Đỗ Anh Thơ : Bàn về cái tai ( 耳)

  

Bài hôm trước ta nói về cái mắt. Mắt giúp người ta nhìn nhận sự vật xung quanh, truyền thong tin  cho bộ não xử lý. Người có trí tuệ , thông qua mắt nhìn, sách vở, trải nghiệm, phản tư …để tìm ra quy luật. Những cái đầu thiểu năng. bã đậu tuy có mắt nhìn , có óc  đó nhưng không bao giờ  xử lý được vì  đã lú lẫn từ lâu. Họ chỉ khư khư một mớ lý thuyết cũ rich , như rác thải trên sông,  trở thành vật cản.  Trong đời sống xã hội , không có lề phải lề trái. Thuận dong thì ít cản, ngược dòng thì nhiều cản. Trên dòng sông trí tuệ đang cuồn cuộn chảy không ngừng ấy của nhân loại, những vật cản đó trước sau rồi nó cũng bị cuốn phăng đi, bị muôn đời xỉ vả.

Vì vậy, bBài luyện nhớ hôm nay xin bàn về cái tai.

Tai dùng để ghi nhận âm thanh.

Chữ  耳  (er -> nhĩ -> tai) của Tầu rõ rang có hình tượng  cái vành tai .Tiếng Anh là  : ear , Pháp là Oreille.

Với chữ nhĩ , nó đã thành một bộ lớn, kết hợp với rất nhiều chữ  cho ta tới ba bốn chục từ khác nhau.

Sau đây là một vài kết hợp thường gặp

 

耶  ( ye) âm Hán Việt đọc là da là trợ từ nghĩa là vậy ru

耻, ( chi ) : sỉ, nhục

耿  (geng ). Cảnh như cảnh giới ( 耿 介 )

圣 ( sheng): thánh , thánh nhân

闻 ( wen) : Văn là nghe

联 (lian) : lien kết, nối liền

聪 (cong) : thông như thông minh

声 ( sheng) : Thanh. Âm thanh,  Tiếng

职 ( zhi)  : chức, chức tước….

Chuyện con mắt, cái tai…nói không bao giờ hết. Trong phạm vi một giờ nhàn đàm để làm chậm lão hóa cái tai, con  mắt,  cái đầu …nó cũng lien mien vô kể. Người ta ai cũng muốn có cái nhìn thuận mắt, nghe thuận tai, cho nên luôn luôn có nguy cơ trở thành kẻ ưa nịnh. Bọn nịnh hót xung quanh thừa dịp hoành hành. Docago cũng không là ngoại lệ. Tuy nhiên gặp  trường hợp nịnh quá lố  đã không thể   không thốt lên :

                        Nịnh hót xưa nay vốn thói đời

                        Nhưng ông ưa nịnh quá ông ơi.

                        Có kẻ ví ông ngang thần thánh,

                        Răng giả ông cười sút nữa rơi.

ĐAT

Ngày nay, đáng buồn hơn, nhiêu người có mắt nhưng như đã mù, có tai như đã điếc…Đi khắp nước này nước nọ ma cái đầu óc bã đậu vẫn không còn có thể nhận ra xu hướng của thời đại nữa.

Tai (耳)  họ đã mặc nhiên kết hợp với chữ quý (贵), phú quý để  trở thành hội ( 瞆  聩 ) tức là điếc﹐ mù  từ nhỏ mất rồi./.

Advertisements

TMCS :NHÀN ĐÀM : XIN CHỮ ÔNG ĐỒ TÂN THỜI.

 Đỗ Anh Thơ : Khai bút đầu xuân Mậu Tuất      

     Chó dữ xưa nay ai muốn nuôi ?

    Trông nhà- nịnh chủ. Hết !cong đuôi.

    Chi bằng làm bạn cùng cún nhỏ

    Sống, dắt đi chơi. Chết , chung đồi (*).

                                         ĐAT

                  1 Tết Mậu Tuất ( 16/2/2018) tại SG

 (*) Cạnh lăng nhà chí sĩ Phan Bội Châu ở Bến Ngự ( Huế) , có một ngôi “nghĩa cẩu”( mồ con chó trung thành) , chắc cụ đã đắp cho nó trong những ngày cuối đời đơn bạc của mình./. 

Đỗ Anh Thơ : Não nùng nhớ quê  ( Hai chín tết , nghe tiếng chim cu)

               Xưa nghe cu gáy gọi dồn

         Bốn ngày tàu chợ , núi non…vẫn về.

                Nay còn tiếng gọi đồng quê,

         Vắng cha , khuất mẹ : lấy nê …tuổi già

               Ôi!

                           … Tiếng chim

                                   …xát muối

                                              …Lòng ta !

                                           Sáng 29 tết Mậu Tuất

                                                     14/2/2018

                                                          ĐAT

Đỗ Anh Thơ : Tết Mậu Tuất (2018) : Nhặt truyện cũ đăng lai (2)

.
BÁT CANH CUA CỦA O TÔI

Miền Trung chúng tôi gọi chị em gái của bố là o. Chồng o, gọi là
dượng. Từ “dượng” còn để gọi chồng mới của mẹ – một người xa lạ đột
nhiên đến xen giữa tình cảm của đứa con với người mẹ, nên thường đứa
con nào rơi vào hoàn cảnh ấy cũng có cảm giác lạnh nhạt với người đàn
ông đó. Bởi vậy, nhiều gia đình quê tôi nay theo cách xưng hô miền Bắc
gọi người anh em rể của bố là bác hoặc chú, cho thân mật hơn. Nhưng
đại từ “o” thì trái lại. Cấp độ thương yêu của từ “o” cao hơn từ “cô”
rất nhiều. Kể cả việc ta xưng hô với những cô gái. Có lẽ đó là sự cảm
nhận chủ quan của riêng tôi chăng? Nhưng nếu đúng thì một phần có thể
là do sự tròn trịa của âm hưởng “o” tạo nên. Bởi vậy, tôi xin được giữ
nguyên hai từ “o”, “dượng” trong câu chuyện về người em gái của bố
mình mà không sợ bị xem là lạm dụng từ địa phương.
Bà tuy là phận nữ nhưng nét mặt rất “đàn ông”, dáng to cao không kém
gì bố tôi. Giọng nói của o oang oang như lệnh vỡ. Trái lại, dượng tôi
thì mảnh khảnh, tạng người ấy xưa nay người ta vẫn bảo “trói gà không
chặt”. Ông là bạn học chữ Hán với bố tôi. Sau khi thi hỏng tam trường,
bố tôi quay sang học nghề thuốc. Còn ông thì chỉ thích đọc sách, chơi
cây cảnh sống như một người ẩn dật. Có lẽ lúc đó tôi còn quá nhỏ chưa
hiểu hết tâm trạng của dượng tôi. Mọi việc đồng áng hầu như ông phó
mặc cho o tôi và một người con gái áp út tên là Nậy. O, dượng tôi sinh
được bảy người con, nhưng đều một bề là gái. Có người đã lớn, lấy
chồng xa, có người buôn hàng xén ở chợ. Hai cô gái thứ năm và út còn
đang đi học.
Khoảng năm 1944, cô con gái thứ năm của o học xong đíp-lôm về ở nhà.
Tôi và người em được bố tôi gửi ra nhà o dượng học hè. Tôi thấy dượng
thường nằm trên chiếc võng chõng, đọc sách chữ Hán. Thỉnh thoảng, ông
mới dậy đi ra vườn, tỉa tót cành lá cho mấy cây mẫu đơn, bồn ngâu hoặc
chiếc cổng uốn bằng cây dâm bụt. Gần trưa thì o tôi đi làm đồng về.
Chiếc váy nhuộm nâu với bùn của o vấn lên gần tới gối. O thả trâu vào
chuồng, rửa ráy qua loa, tu một bát chè xanh đặc rồi lên võng cói nằm
lim dim đôi mắt. Trong khi đó, Nậy vơ vội ôm rơm vào bếp, thổi một nồi
đồng cơm gạo đỏ to tướng.
Mùa ruộng khó, bà nằm nghỉ cho tới khi có cơm mới dậy. Rồi cả nhà quây
quần bên mâm cơm với một tô cà muối mắm, một rá khoai lang củ hoặc
khoai xéo. Dượng tôi ngồi trên nhà, được o sai con bưng lên cho một
liễn cơm nhỏ với cá trích hoặc cá nục kho. Thường ngày, niêu cá này
được đặt vào cái gióng mây treo dưới bếp.
Tôi từ nhỏ đã có tiếng khảnh ăn. Tôi nhỏn nhẻn mãi không hết bát cơm.
O tôi vừa nhai khoai với cà đôm đốp rất ngon lành, vừa để ý đến tôi. O
thường bảo:
– Thằng Thịnh cả buổi rồi mà không hết nửa lưng cơm. Thôi, vác bát lên
dượng gắp cho khúc cá.
Trên nhà, dượng tôi cũng đang nhai từng hạt, từng hạt… cơm đỏ. Liễn
cơm vẫn còn đầy.
Ông gắp cá cho tôi, mỉm cười mà không nói. Đến bây giờ tôi vẫn nhớ như
in nụ cười hóm hỉnh đó. Ông vốn móm. Cái cười như muốn nói với tôi:
– Dượng cháu mình đều là “phường dài lưng tốn vải” cả, cháu nhỉ!
Những ngày làm ruộng nước đồng đất sét, buổi trưa về trông o lấm lem
những bùn là bùn. Váy của o xắn cao hơn. Đặt cày xuống, chưa kịp rửa
tay, o đã gọi tôi oang oang:
– Thằng Thịnh mô rồi, ra o cho.
O lần cạp váy lấy ra cho tôi khi thì một con muồm muỗm, khi thì ổ
trứng cà cuống.
Thế là tôi chạy vù vào bếp vùi vào tro nóng. Một lát sau, tôi đưa ra
gỡ từng hột, nhấm nháp. Còn muồm muỗm, tôi thường ăn cái bụng vàng ươm
trước. Cuối cùng mới tới cái đầu béo ngậy.
Thích thú nhất là những hôm tôi trông thấy o ở đồng về vội vàng cởi
cái giỏ đeo sau lưng, đổ ra đến gần một rổ đầy cua đồng mà hai mẹ con
bắt được quanh bờ ruộng.
Tôi sán vào ngồi cạnh o, nhìn bầy cua. Con đực to đen, hai càng như
hai cái gọng kìm giơ lên dọa nạt mỗi khi tôi định thò tay bắt. Con cái
lưng vàng ửng bụng mang cái yếm bọc đầy một đàn con bé li ti. Chúng bò
loạn xạ, cố leo lên miệng rổ mong đem con chạy thoát thân. Tay o xóc
cua trong chậu nước cho sạch bùn, miệng o nói với tôi như quát:
– Mi mà mó tay vô đó, nó cắp cho một miếng là chảy máu liền. Thôi, đi
lấy ấm tích nước chè xanh của dượng rót cho o một bát. O khát khô cổ
rồi!
O tôi cũng giống như bố và các chú tôi, nghiện nước chè xanh có tiếng.
Trưa hè, o có thể chỉ uống một bát nước chè thật đặc rồi nằm nghỉ,
chiều lại ra đồng làm tiếp, không cần ăn cơm mà vẫn không biết mệt.
Tôi xách tích nước ra cho o. O uống cạn, rồi bảo:
– Cháu đi hãm cho dượng ấm khác!
Trong khi tôi rửa chè thì thấy o đã cầm từng con cua bóc mai và yếm
vứt đi rồi xé đôi ra. O làm một nhoáng là xong. Sau đó o cho cả mớ cua
lẫn với khế nguyên quả vào nồi nước đang sôi sùng sục. Một lát sau, o
gắp từng quả khế bỏ vào cối giã. Nêm mắm muối, thả thêm hành mỡ với
mấy quả ớt to… thế là thành nồi canh cua. Múc canh ra bát, bát canh
đậm đặc đầy những cua là cua, chân giơ lên đỏ ửng. Khế gần như nhuyễn
hết, hòa tan trong nước lờ lờ trắng đục. Đó là kiểu nấu canh cua của
quê tôi.
Bữa cơm như vậy thường phải nấu thêm gạo. Chúng tôi chan canh vào cơm,
nhai rau ráu miếng cua còn cả chân, thật là khoái khẩu. Gặp những cái
càng cua đực quá to, bọn tôi nhường cho người lớn. Dượng tôi ở trên
nhà cũng ăn rất ngon lành, gần hết cả liễn cơm với canh. Cá nục kho
được bỏ lại.
Ôi bát canh cua của o tôi! Đến nay, mỗi lần nghĩ tới, tôi vẫn còn nhớ
cái hương vị đậm đà, bùi thơm, chua cay lẫn với cái nóng rốp lưỡi của
nó. Ai ăn cũng hít hà, chảy nước mắt vì cay, mồ hôi đổ ra như tắm.
Thường thường, đến bữa ăn o tôi cởi áo cánh, chỉ mặc có cái yếm. Thế
nhưng trên vành cổ mồ hôi thấm thành một vòng. Đến chiều, lúc trở ra
đồng, tôi thấy yếm o đã khô, hiện rõ một vành muối đọng lại trắng xóa.
O tôi lại vác cày ra đồng cung Nậy cày cỏ chân lúa. Gặp hai anh em tôi
đang chơi ngoài gốc si, o nói:
– Ừ, bay ra đây chơi để cho dượng ngủ trưa, như rứa là ngoan lắm.
Chiều o lại thưởng cho mấy ổ trứng cà cuống mà nướng!
Mới nghe tới đó mà chúng tôi đã phát thèm. Tôi nhìn theo o, vạt váy
nâu xắn cao xăm xăm bước ra ruộng, trông như một lực điền…
***
… Ngày nay, mỗi lần nhìn thấy vợ làm món riêu cua, tôi lại nhớ tới bà
o, tôi gợi ý cho vợ cách làm canh cua xứ Nghệ hồi đó. Vợ tôi cười:
– Anh cứ như người từ trên cung trăng xuống. Món cà muối với canh cua
kiểu ấy chỉ có trong tưởng tượng của thứ nhà văn nửa mùa như anh mà
thôi!
Vợ tôi thích ăn canh cua rau đay. Mỗi lần cô ấy đi chợ mua được hơn
mười con. Thế mà nghe nói giá tới trên một nghìn đồng. Sau khi rửa
sạch, vợ tôi bóc mai cua lấy đầu tăm cẩn thận khều từng tí gạch ra
bát. Càng và mình cua được rửa lại hai ba lần nữa rồi mới cho vào cối,
giã thật nhuyễn, lọc bỏ bã. Vừa làm, cô ấy vừa nói, như dạy cách nấu
ăn cho tôi:
– Cần rửa cua thật sạch mới hết khai. Làm như o của anh ngày xưa thì
có mà nuốt! Cua xay ở chợ không sạch mà xáp. Phải giã thật kỹ. Muốn
khỏi vấy bẩn lên áo thì thêm mấy hạt muối…
Những bữa ăn có món canh cua mà vợ tôi bày ra như vậy thường thường
tới hơn mười hai giờ mới có ăn. Tôi phân vân:
– Miền Bắc làm món canh cua thật cầu kỳ, nhưng canh khi múc ra bát chỉ
thấy nổi lên một ít riêu nâu nâu, trông như bọt nước đầu bờ ruộng mùa
mưa bão quê tôi. Đụng đũa là tan ngay. Nó đâu có tạo nên được cho ta
cái thèm khát cồn cào từ tiếng rau ráu, tiếng xuýt xoa kêu cay của
người ngồi ăn bên cạnh cùng với cái cảm giác đậm đà mà chua tê cứng
đầu lưỡi mình của những quả khế chín vàng như bát canh của o tôi thuở
nào… Phải không O?

Đỗ Anh Thơ : Tết Mậu Tuất : Nhặt truyện cũ đăng lại (1)

D
ặc sản thì vùng nào cũng có. Cho dù đã đi xa nhưng đến chiều đông, cận kề Tết, vào những năm tháng tuổi già không ai không nhớ tới quê hương. Đêm đêm, khi gió mùa lay động ngoài thềm, trong cơn mê, ta nghe như có tiếng gõ cửa của cha mẹ, của người thân mới ở quê ra. Họ mang cho ta nào là… mấy lọ mắm rươi, mấy chai mắm cáy… những đặc sản ngày Tết! Mừng rỡ quá, thế là ta tỉnh hẳn. Ta thao thức, từ một hai giờ sáng, không chợp mắt lại được nữa, cho đến khi trời hửng.
Tôi thường bị những cơn tỉnh giấc như vậy. Rồi tôi nhớ tới gốc đa đầu làng, bụi tre sau nhà… Nhớ tới cây ruối, cạnh một cái miếu hoang mà ban ngày, tôi cùng bạn bè chăn trâu, tha hồ vào ra chơi trốn tìm. Thế mà, nếu chiều nào đi học về muộn một mình, mặc dù đã có cây kiếm gỗ buộc sau lưng, nhưng tôi vẫn rợn tóc gáy khi thấy nó hệt như bóng oan hồn của người chết, được lập miếu thờ ở đó.
Những buổi mẹ về chợ, chia cho lũ chúng tôi khi thì một xâu lạc luộc, khi thì chiếc kẹo đường, giữa có nhân màu nâu như miếng cau khô. Thế nào những thứ đó tôi cũng để dành, rủ nhau đưa ra miếu, bày trò cúng tế rồi mới hạ cỗ.
Tháng chạp, quê tôi thường sẵn cua và vẹm do người miền biển đưa lên, bán cùng với những niêu cá mu[7]. Năm nào thì mẹ tôi cũng phải mua một đôi chục. Bà luộc cho chúng tôi ăn rồi giữ lại những cái mai, cái vỏ. Bà dấu biệt đi một nơi nào đó mà thường ngày tôi không để ý, sợ tôi lấy đi để làm nồi xoong, bát đĩa, đựng cát chơi các trò nấu cơm, bán hàng.
Khoảng hai lăm Tết, trong khi cha tôi miệt mài viết câu đối tết thì mẹ tôi đã gọi anh Khởi về, giết con lợn mà bà đã băm bèo thái rau và nuôi vỗ béo từ ba bốn tháng trước.
Tiếng rằng, một con lợn già chín tháng nhưng chỉ nhỉnh hơn lợn lai ngày nay khoảng hai tháng mà thôi. Anh Khởi chọc tiết làm lông xong, chia làm bốn phần đem ra cân. Mẹ tôi gửi về bên nội cho chú Ba tôi ba phần và toàn bộ thăn nạc. Bà còn gửi kèm những chiếc mai cua và vỏ vẹm, óng ánh màu xà cừ, trông thật thích mắt.
Trong tất cả các em của bố tôi, chỉ có chú Ba biết làm cỗ ngon và nhiều món. Riêng giò ông làm được ba bốn loại. Nào là giò lụa, giò nạc lẫn bì, giò thủ, giò mỡ… nhưng phải nói, món cua mới chính là đặc sản chú tôi chế biến ngon nhất.
Đó là thức nhắm chính của các cụ, của cha tôi. Nó có thể để dành lâu hơn cả giò chả. Đến bây giờ tôi chỉ còn nhớ nguyên liệu làm cua cũng chỉ là thịt nạc như giò lụa. Cũng từ cối thịt mà chú tôi hai tay hai chày giã liên tục hàng tiếng đồng hồ, nhuyễn đến mức có khi rút chày không lên được. Sau đó gói giò xong, thịt còn lại trong cối, chú tôi thêm hạt tiêu, một số lá chát thái chỉ với miến dong. Lại tiếp tục giã thêm một hồi nữa.
Chú tôi lấy vỏ vẹm làm chừng, múc thịt ra những chiếc lá bưởi. Bên cạnh là mấy chục cái mai cua đã rửa sạch. Chú nhẹ nhàng đặt thêm một lá nữa phía trên rồi cho vào mai cua, cẩn thận xếp lớp vào cái chõ, phía dưới là nồi nước đang sôi sùng sục. Tới khi nước cạn khô, cua chín, chú lấy ra cho vào gióng treo giữa nhà.
Mỗi mâm cỗ cúng, chú thường bày hai đĩa cua như vậy. Dưới chiếc mai cua đỏ ửng là những lát thịt khô giòn đã được cắt sẵn.
… Ngày thường cũng như Tết, có lẽ cha tôi thích nhất món đó. Thế nhưng đối với bọn trẻ chúng tôi, nó hăng hắc, đăng đắng, có mùi thuốc bắc, nên ít khi chúng tôi ăn. Sau Tết nó được vứt bỏ hết mai đi, kho lại một lần nước mắm nữa để cha tôi nhắm rượu dần.
Vụ mùa năm Giáp Thân (1944), đồng lúa quê tôi bị bệnh hoàng trùng gần như mất trắng. Nhiều nhà đã phải ăn cháo cám với rau má. Con lợn Tết mẹ tôi nuôi réo trong chuồng đòi ăn suốt ngày. Nhà tôi cũng đã ăn cháo gạo xát máy từ Sài Gòn, mua của bọn cai thầu sân bay Yên Đại, hoặc của những người bạo gan, ăn trộm từ kho gạo của Nhật.
Tết Ất Dậu tới, lợn mổ ra chỉ có da bọc xương. Muốn bày biện cho đủ các món giò để cúng tổ tiên, chú Ba tôi phải độn thêm bột gạo. Vì thế, giò cua làm ra cắt chẳng thành khuôn.
Cha tôi lúc này đã có dấu hiệu biếng ăn. Gắp miếng cua lên, ông cắn một miếng, rồi bỏ sang cho tôi mà buông đũa. Chú Ba nhìn cha tôi, vẻ ân hận lộ rõ trên nét mặt. Chú đã không làm được món cua ngày Tết như trước, cho ngon miệng người anh yêu thương.
Tết năm đó, tôi còn nhớ, trên mâm cỗ cúng bày ra như thế, nhưng khi xuống bếp, tôi bắt gặp bà mự, vợ chú tôi, đang húp một bát cháo cám rau má to.
Thấy tôi nhìn, bà đỏ mặt, cười và nói:
– Cháo bùi ngậy lắm. Cháu có muốn thử một miếng không?
Tôi thử xúc một thìa bỏ vào mồm. Nó bùi thật. Nhưng ăn sang thìa thứ hai… thì rát lưỡi quá.
Thế mà bà mự tôi còn lấy vẹm vét quanh nồi một tảng cháo đặc cháy, đựng vào bát yêu, rồi bảo:
– Để dành cho chú, lát nữa…
… Sau Tết ít lâu, cha tôi bị phù nặng. Mẹ tôi cũng ốm lên ốm xuống. Chúng tôi thì chân tay rã rời, không còn muốn chạy nhảy như trước.
Mẹ tôi phải bán chiếc xe đạp của cha, mời đốc tờ Tấn đến xem mạch cho ông. Ông đốc nói thầm với người lái xe đi theo:
– Béri beri nặng quá rồi[8]
Ông kê đơn cho cha tôi. Còn với mẹ của chúng tôi, ông khuyên:
– Bà chịu khó dần kỹ cám, trộn thêm với gạo, nấu cháo mà ăn, sẽ khỏi thôi. Còn ông nhà, thì…
Không lâu sau cha tôi mất. Mẹ tôi khỏi bệnh dần.
Trước linh cữu Người, chú mự Ba gầy gò chỉ còn da với xương đập đầu khóc thảm thiết:
– Răng[9] anh nỡ bỏ đứa em côi cút này mà đi, anh ơi!
… Mãi sau này hòa bình lập lại, tôi mới có dịp về quê ăn tết ở nhà chú tôi. Tôi lại được thưởng thức món cua ưa thích của người cha, những ngày…
Gắp cho tôi miếng cua, chú nói:
– Tạng cháu, lười ăn, rứa là cũng yếu gan. Cha cháu xưa, cả ngày không hết lưng cơm. Ông nội cháu cứ sắc vỏ bưởi, bắt uống. Một lần thương anh uống đắng quá, chú phải uống thay. Sau chú nghĩ: Vỏ bưởi thì cũng như lá. Thế là chú tìm cách làm món thịt viên, hấp lá bưởi cho anh ăn. Ông ăn mãi thành nghiện. Cháu biết không? Năm đói, chú sống được nhờ có cám với vỏ bưởi đó, mà không bị phù. Chú học kém, quen lao động chân tay, nhưng cũng biết đôi chút thuốc nam, không như cha cháu, chỉ tin vào sách thuốc của Tàu.
Tôi nhìn chú tôi, rượu vào, da dẻ chú đỏ nâu như màu mai cua biển. Chỉ có mái tóc thì đã bạc phơ phơ…