Đỗ Anh Thơ : Truyện cực ngắn : Tuo …chu…qu …kuai …ba !

 

Đang ở quận 9 chơi với các cháu,  Docago nghe  Hòa thượng Thích Thịt Chó đả đảo sách  “Trí tuệ Khổng Tử”, “ Trí tuệ Lão Tử” …mà Hắn vẫn tự hào nay đã thành e-book , Hắn  tức điên, quyết chí lần này phải “ thoát Trung” .  Hắn  liền gọi taxi lên Nhà sách ký một hợp đồng dịch thuê sách tiếng Anh,  rồi nghĩ thầm :

– Phen này thì Thích Thịt Chó phải biết tay ta  “thoát Trung” nhanh như thế nào !

Quay về  Bình Thạnh, vét mãi trong túi chỉ còn đúng 300 ngàn , hắn ra cửa hàng trước cửa hỏi mua chiếc đèn để bàn đúng nhãn hiệu Ma dê in Vietnam

Chủ quán lắc đầu lìa lịa :

Tất cả các hàng điện , nước , sắt thép, điện tử của ta, hiện nay cạnh tranh không nổi với hàng Tầu nên các công ty đều phải gia công cho chúng rồi dán mác Việt Nam . Mà giá đúng 360 ngàn cả bóng , bác a .

_ Thế thì lại là hàng rởm như đèn LED có  công tắc cảm ứng , tôi mua của ông . Cháy  ngay thôi mà !

Rồi Hắn chép miệng : Thế ra khẩu hiệu “Người Việt Nam dùng hàng Viêt Nam chỉ là hô hào suông ư ?

Nói thế xong, Hắn chạy băng qua đường , về nhà .

Ông chủ quán nhìn lão ngơ ngác.

Thì ra Hắn thiếu tiền phải về vay vợ.  Vợ Hắn cúi xuống …lần hầu bao …lần trong quần lót… mãi mới  moi ra được một trăm. Khi bà ngửng lên …thì Hắn đã biến mất.

Nhưng rồi bà nghe Hắn rên nho nhỏ trong toa lét và lẩm bẩm nói :

Tuo …chu…qu… kuai …ba !!! (*)

Té ra bụng Hắn đã tích lại cái “ nhân chi sơ ” lâu ngày  quá rồi. Thoát nhanh làm sao được mà Thích Thịt Chó cứ trách mắng  . Thật tội nghiệp cho Hắn !

 

 

Chú thích (*) 脱 出 去 快 巴

Tại Bình Thạnh

Sài Gòn

(26/5/2017)

ĐAT

.

HUY CẬN:CÁC VỊ LA HÁN CHÙA TÂY PHƯƠNG (phần cuối) – TMCS dịch

Dịch:
TMCS:  Anh  và Hán
Trịnh Phúc Nguyên : Pháp
Phan Hoàng Mạnh  : Pháp
Hoàng hôn thế kỷ phủ bao la 
Sờ soạng, cha ông tìm lối ra 
Có phải thế mà trên mặt tượng 
Nửa như khói ám, nửa sương tà. 

Các vị La Hán chùa Tây Phương! 
Hôm nay xã hội đã lên đường 
Tôi nhìn mặt tượng dường tươi lại 
Xua bóng hoàng hôn, tản khói sương.

Cha ông yêu mến thời xưa cũ
Trần trụi đau thương bỗng hoá gần! 
Những bước mất đi trong thớ gỗ 
Về đây, tươi vạn dặm đường xuân.
 
Anh: TMCS
 
The world was covered by the immense century sunset
Our ancestors have scrabbled for the outlet.
Therefore, half of the face of every statue was smoky
And the other half – foggy.

Oh! Arhats of the Tây Phương  Buddhist temple,
Today the mankind society takes the departure.
 I see the rejuvenation on each statue’s face
Without smoke and sunset shadow on their figure.

Our beloved ancestors 
Having experienced too much sufferings since ancient days
Become so close to us nowadays!
The steps lost in the wooden fibres return here
Make the long Spring Road radiant and clear.
 
Hán- phiên âm. dịch nghĩa: TMCS
 
Hoàng hôn trường mạn mãn thiên địa Hoàng hôn lê thê kín trời đất
Mạc sách tổ tiên  tầm xuất đồ           Tổ tiên quờ quạng tìm lối ra
Do thử tượng tiền, nhân khả kiến    Do đó đứng trước tượng ta thấy:
Dung nhan yên yểm, sương mô hồ.  Mặt tượng  :khói che, sương mơ hồ.

Tây phương tự lí chư La Hán    Các vi La Hán trong chùa Tây Phương !
Xã hôi kim thiên dĩ xuất hành     Xã hôi hôm nay dã khởi hành
Ngã kiến tượng dung như khởi sắc  Tôi thấy nét mặt tượng khởi sắc
Yên sương dĩ tản, thiên quang thanh Khói sương đã tan, trời trong sáng .

Kính ái tổ tiên tự quá khứ      Tổ tiên kính mến từ quá khứ
Bi thương xích xích hốt thâm tình   Trần trụi đau thương bỗng thân tình
Mộc trung cước bộ vị hành tẩu  Những bước chân trong gỗ chưa cất bước 
Hưng phấn xuân đồ vạn lí trình. Đi vạn dặm trên đường xuân hưng phấn.
 
Chữ Hán: TMCS
黃昏長慢滿天地
摸索祖先尋出途
由此像前人可見
容顏霜掩煙模糊
西方寺裡諸羅漢
社會今天已出行
我見像容如起色
煙霜已散天光青
敬愛祖先自過去
悲傷赤赤忽深情
木中腳步未行走
興奮春途萬里程
Pháp: Trịnh Phúc Nguyên
Le crépuscule séculaire couvre l’espace immense,
Nos ancêtres ont tâtonné pour chercher l’issue,
Est-il vrai que c’est pour cela que les visages des statues
sont à moitié noircis par la fumée,à moitié embrumés de l’ombre du soir,

Ô arhants de la pagode Tay phuong,
Aujourd’hui,la société est déjà au point de départ sur la piste,
Je contemple les visages des statues,
Il semble que vous vous raffraichissiez,
que vous avez chassé l’ombre crépusculaire
et dissipé la brume et la fumée.

Nos ancêtres d’antan respectés,bien-aimés,
Contorsionnés de douleurs,semblent nous approcher,
Les pas disparus des fibres du bois sculpté
retournent ici, tout rafraichis,
sur le chemin éternel du Printemps.
 
Pháp : Phan Hoàng Mạnh.
 
(Kèm  hai khổ kì trước, trong đó PHM có đính chính một chỗ do lỗi dánh máy)
Nos pères, qui avaient supporté le grand fardeau du 
                                                                          Temps,
Les amis contemporains de Nguyen Du, 
Avec du feu dans les entrailles et des lourds soucis sur
                                                                          le front,
Avaient tant souffert pour la vie mais n’avaient pu
                                                         sauver le monde.
 
Nos ancêtres avaient eu les entrailles déchirées
Dans l’époque où la vie piétinait toujours sur place.
Tous les espoirs les poussaient sur les côtes.
Ils restaient desséchés comme des bourgeons 
                                                     manquant de soleil.

Le crépuscule séculaire avait recouvert toute l’humanité.
Tout en tâtonnant, nos pères recherchaient la sortie.
Est-ce la raison que sur tous les visages des statues,
C’est blafard comme enveloppés de fumée ou de
                                                                           brume.

O Arhants de la Pagode Tay Phuong!
Aujourd’hui, toute la société est en route.
Il me semble que vos physionomies sont quelque peu
                                                                rafraichies,
L’ombre crépusculaire est refoulée et la brume s’est
                                                                      dissipée.

Nos ancêtres estimés des époques d’antan,
Qui avaient tant souffert, deviennent bien proches.
Les pas, qui se sont perdus dans les fibres du bois,
Parviennent maintenant tout frais sur mille lieues de
                                                                  Printemps.
 

 

Đỗ Anh Thơ : Truyện cực ngắn: Chú chich chòe lửa hót chúc sức khỏe Docago

 

Trời chuyển mùa, gần tuần nay Docago “ nhọoc” nên đã 8 giờ sáng, lão vẫn chưa dậy .

Dưới nhà, họa mi, chích chòe than đang hót líu lo.

Lão lắng tai, nhưng  chưa nghe tiếng hót “ túc  chúc..túc chúc ” trầm trầm của chú chích chòe lửa . Sợ chú ốm nên lão gượng vùng dậy , vội vàng xuống cầu thang, bước ra sân sau .

Đến gần lồng, lão  đưa đôi mắt kèm nhèm…  nhìn chim nhưng không thấy chú đứng trên cầu. Chích chòe than, họa mi ở bên cạnh, đang hót …thấy lão …liền im bặt.  Vạch vải che lên, thì ra chú đang bám trên đỉnh lồng …ngó ngó, nghiêng nghiêng  …nhìn … bạn  hót.  Tới khi thấy lão, chú nhảy xuống , vẻ mừng rỡ, rồi cong  đuôi dài, như cái áo khoác của kỵ sĩ lên  và  “ túc chúc …túc chúc”  liên hồi…Lão càng nhìn, chú càng nhảy nhót, rồi hót to hơn.

Lúc này vợ lão đã dậy tập thể dục xong đang ăn sáng . Nhưng tại sao chú lại không hót ? Vì bà lão yêu , chăm sóc họa mi và chòe than, cho chúng nhiều sâu hơn , nên chú giận bà chăng? hay biết lão “nhọoc”  dậy muộn  nên chú  chờ lão xuống , cất tiếng chào buổi sáng , để chúc lão vui khỏe, yêu đời  lên chăng  ?

2/5/2017

Tại Bình Thạnh SG

 

Huy Cận : Các vị La Hán chùa Tây Phương ( khổ 11-22) – TMCS (dịch)

Thơ HUY CẬN
 
Dịch:
TMCS: Anh – Hán
Trịnh Phúc Nguyên :  Pháp
Phan Hoàng Mạnh  :  Pháp
Cha ông năm tháng đè lưng nặng 
Những bạn đương thời của Nguyễn Du 
Nung nấu tâm can vò võ trán 
Đau đời có cứu được đời đâu. 

Đứt ruột cha ông trong cái thuở 
Cuộc sống giậm chân hoài một chỗ 
Bao nhiêu hi vọng thúc bên sườn 
Héo tựa mầm non thiếu ánh dương. 
 
Anh: TMCS
 
Our ancestors – the contemporary friends of Nguyễn Du-
With the heavy burden of time on their backs,
Have whole-heartedly searched out the way
To rescue the mankind from sombre days.
Although their hearts have been always filled with pity,
But it is in vain till  nowadays! 

The hearts of our ancestors were broken that time
When in their life
There was not any change and  improvement.
Because all hopes closed to their life
Were as withered as the tender buds lacking of sunlight. 
 
Hán- Phiên âm- Dịch nghĩa : TMCS
 
Tuế nguyệt tổ tiên phụ bối thượng  Tổ tiên cõng năm tháng nặng trên lưng
Nguyễn Du chi hữu tự na thì        Là bạn Nguyễn Du từ thuở ấy
Tâm can hoả nhiệt, ngach đa trứu  Tâm can thiêu đốt, trán nhăn nheo.
Độ thế cứu nhân bất khả thi      Không  làm được việc cứu nhân độ thế.

Tiên tổ đoạn trường tự cổ đại        Tổ tiên đứt ruột từ đời xưa
Nhân sinh vĩnh viễn bất năng di   Cuộc sống con người mãi chẳng đổi thay được
Hảo đa tâm nguyện tằng hoài bão Từng hoài bão rất nhiều tâm nguyện,
Khô kiệt nộn nha bất cập thì          Như các mầm non khô héo , không gặp thời
 
Chữ Hán: TMCS
 
歲月祖先負背上
阮攸之友自那時 
心肝火熱額多皺 
渡世救人不可施
 
先祖斷腸自古代
人生永遠不能移
好多心願曾懷抱
枯竭嫩芽不及時
 
Pháp: Trịnh Phúc Nguyên
 
Nos ancêtres ont le dos chargé du poids des mois et des années,
Les amis contemporains de Nguyen Du,
Le coeur chauffé,le front froncé,
Compatissant à la vie humaine,pourtant ne pouvant la sauver

Nos ancêtres,les entrailles déchirées pendant la période
ou piétine la vie  en vain sur place,
Beaucoup d’espérances nées en leur coeur,
Sont pourtant flétries comme des jeunes germes
manquant de lumière solaire.
 
Pháp: Phan Hoàng Mạnh
 
Nos pères, qui avaient supporté le grand fardeau du 
                                                                          Temps,
Les amis contemporains de Nguyen Du, 
Avec du feu dans les entrailles et des lourds soucis sur
                                                                          le front,
Avaient tant souffert de la vie mais n’avaient pu
                                                         sauver le monde.

Nos ancêtres avaient eu les entrailles déchirées
Dans l’époque où la vie piétinait toujours sur place.
Tous les espoirs les poussaient sur les côtes.
Ils restaient desséchés comme des bourgeons 
                                                     manquant de soleil.
 
 
 

Đỗ Anh Thơ : Truyện cực ngắn : Đào, Mận, Mai, Mơ (2)

 

Vừa qua, Hòa Thượng Thich Thịt Chó  được mời đi tham quan Dệt Phùng Xá . Họ chuốc cho lão một bữa thịt chó với rượu nếp cái hoa vàng pha mơ mật ong … say túy lúy. Ra về họ còn tặng cho vợ lão một đôi khăn quàng dệt bằng sợi Tre (bamboo).. Khoái chí, lão làm thơ tình và thơ say , khoe với Docago tận trong Nam, nhưng thầy thấy ảnh ông bạn mình đã phá giới, lại hom hem quá, mà còn làm thơ tình, nên chần chừ chưa đăng . Lão liền cáu, đả đảo , tẩy chay sách Khổng tử, Lão tử …của thầy Đồ .

Vậy là một cuộc chiến tranh lạnh trên mạng đã nổ ra .

TTCh : – Này, đừng có làm phách nhé . Mỗ không cần học cái chữ Tầu thổ tả ấy, nhưng nhờ Google, Mỗ vẫn dịch được thơ Đường như ai. Đến cụ Cử Toan Kính cũng phải khen nức nở đấy !

Docago : –  Ừ , thì hay . Thày sẽ đăng .

TTCh :  Khen thật hay nịnh để Mỗ thôi không đả đảo những học thuyết “ Cóc chết” lỗi thời ấy ?

Docago :Không . những khen thơ Sư hay …mà còn khen Sư …tài nữa.   Học mòn đũng quần như Tú Xương, thi mãi vẫn trượt , nhưng làm thơ hay , được vợ khen :   “không hay …sao lại đỗ ngay Tú Tài …” cũng sướng cái lỗ tai ! .

TTCh :  Đừng nói xỏ , thầy Đồ gàn. Mỗ là thầy Đồ  Internet và Photoshop thứ thiệt thời hiện đại đây .

Docago : Nói thật tình mà ! Thầy đã chán cái chữ Tầu và triết lý “Ngụy quân tủ”  đến cổ rồi.  Nay chỉ muốn làm thơ  “Mận hỏi Đào” như Thích Thịt Chó nữa  mà thôi .

TTCh : Thì cắp sách ra đây Mỗ dạy .

Docago : Nhưng Thầy vẫn cảm thấy tiêng tiếc cái chi chi hồ giả dã. Ví như hôm nay dịch đến tranh Mai thủy mạc , Thầy mới biết thêm  là chức Tể Tướng  xưa họ còn gọi là “Điều Mai” hoặc “Hòa Mai”,  có nghĩa là thủ tướng gì gì đi chăng nữa cũng chỉ như là người nấu canh, muối mơ , pha chế mơ …làm sao cho hợp miệng lưỡi mọi người mà thôi (*) .Thế có phải họ thâm thúy hơn chúng ta hay không ? .

TTCh :  ???

 

(*) Chú :   Theo Từ Điển Thiều Chửu :

                    Kinh Thi có câu:

若作和 羹 尔 惟 盐 梅

     Nhược tác hòa canh nhĩ duy diêm mai , ( bằng nấu canh ăn,bui dùng muối mơ) nay gọi quan  Tể tướng là Điều Mai (调 梅)  hoăc Hòa Mai (和 梅)

 

ĐAT

5/5/2017 tại SG

 

TMCS : :DẠO ĐẦU TTTB@ No 112

                          Dien tich “con ca con ke” bat nguon tu dau?

LAN MAN      

                           Con cà con kê – Cà kê dê ngỗng 

TMCS vừa gõ xong cái tiêu đề thì đứa cháu ngoại đứng phía sau lúc nào không biết, bảo : Ông gõ sai rôi !  hôm trước bà bảo cháu: con kê là con gà chứ không phải con cà đâu !

TMCS giật mình…hồi lâu mới tạm chống chế : À, con cà là biến âm của từ gà, tiếng Việt cổ là  cà, là ca… ý nói là cũng chỉ là một con mà cứ nói đi nói lại mất thì giờ hoặc cục tác mãi như gà mái  mà chưa đẻ… nhưng qua thoáng do dự, TMCS bảo cháu mình : Để ông suy nghĩ thêm rồi giải thích lại cho cháu…

TMCS sục sạo, tìm thấy mấy kiểu giải thích sau:

–  Tương tự như giải thích ban đầu của TMCS.

– Cà là cây cà, kê là cây kê. Hai cây này gieo hạt mọc thành đám, khi tỉa ra trồng lại rất mất thì giờ. Ý nói chyện kể dài dòng tốn thời gian…

–  Nguồn từ tiếng Hoa : ca kệ. Đọc kinh ề à mất nhiều thì giờ.

– Gốc Pháp: caquet, caqueter : gà mái cục tác, nghĩa bóng : ba hoa.  Caquet bon bec; kẻ ba hoa bép xép…Caquet cũng có hàm ý bavardage intempestif (luyên thuyên dải dài dai không phải lúc)…v.v…

Với TMCS thì cách lí giải đầu tiên có vẻ phổ biến, người Hoa hay người Pháp  có vào VN cũng chưa chắc đã du nhập cách nói của họ sớm hơn cách nói của tổ tiên ta…Hiện nay  vẫn còn đang bán tín bán nghi, nên TMCS chưa dám giải thích lại cho cháu mình…

Quý vị nào biết cách lí giải hợp lí hơn, đề nghị giúp đỡ ông cháu TMCS- xin cám ơn trước .

Trên đây chưa phải là chuyện chính TMCS muốn thưa hầu quý bạn đọc xa gần mà là chuyện khác kia

Tính TMCS vốn thế, chứ không phải thích quan trọng hoá “tỏ vẻ tò ve” đâu (se donner des airs importants , faire important…) cứ phải cà kê dê ngỗng … chán chê mê mỏi đã, mới “lấy đà” đủ  để bắt đầu câu chuyện chính  được…

Số là : 

Khi đọc  bài Tây Tiến – thơ Quang Dũng , TMCS thấy hay hay, rất hào sảng lại trữ tình, TMCS liền nảy ra ý định giới thiệu trên TTTB@…bèn tức cảnh sinh tình dịch ra thơ Anh, thơ Hán, thấy “hòm hòm” lại sinh ra ý gửi email xin “chi viện” bản dịch thơ Pháp của các dịch giả cộng tác viên trong nước…cho đủ lệ bộ.

Dè đâu… 

bản dịch của cả hai vị cùng là chuyên gia bậc lão làng Pháp ngữ lại vênh nhau “khớ” nhiều, mà cũng  có đôi chỗ chả vị nào  CẢM giống TMCS cả…TMCS dịch thử mươi câu tiếng Pháp gửi về nhị vị,… kết quả càng thấy  bế tắc….

Theo kinh nghiệm bản thân, TMCS thấy những câu thơ HAY thường có những từ rất  ĐẮT, gợi lên nhiều CẢM khác nhau, nhiều khi làm ngay cả các dịch giả cự phách cũng phải rơi vào tình trạng oái oăm, loay hoay xoay sở. Đó cũng chính là nguyên nhân chính dẫn đến sự vênh nhau giữa các bản dịch…Không phải là giữa các  dịch giả tầm “bô lão” mà cả ở tầm “siêu dịch giả” cỡ Nguyễn Khắc Viện. Lê Cao Phan, Bùi văn Lăng v.v…cũng có  chỗ  vênh nhau khủng khiếp !

Xin khoanh lại bốn câu đầu tiên của Quang Dũng để minh chứng cho nhận xét trên :

TÂY TIẾN

Tây Tiến xa rồi sông Mã ơi,

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi.

Sài luông sương lấp đoàn quân mỏi,

Mương Lát hoa về trong đêm hơi…

TMCS cứ ngồi ngẩn người mãi với ba cụm từ:  nhớ chơi vơi, hoa về, đêm hơi.

Thú thực, có lúc TMCS thoáng nghi ngờ: hay là  QD ‘bí “ vần :

Vì sông Mã  ơi, nên mới có “nhớ chơi vơi”, “đêm i”…

Và cái đầu quen loăng quăng khiến TMCS bật cười : đêm  “i”, thoạt nghe  nghĩ ngay đến “lợn hơi”,  “cân hơi”, “cân móc hàm”…Tiếng Việt mình HAY thật, hèn nào mà thơ Việt mình chả thuộc loại thơ HAY NHẤT QUẢ ĐẤT này !

Không ! QD là nghệ sĩ- chiến sĩ tài hoa : cầm kì thi hoạ…,thuộc  cấp bậc “nhất quả đất”, quyết không có chuyện bí vần , chỉ là QD muốn mênh mang hoá, nên tận dụng khai thác cái vần “ơi” mà thôi…

Và TMCS cố tự lí giải cho cái CẢM của mình ( chưa phải là định nghĩa chuẩn xác) về Nỗi nhớ chơi vơi của người lính trong lời thơ QD – rất có thể nó chỉ HAY khi ứng với nỗi nhớ chơi vơi của người lính trên đường dài, hành quân ra trận…chứ không phải với bất kì nỗi nhớ nào !(Thuật ngữ ngôn ngữ học : nghĩa ngữ cảnh )

Nhớ chơi vơi ; là sự bấp bênh, chập chờn trong khoảng trống mênh mông của tình cảm Nhớ, sự mong manh, mơ hồ lúc nhớ ít nhớ nhiều, thậm chí khuây đi, lắng xuống…không bấu víu cố định vào đâu được.

Đêm hơi là đêm đẫm hơi sương , hơi nước mưa mù mịt.

(Xin quý vị hiểu cho : “Cảm” được gây  ra bởi một “từ “, khác với định nghĩa về  từ đó, một từ có thể có nhiều nghĩa, một nghĩa có thể gợi ra nhiều  cách Cảm  khác nhau tuỳ theo bối cảnh sử dụng từ đó, cũng có khi tuỳ người dùng hoặc người đọc từ đó ).

Riêng với từ chơi vơi của QD, đúng là TMCS có  cái “cảm” phức tạp, khó diễn đạt gọn ghẽ trong một  từ tương đương với ” hai vế”  sự rơi vào chốn mênh mông  chả biết bấu víu vào đâu để ổn định…nhưng  người khác   chưa chắc đã đồng “cảm”…Có thể ai đó chỉ cảm thấy

“chơi vơi” chỉ là BUỒN, hoặc MAN MÁC v.v…nhưng TMCS rất “ngoan cố”, cứ đinh ninh :

nếu chỉ trong KHOẢNG HẸP + ở THẾ BÀN THẠCH thì làm gì có CHƠI VƠI !

TMCS xin nhắc lại quan niệm cố hữu của mình : Từ có đa nghĩa, Cảm có đa chiều, Từ có thể phân biệt đúng hoăc sai, còn Cảm thì mông mênh, không có ranh giới chẻ hoe sai đúng, đúng sai…

Bí quá, TMCS đành  leo lên mạng… may quá  vớ được bài Tây Tiến của dịch giả Đàm Trung Pháp , bốn câu đầu trong  bản dịch Anh ngữ của ĐTP như sau:

 

Westward March

Way behind us is the Mã River , Westward March troops!

Yet thinking of jungles and mountains is still a staggering nostalgia In Sài Khao fog concealed the worn-out soldiers

In Mường Lát  on a steamy night the flowers returned.

Bản Pháp ngữ phác thảo của TMCS (dự định sẽ giới thiệu cùng các bản Anh và Hán như “một cỗ tam mã Anh-Pháp- Hán cà cộ” của TMCS) có bốn câu đầu như sau :

LA MARCHE VERS L’OUEST

(Poème by Quang Dũng – Traduction par TMCS)

Oh! La marche vers l’Ouest,

Le fleuve Ma  est déjà bien éloigné

Avec la nostalgie immense et précaire dans notre coeur

Nous pensons à nos monts et  à nos forêts.

À Sài khao, le brouillard dissimule  la troupe exténuée.

Et Mương Lát refleurit dans cette nuit voilée. 

So với bản dịch của TPN :

Le fleuve Mã ,hélas,est déjà loin;Oh!Marche vers l’Ouest,

En moi,ressurgit le souvenir nostalgique des forêts et des montagnes,

A Sai-khao,le brouillard camoufle la troupe exténuée,

A Muong-lat,les fleurs reviennent dans la nuit vaporeuse.

và bản dịch của PHM:

Le fleuve Mã – Ô Marche vers l’Ouest!-  est déjà bien éloigné.

Dans une vague mélancolie, on pense aux monts et aux forêts.

À Sài Khao, le broullard cache la troupe épuisée

Et des freurs embellissent Mường Lát dans la nuit estompée.

TMCS nhận thấy Nhớ chơi vơi trong bản Anh của ĐTP ( staggering nostalgia) có phần hơi trùng khớp với CẢM  trong các bản dịch Anh, Pháp, Hán của TMCS về một nỗi nhớ  bấp bênh, mơ hồ, không bấu víu vào đâu… trong lòng người lính trên đường hành quân, TMCS “dịch” chân chỉ hạt bột và dài dòng hơn , y như lúc giải thích  ý và nghĩa của “chơi vơi” với cụ G/sư cố vấn của Cộng đồng Pháp ngữ : Avec la nostalgie immense et précaire dans notre coeur….

Vị giáo sư  có hơn nửa thế kỉ dạy văn học ở các nước Pháp, Anh, Thuỵ sĩ, Italia…đã cho nhận xét khớp với Cảm của ĐTP và TMCS sau khi nghe TMCS dịch nghĩa đen sát từng từ, từng câu của bốn câu nguyên tác tiếng Việt trên. 

TMCS cứ lo từ “précaire” cà quỷnh, trật rìa hoá ra cụ G/s lại bảo : người Pháp vẫn thường nói une planche précaire (tấm ván bấp bênh), une position précaire ( vị trí bấp bênh), le bonheur précaire ( hạnh phúc mong manh) … tại sao lại ngại  Nostalgie précaire – nỗi nhớ mong manh, nỗi nhớ bấp bênh… ? Nếu ngại, thử thay thế bằng Nostalgie immense et vague chẳng hạn, nghe “yếu” đi nhiều và “thường” quá, chẳng hấp dẫn gì nữa, và quan trọng hơn là đánh rơi mất ý “instable”…. , còn immense thì tất nhiên rồi : người Pháp rất hay nói  : chagrin immense (nỗi buồn mênh mang, nostalgie immense nỗi nhớ (quê nhà) mênh mang…(G/s cũng cho biết từ điển Oxford mới nhất cũng bỏ nghĩa “nhớ nhà, nhớ quê” của từ nostalgia  trong tiếng Anh đương đại, bây giờ nostalgia chỉ còn nghĩa “hoài cổ” với người Anh– Có lẽ ĐTP  muốn “ép vần” hoặc chưa có thông tin này). Tuy không phải là chuyên gia từ điển học, nhưng cụ Giáo có kiến thức và bộ nhớ tuyệt vời: Cụ ứng khẩu đưa ra  tới khoảng chục từ đồng nghĩa  và chục từ trái nghĩa của précaire với từng thí dụ cụ thể, khiến TMCS tâm phục khẩu phục…

Tuy không biết tiếng Việt, nhưng cụ Giáo tỏ ra rất tâm đắc với khái niệm của TMCS về chơi vơi, vì nó thi vị hoá nỗi nhớ của người LÍNH đang trên đường hành quân lên nhiều lắm :

Chơi vơi  =  khoảng trống + sự bấp bênh (không chỗ bấu víu)

                 = immense          +  précaire  (instable)

Những cách cảm và dịch này của ĐTP và TMCS cơ bản phù hợp với nghĩa  CHƠI VƠI thường dùng trong tiếng Việt (ĐTP chỉ mới nói ý bấp  bênh , ko bám víu, thiếu ý “immense” trong hàm nghĩa chơi vơi  trong khoảng hẹp dù cho có bấp bênh cũng làm sao tồn tại khái niệm chơi vơi được !)  

QD không phải người đầu tiên dùng từ này : Xuân Diệu từng viết : Tương tư chơi vơi, Nguyễn Tuân , Nguyễn Công Hoan từng Viết : Trăng chơi vơi… nhưng đều để gợi cảm giác lẻ loi (solitaire) giữa mênh mông, trống trải không có gì bám víu…chứ không có hàm ý kỉ niệm hay buồn bã nào cả…

Ở trường hợp Tương tư, Trăng trên trời… , chơi vơi thiên về nghĩa lẻ loi,  trong mênh mông, trơ trọi không bám víu, nhưng ở câu thơ QD nó nhẹ về nghĩa này vì là cả đoàn quân đang trên đường ra trận…Từ phải hiểu theo ngữ cảnh.

Còn dịch : ressurgir le souvenir nostalgique” – khơi dậy kỉ niệm nhớ quê/ nhớ nhà như TPN hoặc “une vague mélancolie” – một nỗi buồn mơ hồ như PHM thì theo TMCS chỉ HAY về Pháp ngữ khi tách rời hoàn toàn khỏi “ Nhớ chơi vơi nhưng nếu là “dịch” thì đi “HƠI” bị xa,  dường như “đứt liên lạc với “ nguyên tác !

Nhưng đây chưa đến lúc để TMCS bàn về Nhớ chơi vơi nên dịch như thế nào…Tính khề khà…còn cà con kê của TMCS lại muốn đưa câu chuyện rẽ sang một hướng khác… KHÁC NHIỀU  và cũng QUAN TRỌNG  hơn nhiều !

Lại… số là:

Một trong hai vị dịch giả Pháp ngữ trên đã cất công tra từ điển  tiếng Việt và gửi cho TMCS định nghĩa “Chơi vơi”, ý chừng muốn chứng minh cảm nhận của TMCS có thể “CHƯA TRÚNG”. Ấy là TMCS chột dạ đoán mò đoán mẫm  vậy. TMCS đã thầm xin lỗi nếu đoán sai...

Cuốn TĐ ấy định nghĩa từ CHƠI VƠI và cho một thí dụ khiến bất kì ai đang buồn ngủ mấy cũng phải “tỉnh con sáo sậu” ngay. Nó kì cục và ngây ngô cứ như một anh hề pha trò nhạt thếch và vô lí đến bất ngờ :

“Chơi vơi : cheo leo, có ý nguy hiểm, thí dụ : Con thuyền chơi vơi giữa biển”.

XUẤT XỨ :

Trang  216 của cuốn từ điển có “thương hiệu” NXB và tác giả danh giá như sau :

                NGÔN NGỮ HỌC VIỆT NAM

                   TỪ ĐIỂN TIẾNG    VIỆT

     NHÀ XUẤT BẢN  TỪ ĐIỂN  BÁCH KHOA

TRANG 216;   CHƠI VƠI : CHEO LEO, CÓ Ý NGUY HIỂM .  

     THUYÊN CHƠI VƠI GIỮA  BIỂN

                                Tác giả

                                                 Giáo sư Bùi Quang Tịnh

                                                   Bùi thị Tuyết Khanh

Ôi ! Hỡi vị Giáo sư TMCS chưa được biết bao giờ và đồng tác giả của Ngài ! Thế kỉ nào rồi mà NHỊ VỊ còn làm từ điển  bừa bãi, cẩu thả đến mức không coi  người sử dụng ra gì ! mà lại mượn danh Ngôn ngữ học Việt nam ( Lập lờ : Viện hay Nhóm ?) kèm danh hiệu NXB TĐ Bách Khoa với học hàm cao quý của chính Ngài G/sư…

Đây đâu phải là định nghĩa ! Người ta muốn biết A là gì, đã không trả lời lại chỉ cho người ta: A là B. Giả sử tra đến B là gì , chắc hẳn từ điển lại dạy người ta B là A !!! Đấy là cái trò “ con kiến mà leo cành đa…”. Sai hoàn toàn về phương pháp luận làm Từ điển ! Từ điển học hiện đại y/c trước hết  định nghĩa phải chính xác và chặt chẽ đến mức không thể hiểu chệch tí tẹo nào, nó đòi hỏi chuẩn mực như Toán học vậy !  

Mà cũng sai hoàn toàn về ý và nghĩa. Vì ở đây, A và B khác nhau 100% !

Chơi vơi và Cheo leo khác hẳn nhau, về ngữ nghĩa không phải là một, vả lại không bao giờ được dùng một từ để định nghĩa một từ khác ! nếu hai từ có nghĩa giống nhau thì xếp vào loại từ đồng nghĩa chứ không được lấy từ nọ định nghĩa từ kia !

Theo TMCS ( chưa tham khảo tư liệu nào ) tạm nêu ra ý “cảm nhận” riêng về “chơi vơi” và “cheo leo”xuất phát từ hiểu biết chủ quan :

Chơi vơi là cảm giác ở trạng thái như đang giữa khoảng trống rộng lớn, không có gì bám víu, thấy như đang lẻ loi, bấp bênh, lên xuống, tăng giảm, chao đảo (tuỳ ngữ cảnh)…cần được bám, dựa… vào đâu đó.

Cheo leo: ở trên CAO, trong tư thế có thể chênh vênh, không ổn định.

Vì khác nhau như vậy, nên không thể dùng lẫn. Chính tác giả từ điển cũng bí: định nghĩa “Chơi vơi” là “cheo leo” , nhưng lại cho thí dụ đầu Ngô mình Sở : Thuyền chơi vơi giữa biển ! sao không dám lấy thí dụ vừa định nghĩa : Thuyền CHEO LEO giữa biển.

Cụ Nguyễn Công Trứ có viết : Giữa trời vách đá CHEO LEO…

Hỏi ai dám sửa : Giữa trời vách đá chơi vơi !

Thiếu ý mênh mông, rộng lớn : không thể dùng chơi vơi !

   Thiếu độ cao : không thể dùng cheo leo.

 Ở vào thế “vững như  bàn thạch” : cũng  không thể tồn tại ý niệm chơi vơi hoặc cheo leo !

Người làm Thơ, dịch THƠ – với cương vị nghệ sĩ – amateur có thể  “cảm” theo cách tự do bay bổng, nhưng người làm từ điển – trên cương vị khoa học gia, học giả – phải thật chuẩn xác ! 

 Dạo

Từ đó TMCS chợt nghĩ đến Từ điển RỞM. VIện RỎM , Giáo sư  RỞM…

Không thể có Viện  “rỏm”, nên ngoài bìa chỉ đề trống không : 

NGÔN NGỮ HỌC VIÊT NAM.    Một thủ đoạn lộn sòng khá tinh vi !!!

Viện không thể rởm vì là cơ quan Nhà nước.

Vậy thì TMCS mạnh dạn khẳng định “Đây là Từ điển “rỏm” !

Đỗ Anh Thơ : Ông Cháu (II)

Na : – Tại sao ông lại khóc ?

Ông chùi nước mắt, gượng cười :

– Tại ông “ nhoọc ”!

Na :- Sao ông lại “ nhooc” ?

Ông – Tại lũ cóc…

Chúng nghiên răng

suốt ngày !

Na : – Vậy ta  ?

chúng là cậu ông Trời

đẻ  cháu lên trời hỏi cho !

Ông : -Thế cháu không sợ ông Ù sao ?

03/5/2017

Tại Bình Thạnh SG

ĐAT