Hoa của Nhật bản bùng nổ toàn diện, nhiệt tình yêu nước của nhân dân Trung quốc dâng cao, lĩnh vực nghệ thuật cũng vậy, các họa gia đã lấy vũ khí bút mặc trong tay, dấn thân vào sự nghiệp mỹ thuật cách mạng. Năm 1942, Mao Trạch Đông phát biểu trên Tọa đàm văn nghệ Diên An , càng chỉ rõ phương hướng tiến lên cho các họa gia,  nghệ thuật vì công nông binh mà phục vụ, nghệ thuật vì giai cấp vô sản vì chính trị mà phục vụ đã trở thành chủ lưu, các họa gia Trung Quốc  cũng đã dấn thân vào đó, sáng tạo nên những tác phẩm kinh điển như “ Bốn A la hán” của Lã Phong Tử, “ Ngu Công chuyển núi” của  Từ Bi Hồng, “ Lưu dân” của  Tưởng Triệu Hòa …là biểu hiện tập hẹp trong hình thức và đề tài Trung Quốc họa, còn có họa gia lao vào sáng tác tranh xuất bản, tranh dầu , có cống hiến tích cực của mình vào kháng chiến.

Sau khi Tân Trung Quốc được thành lập, sáng tác nghệ thuật có tính phổ cập, thong tục, cách mang, tả thực, bám sát chủ đề chính trở thành khuynh hương  chủ đạo, Trung Quốc họa truyền thống, nhất là hoa điểu họa. sơn thủy họa bởi vì không thể biểu đạt được chủ đề và hiện thực này nên một dạo bị  đãi ngộ không công bằng, thậm chí toàn bộ trung quốc họa bị cho là không khoa học, không thích hợp với sáng tác có tính chủ thể , không thể biểu hiện được đề tài chính trị, không vẽ được tranh lớn, không thích hợp tuyên thống, khiến nó một thời gian lâm vào hoàn cảnh khó khăn và một bộ phận Viện Trường đã bỏ Trung Quốc họa và thay thế vào là  tranh mực mầu (彩墨画 – thái mặc họa). Mặc dù vậy vẫn còn một đời họa gia như Phan Thiên Thọ (潘天寿) tích cực tiến hành sáng tác, chứng tỏ sức sống mạnh mẽ của nó.  Năm 1966  bắt đầu 10 năm cách mạng văn hóa của giai cấp vô sản mạng  đã tàn hủy kịch liệt  đối với văn hóa truyền thống,  nhất là Trung Quốc họa lại càng khó thoát. Rất nhiều tác phẩm của họa gia bị xem là tranh đen tối (hắc họa), nội dung, hình thức , đề khoản với hình tượng, ngụ ý tượng trưng đều bị  liên tưởng ác ý bóp méo, khiến cho không ít các họa gia bị quy oan một cách không rõ rang. Thậm chí sau “ cách mạng văn hóa” khi quốc họa đã được khôi phục mà cơ bản vẫn là một mầu thể tài chính trị , nhân vật họa chủ yếu vẫn là hình tượng nhân vật anh hung, lãnh tụ có tính chất tả thực . Hoa điểu họa và sơn thủy họa chủ yếu dựa vào phương thức hướng trích dẫn thi từ của Mao Trạch Đông làm chủ đề để sáng tạo . Các họa gia cơ bản bỏ qua tínhđiệu ẩn dật và hiệu quả bút mặc, tăng them tinh thần và khí chất quyết không sợ hãi  và mầu đỏ sung mãn tinh thần cách mạng . Những năm cuối 70 và đầu 80 của thế kỷ 20, chính sách khai phóng cải cách khiến giới mỹ thuật như đón được mùa xuân sáng tạo nghệ thuật  , khiến cho tất cả từ chỗ bị cấm cố trong  “mỹ thuật cách mang” được thoát ra khỏi sự áp chế, tính cá nhân và sáng tạo bị áp chế lâu nay được giải phóng, trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng.  Hoàn cảnh sáng tác được nới lỏng khiến cho không ít nghệ thuật gia suy tư lý luận và tham khảo thực tiễn của bản thân nghệ thuật. Ảnh hưởng tương đối lớn có quan điểm về “ cái đẹp hình thức” của Ngô Quan (吴冠) và  Bàn về con đường cùng của Trung Quốc họa của Lý Tiểu Sơn (李小山) đã dẫn đến các cuộc tranh luận rộng rãi trong giới mỹ thuật. Không những thế , họ từ góc độ tự thân đã tiến hành tìm tòi hiện trạng và phương hướng phát triển của Trung Quốc họa , đặt cơ sở cho sự phát triển và phồn  vinh trở lại của nó trong thế kỷ 21  .

Nhớ lại lịch sử mấy nghìn năm của Trung quốc họa, chúng ta có được không ít quy luật phát triển và sáng tác , các đại sư hội họa nổi tiếng cho chúng ta thưởng thức những tác phẩm kinh điển vô cùng tận , khiến chúng ta nghĩ tới Trung Quốc họa trong lịch sử đương đại của thế kỷ 21 này , trong sự kế thừa ytruyền thống lịch sử có thể lưu giữ được những gì, đó là vấn đề hiện tại không có cách trả lời mà là vấn đề cần kinh qua sự lắng đọng của lịch sử mới có thể đậy nắp quan tài luận sự nghiệp vậy.  Quyển sách này sưu tầm lại 1000 tác phẩm ưu tú từ thuở Trung Quốc họa manh nha tới năm 80 thế kỷ 20 này là để chúng tôi biểu thị  thế giới Trung Quốc họa muôn màu và những tác phẩm kinh điển của các họa gia với bạn đọc gần xa.

Lý Vĩnh Cường

 

 

 

Đỗ Anh Thơ :  Hòa thượng Thích Thịt Chó là kiếp sau của Tế Điên đời Tống bên Tầu .  

  

       

 Tế Ðiên Hòa thượng hay Tế Công Hoạt Phật (chữ Hán: 济癫和尚、济公活佛)  là thiền sư thuộc phái Dương Kỳ, tông Lâm Tế, sống vào đời Tống (khoảng 1150 – 1209) người Lâm Hải , họ Lý, tên Tâm Viễn, tự Hồ Ẩn, hiệu Phương Viên người vùng Chiết Giang, là một tăng sĩ tu hành tại Linh Ẩn Tự bên Tầu.

Tượng Tế Điên và các nhân dáng phổ biến

Truyện kể  rằng cuộc sống của vị Thiền sư này có nhiều điều kỳ bí khác đời và cũng khác với đời sống tu hành của Tăng chúng đương thời. Tính tình ông cuồng phóng, thích rượu, thích thịt chó người đời gọi ông là “Tế Ðiên“, nhưng ông lại là người rất “tỉnh“, từ bi và ưa giúp đời. Tế điên sống ở núi Thiên Thai, sau đó đi đến Hàng Châu (cách Thiên Thai 300 km). Tại Hàng Châu có chùa Linh Ẩn là nơi hòa thượng Tế Điên xuất gia năm 18 tuổi. Ông lần lượt tham học với các vị: Pháp Không Nhất Bản ở chùa Quán Âm. Sau sư vào núi Hổ Khâu làm môn hạ ngài Hạt Ðường Huệ Viễn và nối dòng pháp này. Sư lại đến ở chùa Tịnh Từ, chùa này bị thiêu hủy vì hỏa tai, Sư đi hành hóa ở Lăng Nghiêm trùng tu lại. Cư dân ở vùng Tần Hồ ăn ốc thường chặt đuôi ốc để ăn. Sư xin những con ốc này thả lại trong nước, ốc phần lớn sống lại mà không có đuôi.

Năm 1209, sư thị tịch, thọ 60 tuổi, nhục thân của sư nhập vào tháp tại Hổ Bào.

]

Người dời sau  thường  mô tả ông ăn mặc quần áo rách rưới, gầy guộc xương và tay cầm quạt mo. Các thế tượng Tế Điên đều được miêu tả nhân dáng thế này. Trong thực tế – theo truyền thuyết tay ông còn cầm đùi chó, nhưng trong chùa không tiện thờ những hình dáng như thế . Có khi Tế Điên lại được tạc theo thế tay cầm bình rượu nhưng bị chó cắn gấu quần. Lý giải cho việc tại sao mình ăn thịt chó, Tế Điên Hòa thượng  nói:

Cổ thi Phật Tổ để một phong,

Dạy khuyên tu miệng lẫn tu lòng,

Người nay tu miệng, lòng không sửa.

Bần tăng lòng sửa, miệng thì không.

Tế Điên đến cõi trần vui chơi, để đùa giỡn và cũng để giáo hóa cho con người thấy tất cả đều chỉ là trò ảo giác của sắc thân, của chữ nghĩa, của tư tưởng, chúng đều là chuyện đáng để đùa giỡn.

Từ chân Tháp Lục Hòa, Tế Điên viết:

Ức tích diện tiền dương nhất tiễn

Chí Kim do giác cốt mao hàn

Chỉ nhân diện mục vô nhân thức

Hữu vãn thiên thai tẩu nhất phiên

Hạ vãng xưa từng đón mũi tên

Lông Xương nay vẫn chưa yên

Chỉ vì mặt thật không ai hiểu

Về núi Thiên Thai lại một phen

“Đó là các vị giết hại sinh vật nhưng “mặt thật” của vô sinh là vô tử – quan trọng là tư tưởng đều là vọng thức, chẳng can gì đến tâm, con người thường lầm thức là tâm, thậm chí gọi chung là tâm thức. Ý là nhớ, đối cảnh khởi vọng đều là vọng thức, chẳng can gì đến tâm. Tâm chẳng phải có không, có không chẳng nhiễm. Tâm chẳng cấu tịnh, cấu tịnh chẳng nhơ, chẳng nhơ. Cho đến mê ngộ phàm thánh, đi đứng ngồi nằm đều là vọng thức, chẳng phải tâm vậy. Tam xưa chẳng sinh, nay chẳng diệt.

Gần tám trăm năm sau ở Việt Nam cũng có một gia đình  họ Trần  quê vùng chợ Chanh,  Lý Nhân Hà Nam , liền dải đất Tức Mạc – Duyên Hà , gốc tích của Nhà Trần . Về sau gia đình chuyển lên Hà Nội sinh sống và sinh ra ông . Ông học  rất giỏi , đỗ kỹ sư , cầm kỳ thi họa môn nào cũng biết . Nhưng do thất tình , bỏ đi tu nhưng sau lại phá giới. Bạn bè thường gọi đùa ông là Hòa Thượng Thích Thịt Chó .

Trong những truyện cực ngắn của Docago người sống cùng thời , lại là bạn thân, có khá nhiều truyên viết về ông . Nay sưu tầm lại tác giả mẩu bút ký này phai nghi ngờ rằng : Phải chăng thuyết luân hồi là có thật và ông sư họ Trần phá giới này của Việt Nam là kiếp sau của Tế Điên Hòa thượng chăng ?

06/7/2017

Tại Bình Thạnh SG

ĐAT

Phản hồi

TTCh

Tế Điên Hòa Thương có hay

Tám trăm năm ấy ngày nay cùng bầy

Tửu tiên, cẩu thực là đây

Vẫn Thiên thai vẫn vui vầy thế nhân

TTCh

Trần Văn Kinh

(Cảm tác khi được Docago gọi là “hậu duệ của Tiên Thi Lý Bạch”)

Tìm trăng.

Đời vẫn nhớ Tiên Thi từ độ ấy

Đi tìm trăng mà chẳng thấy quay về (*)

Đâu mái chèo xưa, đâu Xích Bích

Mà nay Cung Quảng vẫn chờ kia !

—–

(*) Tương truyền Lý Bạch bơi thuyền trên sông Xích Bích, thấy bóng trăng dưới sông, đã nhảy xuống tìm…

 

Đỗ Anh Thơ : Nhớ ai … hở thầy

 

Dưới lầu : tiếng máy … ê …a…

Tụng kinh gõ mõ . Phật bà …nằm nghe .

Trên lầu : Thầy cửi trần ra ,

Tìm Phây (*) tán gẫu , gật gà khen hay.

Con Cu rụt cổ gáy dài …

Chích chòe quen nịnh : “  Nhớ ai …hở thầy ?

Mở lồng …em gọi về ngay !”

 

Tại Bình Thanh – SG

26/6/2017

ĐAT

(*) : Facebook

Quang Dũng :ĐÔI MẮT NGƯỜI SƠN TÂY ( do TMCS…dịch)

  (Thơ Quang Dũng)
Dịch:
TMCS: Anh, Hán
Trịnh Phúc Nguyên: Pháp
Phan Hoàng Mạnh : Pháp
ĐÔI MẮT NGƯỜI SƠN TÂY
Tác giả: Quang Dũng

Em ở thành Sơn chạy giặc về, 
Tôi từ chinh chiến cũng ra đi 
Cách biệt bao lần quê Bất Bạt, 
Chiều xanh không thấy bónĐÔI MẮT NGƯỜI SƠN TÂYg Ba Vì 

Vừng trán em vương trời quê hương, 
Mắt em dìu dịu buồn Tây phương. 
Tôi thấy xứ Đoài mây trắng lắm, 
Em có bao giờ em nhớ thương. 
 
Anh: TMCS
 
THE SƠN TÂY LADY’S  EYEYS
(Poem by Quang Dũng-Translation by TMCS)

You evacuate from Son Tây city
To take my part in the war, I also leave…
More than once, we’ve been far from Bất bạt, our homeland.
So many sunsets
We couldn’t see the Ba vì mountain’s silhouette !

Your forehead reminds me of our homeland sky 
Your eyes are saddened  with the Western ladies’ s sorrow.
For me, our West land’s clouds are always so white,
Of which do you think  at time ? 
 
Hán- phiên âm- dịch nghĩa: TMCS
 
SƠN TÂY NHÂN SONG NHÃN      ĐÔI MẮT NGƯỜI SƠN TÂY

(Quang Dũng thi-TMCS dịch)               (Thơ Quang Dũng-TMCS dịch)

Tiểu muội tự Sơn Tây* tị địch         Em gái chạy giặc từ Sơn Tây        
Ngã vi chinh chiến diệc đăng trình Tôi cũng lên đường vì chiến tranh.
Gia hương Bất bạt* kỉ li biệt            Đã mấy lần xa quê Bất Bạt”
 Thanh vãn Tản viên bất kiến hình  Chiều xanh không thấy hình bóng Ba vì

Tịch quán thiên không triền muội ngạch Bàu  trời quê hương vương vầng trán em
Nhãn tình sầu tứ tự Tây nương       Ý buồn đôi mắt giống thiếu nữ phương Tây
Thiên vân Tây xứ phi thường bạch Mây trời ở xứ Đoài vô cùng trắng
Vấn muội hà thì hoài cảm thương    Hỏi em lúc nào thấy nhớ thương
Chữ Hán:
 
山西人雙眼 
(光勇詩-相梅居士譯)
 
小妹自山西避敵
我為征戰亦登程
家鄉不坺幾離別
青晚傘圓不見形
 
籍貫天空纏妹額
眼睛愁思似西娘 
天雲西處非常白
問妹何時懷感傷 
Pháp: Trịnh Phúc Nguyên
 
LES YEUX DE LA SONTAIENNE
De SonTay,tu t’es  enfuie des ennemis,
Engagé pour la guerre,je suis aussi parti.
Ayant quitté BatBat natal bien de jours passés,
Je ne vois plus la silhouette de BaVi les soirs azurés.

Le ciel du sol natal se projette sur ton front,
Tes doux yeux regardent tristement vers l’Ouest,
Je vois affluer de là-bas des nuages très blancs,
Y as-tu jamais pensé,le coeur plein d’affection?
 
Pháp: Phan Hoàng Mạnh
 
  LES YEUX  DES GENS DE SƠN TÂY
(LES YEUX DE LA JEUNE FILLE DE SƠN TÂY)
                  Tôi không biết chọn đề nào là đúng ý tác giả (PHM)
    


Tu t’es enfuie de la cité Sơn devant les troupes ennemies,
Et moi, partant en guerre, suis aussi en route.
Tant de fois, on a quitté la terre natale de Bất Bạt,
Où dans le soir vert, on  n’a pu apercevoir le pic de Ba Vi.

Ton front est empêtré de quelque chose du ciel natal.
Tes yeux ont la douce mélancolie de la terre d’Ouest. (*)
Je constate que les nuages de l’ouest sont très blancs.
Et toi, quand donc te sens- tu serrée de nostalgie d’amour?
 

Đỗ Anh Thơ : Thơ chiết tự chữ Nhân, Hưu và Tiên                

 

Hỏi cây: sao đứng mãi đây ?

Không, không , tôi đợi một ngày lên tiên.

Than ôi ! Gỗ sắp thành Hiền

Người ngừời …nhân nghĩã , xỏ xiên …cứ bàn !!!

05/6/2017

Tại Bình Thạnh -SG                                                                   ĐAT

(*) 人 ( nhân = người) ﹐

仁 ( nhân nghĩa), 休 ( hưu ) 仙 ( tiên )﹐ 賢 ( hiền)