Đỗ Anh Thơ : Thương nhớ mãi chú chó Capi

                                              Đỗ Anh Thơ :  Thương nhớ mãi chú chó Capi

 

Cuối những năm 80 , cái thời ăn bo bo đó , Docago tích góp mãi mới có được mấy chỉ vàng, lão liền mua vật liệu rồi thuê thợ , đổ mái bằng 6 m2 gian bếp , lên tầng hai nhà tập thể , trông như một cái chuồng cu , để chuẩn bị cưới vợ cho đứa con cả. Làm xong thì lão hết sạch tiền  nên cửa chính , cửa số phải che tạm bằng phên nứa . Ngay hôm sau, con  lão được bạn cho một con chó becgiê nòi Nga, vừa cai sữa mẹ. Chân sau của nó có hai cái huyền đề xoăn tít . Vạch miệng chó ra, lão thấy lưỡi nó có một đốm đen to. Lão biết chắc rằng nó sẽ là một con chó rất khôn . Lão đặt tên cho chú là Capi . Thường ngày, chú Capi nắm dưới gầm bàn làm việc của lão, liếm chân lão như để làm quen, âu yếm chủ. Thỉnh thoảng mới  nghe chú rên lên nho nhỏ, đòi lão đưa đi vệ sinh . Capi không dám đái bậy bao giờ.  Bởi vì, có một lần, một lần duy nhất , khi mới về nhà lão, chú đã tè ra nhà . Chú bị lão dúi mõm xuống bãi nước đái rồi đánh hai roi rất đau  .

Cầu thang lên lầu cu rất dốc, chú rướn chân leo, rồi dần dần quen, leo lên thoăn thoắt . Nhưng khi xuống thì nhiều lần ngã lăn quay lộn nhào tới mấy bậc. Những lần như thế, chú được lão bế lên , vuốt ve rồi thưởng cho một cái kẹo chanh. Chú  nhai ngon lành, nhìn lão như cảm ơn. Đến bữa ăn, cơm của chú được lão san từ bát cơm với thức ăn ưu tiên của mình , nghĩa là cơm có ít bo bo hơn, có vài ba con tép, tôm đồng rang mặn.  Chú lớn rất nhanh. Một tháng sau, chú đựơc vợ lão dạy vài hôm là biết ngoặm bát đến trước mặt lão để xin  cơm . Chú nằm dài, chân duỗi ra , cái bát tráng men nằm giữa hai chân trước,  mở đôi mắt tròn xoe nhìn lão, cái đuôi ve vẩy liên lục. Rồi lão tập cho chú trườn vài hôm là thành thạo. Chú vừa trườn vừa lấy lấy mõm đẩy chiếc bát đi theo

Trong đầu Docago có lúc thoáng hiện ra cụ già Vitalis  làm xiếc chó trong truyện “Không gia đình” của nhà văn Hertor Malot. Cảnh cụ thổi kèn , còn chú cho Capi thì ngoạm chiếc mũ, đi bằng hai chân sau, một vòng quanh đám đông để xin tiền. Bời vì cuộc sống của Docago lúc đó cũng nghèo khó, bấp bênh có khác gì Vitalis ?

Có hôm nhà có cậu em vợ lên chơi, cô con gái lão phải đổ mấy bò gạo mậu dịch đầy thóc, đang chờ đi xát lại, cố vét ra cho được một ít , nấu cơm để mời khách.

Mấy tháng sau đó thì Docago cũng hết chế độ ưu tiên cơm không  bo bo, thưc ăn cũng chỉ là rau muống, như mọi thành viên trong nhà. Nhưng tội nghiệp nhất có lẽ là Capi. Chú đang độ lớn. Thế mà bát cơm chỉ rau muống già với vỏ khoai mà thôi. Chú xọc mõm vào bát hai lần là hết sạch, sau đó, nằm nhìn lão đang bưng bát cơm trên tay, với đôi mắt hau háu , thèm thuồng .

Nhưng rồi những ngày cơ cực nhất cũng phải qua đi . Trong lần đổi tiền thứ 2, vợ lão bán nốt hai con ngan đẻ , mấy chục mét vải, màn tuyn, chăn con công … được thưởng, rồi tiền vay mượn thêm, đưa cho lão mua  một cái tủ lạnh cũ điện 110 V của người hàng xóm đi thăm bà con trong nam vừa vượt qua được con mắt bọn quản lý thị trường, đưa ra . Lão phải mua một cái biến áp tự ngẫu để chạy tủ lạnh, lâý đá hàng ngày bán cho quán nước ngoài bến ô tô .

Vì thế, bữa cơm đã no hơn . Trên mâm thường ngày, lão thấy đã có thịt hoặc đầu cá thu nướng. Cậu con út đang học cấp 3 chuyên toán ở Hà Nội đã được tiếp tế tôm he kho ngọt, hàng tuần. Chú Capi thì béo ra trông thấy, bộ lông xám  mượt và thông minh lên nhanh chóng. Vợ lão chẻ củi ngoài đường, dạy cho chú tha vào bếp. Mỗi lần như vậy , chú lại được lão thưởng cho một cái kẹo Hải Châu , nên chú làm việc rất cần cù, không qua loa , bỏ củi lại dọc đường …

Một thời gian sau, đứa con gái Docago đi lao động ở Đức, chắt bóp gửi về cho lão hai chiếc xe Honda . Lão bán đi , mua đất xây nhà bên bờ sông Tô Lịch rồi chuyển lên Hà Nội  . Con cả lão vào nam, bán nhà ở Nam Định . Do đó  Capi cũng được  về thủ đô . Trừ lão có hộ khẩu tập thể, còn cả nhà còn phải sống chui . Mấy tuần sau, Docago và đứa con út đi xe máy về đón Capi lên thủ đô . Ngày đưa chú đi cũng là ngày giao nhà . Hình như chú cũng quyến luyến căn nhà cũ,  Lúc r a xe, chú được bế lên xe .. Chú buồn rười rưỡi, nằm im thin thít . Mắt chú  liếc nhìn căn nhà , rồi liếc trôm Docago nhiều lượt, hình như chú có ý nghi ngờ bị đem bán  . Tới khi thấy lão rồ máy, phóng xe ra khỏi nhà, thì chú mới yên tâm . Chú ngồi sau lưng lão. Những lúc gió thổi thốc áo lão , chú lại thè lưỡ ra liếm, Hơi thở chú nóng hầm hập, lưng lão nhột , khiến lão phải dừng xe lại để thắt lại dây lưng, và bẻ một cành cây nhỏ dọc đường , dí lên đầu chú , dọa đánh. Chú như biết lỗi  Từ đó , chú nằm yên, mắt bắt đầu ngơ ngác nhìn người và xe cộ trên đường .  Lần đầu tiên chú được  ngồi xe và đi xa . Chắc chắn chú suy nghĩ lung lắm. Nòi giống becgie  nhà chú chưa từng bị lên dao thớt, làm bạn với riềng mẻ nên trong đầu chú chưa hề có  thông tin này.

Chú nhởn nhơ vẫy đuôi hòai . Tới thị xã Phủ Lý , chú được xuống xe, đi vệ sinh. Xong lại ngoan ngoãn tới nằm dưới chân Docago . Vốn bản tính hay khoe khoang, Docago chỉ ăn có nửa tô phở, rồi cầm nửa còn lai, đứng dậy. Thấy sẵn có cái bát nhôm bẩn của nhà hàng, lão mượn và ra hiệu cho Capi .Lão thử diễn tro xiếc chó , giữa đông người như cụ Vitalis . Capi hiểu ý, đến ngoặm lấy mang bát đến dưới chân cho lão trút phở thừa vào . Đôi mắt Capi  hau háu , nằm chờ lệnh chủ . Chú chó lông xù nhà hàng, to gấp đôi Capi, định xông vào . Nhưng chú chỉ mới nhăn răng, gầm gừ, nó đã vội cong đuôi, biến mất . Ra tới gốc bàng trước quán, chó long xù không quên ghếch cẳng đái, lấy hai chân cào… rồi sủa vang như tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của mình. Các thực khách nhìn trầm trồ và khen chú chó khôn  . Capi thưởng thức gần nửa tô phở đó. Có lẽ chú cảm thấy ngon nhất trên đời. Còn Docago thì tự hào về chó, xuýt nữa quên cả trả tiền. Cái mũi lão phập phồng, nở to , chỉ thiếu được bôi đỏ của thằng hề là lão có thể trở thành chủ gánh xiếc, kiếm ra tiền.

Ăn xong, con lão lái xe thay lão. Capi được ngồi vào lòng chủ , tiếp tục lên đưỡng .

Về tới Hà Nôi, Capi chạy quanh sân căn nhà mới xây. ra chiều ưng ý lắm. Chú ghếch chân ra gốc ổi canh sân đang định đánh dấu chủ quyền, thì bị Docago lôi xềnh xệch ra bờ sông Tô Lịch . Chú thoải mái đi vệ sinh xong rồi chạy một vòng trên đường bờ đê . Tới Nhà hàng thịt chó Sơn Hải chú thấy ba bốn con chó ta đang bị nhốt trong chuồng . Một vài con đã bị giết thịt , đem thui . Chú như có vẻ khiếp sợ , len lét chay về . Docago quan sát thấy chú chạy về tới ngõ Hướng Dương thì dừng lại và đợi chủ dẫn vào nhà vì chú bị mất phương hướng, số nhà chú chưa kịp đánh dấu.

Mấy ngày sau, chú quen lối ra bờ sông, tự đi vệ sinh, không cần kêu ư ử gọi Docago dẫn đi nữa. Mấy chị Vàng , cô Mực bên cạnh , thấy có một ông Tây mới đến , sủa vang và thong tin ,kháo cho nhau biết .

Rồi một buổi chiều, thấy chú vắng nhà, chạy ra ngõ . Thấy vắng chú, ông bạn của Docago , người Huế , đang ở nhờ học Hán Nôm và làm luận án tiến sĩ Sử,vội chạy đi tìm. Gặp chú đang theo gái, ông bế về

Hôm sau có một tin xấu, ai đó tung ra :

: – Nhà ông Docago có một ông ăn trộm chó !!!.

Từ đó Capy bị nhốt vào chuồng. Mấy tháng sau, một hôm Docago quên cài cửa chuồng, chú ta lại theo tiếng gọi của tình yêu. Bỏ nhà đi…rồi không về nữa. Docago và ông bạn ,trong mấy ngày đi khắp xom tìm để xin chuộc, thì mới biết chú đã bị bắt, bán cho Nhà hàng Sơn Hải

Từ đó, lão càng sợ thịt chó hơn và thương nhớ nó mãi .

Nhưng rồi lão chép miêng, triết lý:

Con người  thường chết vì mỹ nhân kế, huống gì loài chó cho dù cực khôn như mày, Capi ơi ! ./…

Viết tại Bình Thạnh SG 30/8/2017

Hoàn chỉnh 19/6/2018

ĐAT

Advertisements

Đỗ Anh Thơ : Hồi ký ngắn : Cái nốt ruồi nơi đuôi mắt bà ngoại

 

 

Trên bàn thờ nhà hắn có bốn bức di ảnh : ông nội (mất khi hắn chưa sinh), ảnh bà ngoại , ảnh cha mẹ hắn và ảnh mẹ vợ. Mỗi lần lên thắp hương cúng bái, hắn lại đứng tần ngần hồi lâu trước hình hài những người đã khuất. Kỉ niêm lại ập đến và lâu nhất là khuôn mặt bà ngoại. Lúc mới lên bốn , lên năm…mỗi lần lên thăm bà , bao giờ bà hắn cũng vào buồng lấy ra, khi thì quả na, khi thì quả chuối để dành cho hắn. Nếu không có những thứ quà đó , thì bà luộc cho hắn hai quả trứng gà. Có khi trứng  cất dành trong  ô trấu cũng hết , bà nhìn đứa cháu ngoại cưng ,mặt buồn rừời rượi , lưỡng lự một lúc rồi ra ổ gà mới ấp lấy ra một quả luộc cho cháu . Hắn ăn ngon lành và còn thòm them . Có khi hắn ngồi vào long bà , miệng vừa ăn, tay vừa vân vê núm vú kẹp lép của bà , rồi sờ lên cái nốt ruồi là một cục thịt thừa nhỏ xíu dưới đuoi mắt bà mà nghịch và véo nhẹ.

Lớn hơn tý nữa, có một lần , giỗ ông ngoại, hắn đi học về muộn mới chay lên nhà bà. Cả nhà đã vào mâm. Thấy hắn vừa bước vào tới sân, dì Sáng buông một câu :

_ – Không biết đứa nào đến ăn xin đó bay ? Có phải thằng Thinh hay không ?

Lập tức hắn quay ngoắt định chạy về nhà . Mọi người ra dỗ , hắn càng khóc to , nằm trằn ra đất ăn vạ

Bà ngoại chép miêng :

Nạ, bọn bay lại chọc nư (*) thằng Thinh lên rồi !

Mãi tới khi bà ra ôm lấy cháu, đuổi dì Sáng xuống bếp ,thì hắn mới chụi nín mà bước vào nhà, nhưng không chịu ăn uống gì cho đến ngày hôm sau …

Ngày nay, hắn không còn nhớ chính xác ngày giỗ bà ngoại nữa . Bà mất trong những ngày CCRĐ đau buồn,oan nghiệt, khi hắn còn đang ở bên Tầu.

Vì thế, hắn thường thắp hương cúng bà vào dịp tháng năm . Lần này, lau lại ảnh bà ngoại đã hoen ố nhiều chỗ, hắn lại nhớ tới cái nốt ruồi nơi mi mắt hiền từ của bà . Bất giác, hắn sờ lên cái nốt ruồi của mắt mình , thấy giống như in , bùi ngùi nghĩ tới bà và tưởng tượng tới những ngày đói khổ của bà ngoại , khi các cậu đang bị đấu tố năm nào. Mắt hắn rưng rưng, đỏ hoe … /.

Tết Đoan Ngọ năm Mậu Tuất 2018

(:tại Bình Thạnh Sài Gòn )

(*) : Nạ : (tiếng Nghi lộc) : thế là. Nư : dỗi

TS Nguyen Ngocj Chu :KHÔNG 99 NĂM. KHÔNG 70 NĂM. KHÔNG ĐẶC KHU. ĐỪNG TẠO CƠ HỘI CHO KẺ THÙ XÂM CHIẾM ĐẤT ĐAI CỦA TỔ TIÊN MỘT CÁCH HỢP PHÁP

Bài hay nên đọc

Của Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Chu

KHÔNG 99 NĂM. KHÔNG 70 NĂM. KHÔNG ĐẶC KHU. ĐỪNG TẠO CƠ HỘI CHO KẺ THÙ XÂM CHIẾM ĐẤT ĐAI CỦA TỔ TIÊN MỘT CÁCH HỢP PHÁP

I. ÁT CHỦ BÀI ĐÃ BỊ LẬT TẨY

Đến bây giờ thì át chủ bài đã bị lật tẩy. Không chỉ những người quan tâm đến luật đặc khu, mà cả đất nước đều rõ tỏ, là đặc khu Vân Đồn nhắm vào Trung Quốc.

Dự thảo luật đặc khu, Điều 54, khoản 4, đã được cộng đồng mạng “phổ cập”:

“Công dân của nước láng giềng có chung đường biên giới với Việt Nam tại tỉnh Quảng Ninh sử dụng giấy thông hành hợp lệ nhập cảnh vào đặc khu Vân Đồn với mục đích du lịch được miễn thị thực với thời hạn xác định; trường hợp có nhu cầu đến các địa điểm khác của tỉnh Quảng Ninh để du lịch thì làm thủ tục thông qua doanh nghiệp lữ hành quốc tế của Việt Nam”.

Người Trung Quốc được ưu ái đặc biệt ở đặc khu Vân Đồn, được ghi rõ rành rành trong luật đầu tư. Vân Đồn là dành đặc biệt cho người Trung Quốc.

Với điều khoản này, 1 tỷ 414 triệu 688 ngàn 453 người Trung Quốc, (theo số liệu mới nhất từ Liên Hợp Quốc ngày 07/06/2018), chỉ cần chứng minh thư mà không cần hộ chiếu, sẽ được tự do ra vào Vân Đồn tùy thích!

Thế còn 96 triệu 429 ngàn 667 người Việt Nam (cũng thống kê của Liên Hợp Quốc ngày 07/06/2018) có được tự do ra vào Thâm Quyến bằng chứng minh thư không? Không!

Mở đặc khu để thêm bị thấp hèn thì mở làm gì!

II. KHÔNG CHÍNH DANH

Đường đường là luật đầu tư của một quốc gia sao còn giấu giếm sự thật. Rõ ràng người dự thảo luật đã cố tình giấu hai từ Trung Quốc để che mắt nhân dân. Nhưng sao cả gần 500 vị Đại biểu Quốc hội đã thảo luận Luật Đặc khu hôm 23/5/2018 mà không thấy ai chỉ thẳng ra điều này? Cầm quyền mà giấu dân là không chính danh.

Bới thế, Quốc hội phải trừng trị những kẻ đã cố ý đẩy Quốc hội vào tình cảnh không chính danh.

III. THÂM QUYẾN, ĐẶNG TIỂU BÌNH VÀ CON TÌ HƯU

Thâm Quyến là một đặc khu cũ rích không đáng để học. Nếu muốn học thì gần có Singapore, xa hơn là Nhật, xa nữa là Đức, Mỹ. Trên thế gian này thiếu gì nơi học mà phải học Thâm Quyến.

Nhưng Bộ Kế hoạch và Đầu tư lại lấy tiền thuế của dân để đưa đoàn nhà báo đi tham quan Thâm Quyến, nhằm cổ súy cho mở đặc khu kiểu Thâm Quyến, đi ngược lại lòng dân, làm một điều lãng phí có tội, nên phải nói đôi điều.

1. Về tính thời sự, đặc khu Thâm Quyến mở ra khi Trung Quốc còn đóng cửa với thế giới bên ngoài, vào thập niên 1980, nhưng Việt Nam cũng đã mở cửa hơn 30 năm, từ cuối thập niên 1980, đã tiếp xúc với các nền kinh tế tiên tiến nhất như như Nhật, Mỹ, châu Âu, hơn hẳn Thâm Quyến rồi, nên Thâm Quyến không có gì mới lạ với Việt Nam nữa. Tính thời sự của Thâm Quyến đối với Việt Nam bằng 0.

2. Đặng Tiểu Bình không đặt đặc khu ở Thượng Hải, Đại Liên hay một nơi nào khác mà ở Thâm Quyến vì Thâm Quyến cạnh Hồng Kông, để đón lõng dòng đầu tư từ Hồng Kông, do các nhà tư bản Hồng Kông đối phó với việc Hồng Kông sẽ nhập vào Trung Quốc năm 1997. Thâm Quyến phát triển là nhờ chủ yếu từ đầu tư của người Hoa Hồng Kông.

3. Cho nên sau Thâm Quyến, đặc khu Chu Hải ở gần đó không thành công. Vì dòng đầu tư chính từ Hồng Kông đã đổ vào Thâm Quyến.

4. Tại sao lại Thâm Quyến? Là vì con Tì Hưu.

Tì Hưu là con vật ăn vào mà không ỉa đái ra. Thần thoại Hy lạp có bao nhiêu con quái vật mình người đầu thú hay ngược lại, nhưng không có con nào quái đản như con Tì Hưu.

Con Tì Hưu là lòng tham vô độ, đi ngược với tuần hoàn tự nhiên. Chỉ có lòng tham và tính nghịch tặc vô độ mới nghĩ ra được con Tì Hưu. Con tì Hưu là sản phẩm của người Tàu.

Cũng chỉ có Đặng Tiểu Bình, kẻ có lòng tham vô độ và nghịch tặc tày trời, nên mới mở đặc khu ở Thâm Quyến, đón dòng tiền từ Hồng Kông, không cho chảy ra khỏi Trung Hoa. Đặng Tiểu Bình là một đại Tì Hưu.

5. Bởi thế, bất cứ ai trong Chính phủ và Quốc hội, trước khi nghĩ rằng mình có tài khống chế được Trung Quốc khi mở ra đặc khu Vân Đồn, thì hãy tự hỏi rằng có đủ trí tuệ để nghĩ ra được con Tì Hưu quái đản hay không. Nếu không đủ trí tuệ để nghĩ ra được con Tì Hưu, thì đừng mở đặc khu Vân Đồn, vì không cản trở được Trung Quốc thâu tóm.

IV. TRUNG QUỐC SẼ THÂU TÓM ĐẶC KHU VÂN ĐỒN NHƯ THẾ NÀO?

Trung Quốc có muôn ngàn mưu kế để thâu tóm Vân Đồn mà Việt Nam không có cách nào ngăn chặn được. Mở đặc khu Vân Đồn là giúp cho Trung Quốc thâu tóm Vân Đồn một cách hợp pháp. Đơn giản bởi Trung Quốc có rất nhiều tiền, lòng tham không giới hạn, nhẫn tâm, thâm độc.

Trung Quốc không chỉ thâu tóm Vân Đồn mà còn thâu tóm các tập đoàn lớn của Việt Nam khi cổ phần hóa. Đã cổ phần hóa thì không thể cưỡng lại được đấu giá. Mà đấu giá thì kẻ nhiều tiền sẽ thâu tóm. Sabeco là một thí dụ điển hình.

Đừng nghĩ rằng tỷ phú gốc Hoa quốc tịch Thái thâu tóm Sabeco không dính dáng đến Trung quốc. Nếu quả thực chưa dính dáng thì biến thành của Trung Quốc cũng không khó gì.

VTV vào phút chỏt hôm nay đã mua bản quyền world cup từ Infront Sports & Media với giá trên dưới chừng 10 triệu usd. Nhưng ít người nhớ rằng năm 2015 Tập đoàn Đại Liên Vạn Đạt của Trung Quốc đã chi khoảng 1,1 tỉ USD để sở hữu Infront Sports & Media. Sống động hơn, hãy nhớ lại hàng không mẫu hạm Liêu Ninh của Trung Quốc.

Hàng không mẫu hạm Varyag của Liên Xô vì không có tiền và do Liên Xô tan rã mà nằm phơi sương gió ở cảng Ôdexa. Một tỷ phú Hồng Kông thấy “lãng phí”nên xin được mua về làm sàn nhảy trên cảng với giá 2 triệu USD. Điều kiện là động cơ cùng các thiết bị điện tử, kỹ thuật quân sự trên tàu phải được dỡ bỏ thì mới được bán. Nhưng đồng tiền đã đưa đường chỉ lối để cuối cùng hàng không mẫu hạm Varyag được chia gói chuyển về Hồng Kông nguyên vẹn. Ít năm sau thì tự nhiên nó“tàng hình thành Liêu Ninh”.

Trung Quốc đã có một thương vụ xiếc ngoạn mục, tốn dăm triệu USD mà có được chiếc hàng không mẫu hạm đáng giá nhiều trăm triệu đô la. Hơn cả là sở hữu công nghệ hàng không mẫu hạm. Rút ngắn cả chục năm trong cuộc chạy đua hàng không mẫu hạm với Nga và Mỹ.

Trung Quốc sẽ thâu tóm Vân Đồn trực tiếp, hay qua bàn tay người khác, lúc này hay dăm mười năm sau. Dưới vỏ bọc của các nhà đầu tư phương Tây, Hoa Kiều các nước, và mua lại các đại gia Việt Nam đang hối hả đầu tư tại Vân Đồn để kiếm lời. Vì mục tiêu quân sự, lãnh thổ và bành trướng, Trung Quốc không đếm xỉa đến giá cả. Còn kẻ đã đi làm giàu thì không thể cưỡng lại những núi tiền.

Khi trở thành đặc khu, chuyện thâu tóm Vân Đồn đối với Trung Quốc “dễ như trở bàn tay”… Đừng mơ hồ là chúng ta có chủ quyền.

Chúng ta có chủ quyền, thế mà ở Đà Nẵng người Trung Quốc xây phố Tàu, người Trung Quốc mua đất rầm rầm, nhưng ông Bộ trưởng Bộ Tài nguyên & Môi trường trả lời trước Quốc hội là không thấy, và còn ngồi chờ người đến báo!

Chúng ta có chủ quyền, không có từ nào nói đến Trung Quốc, mà Trung Quốc thắng thầu khắp mọi nơi.

Chúng ta có chủ quyền, nhưng đến ông bộ trưởng “thét ra lửa” Đinh La Thăng cũng phải ngậm đắng nuốt cay, không đuổi được nhà thầu Trung Quốc.

Huống hồ chi là mở đặc khu, với chỉ định mở cửa đích danh cho người Trung Quốc, thì chủ quyền đặc khu chỉ còn là cái bóng bóng.

Có người phản bác tại sao lại chia rẽ với Trung Quốc. Chúng ta không chia rẽ với nhân dân Trung Quốc, mà là chống lại kẻ cầm quyền độc tài ở Trung Quốc có dã tâm thôn tính nước ta, đang ăn cướp biển đảo của ta, ngày đêm xua đuổi đâm chìm thuyền đánh cá của ngư dân nước ta, không cho chúng ta khai thác đầu khí ngay chính trong vùng đặc quyền kinh tế của mình.

V. VÂN ĐỒN HỨNG CÁI GÌ?

Những người cổ súy cho đặc khu đang vẽ ra những nguồn thu khổng lồ nhiều chục tỷ đô la. Trong lúc đó thì ngân sách đang thâm hụt phải đảo nợ, nên Chính phủ và Quốc hội khó mà cưỡng lại chiếc bánh vẽ lợi nhuận đặc khu.

Trên thực tế thì sẽ rất khác xa. Nguồn thu sẽ không như bản vẽ. Ở Vân Đồn sẽ không có hy vọng đón dòng đầu tư công nghệ cao. Thay vào đó là cơn sốt bất động sản. Tiếp đến là sòng bạc và phố đèn đỏ. Cùng với dòng khách du lịch là những tệ nạn xã hội.

Trung Quốc có nhiều điều kinh khủng. Nhưng không phải ở nền công nghiệp 4.0 mà một số lãnh đạo Việt Nam hay dùng, cũng như những kẻ sính từ khác là cửa miệng. Những người bảo vệ Trung Quốc vì đặc khu, hãy chỉ ra những sáng chế cách mạng bước ngoặt nào của Trung Quốc đi trước Mỹ, Nga, Đức, Nhật? Chưa bao giờ. Hiện thời Trung Quốc còn đi sau. Trung Quốc chỉ là kẻ nhái công nghệ siêu hạng.

Ngạn ngữ Việt Nam có câu “thầy nào trò nấy”. Chẳng hạn như trong bóng đá, có những ông thầy không dạy về kỹ thuật, mà chỉ dạy tiểu xảo chèn kéo đánh nguội đối thủ. Đi theo Trung Quốc là học làm hàng nhái, là làm đồ giả, là học tiểu xảo.

Cho nên nếu ai đó nghĩ rằng, mở đặc khu Vân Đồn để học công nghệ tân tiến của Trung Quốc thì thật nhầm to. Đừng cao giọng về “phượng hoàng”.

Sau những nguy hiểm về quân sự và lãnh thổ, điều đáng lo ngại mà Vân Đồn phải hứng chịu là những băng nhóm tội phạm từ Trung Quốc tràn sang tìm nơi trú ẩn, hành nghề, lừa đảo. Một cơ chế vào ra tự do cho người Trung Quốc là tấm thẻ xanh cho những kẻ tội phạm trốn tránh. Trung Quốc là nước ngầm khuyến khích tội phạm di cư ra nước ngoài.

Có người mong rằng mở đặc khu thì có các cường quốc đến làm rào cản Trung Quốc. Lại là một giấc mơ tự sướng. Quan hệ với các cường quốc nằm ở tầng khác. Không phải ở những mưu nhỏ này. Hơn thế nữa Trung Quốc là cáo già của phép “nhân kế nó dùng kế mình”.

VI. DỨT KHOÁT KHÔNG CẦN ĐẶC KHU

Chìa khoá không nằm ở đặc khu. Thí điểm thể chế đặc khu không giải quyết được vấn đề cốt lõi. Muốn giải quyết vấn đề cốt lõi thì cả nước phải là một đặc khu với một cơ chế mới.

Cả chục khu công nghiệp, trong đó có Dung Quất, Chu Lai , đã thất bại thảm hại. Khu công nghệ cao Láng – Hoà Lạc chưa thành công sau đã hai chục năm. Số phận ba đặc khu mới rồi cũng sẽ như vậy.

Mở đặc khu là lợi ích nhóm. Những kẻ bảo vệ lợi ích nhóm đang thúc đẩy thông qua luật đặc khu bằng mọi giá. Vì đồng tiền chúng bất chấp an nguy của Tổ Quốc.

Con đại bàng đã nhìn thấy mồi ở khoảng cách 3 km từ trời xanh, mà con thỏ thì chỉ đang nhìn thấy bụi cỏ trước mắt. Không phải vẽ ra tai hoạ, mà phải nhìn thấy trước được tại hoạ.

Sự khác biệt mang tính nguyên tắc giữa Thâm Quyến và Vân Đồn nằm ở chỗ, Thâm Quyến là Trung Quốc mở đặc khu cho người Trung Quốc, còn Vân Đồn là Việt Nam mở đặc khu cho người Tàu.

Nạn kiều năm 1976-1978 đã là một trong những nguyên do cơ bản để tên giặc già Đặng Tiểu Bình xua quân đánh chiếm nước ta ròng rã 10 năm trời. Nạn kiều cũng là nguyên do mà nhân dân Ucraina hiện đang hứng chịu cuộc nội chiến đau thương phân chia đất nước.

Dân tộc Việt Nam không cần đặc khu. Không phải đầu tư nước ngoài, mà con người và cơ chế mới quyết định sức bật của đất nước. An nguy của Tổ Quốc là tối thượng. Lợi ích nhóm không có nghĩa gì trước vận mệnh của Dân Tộc.

Không 99 năm. Không 70 năm. Không đặc khu. Hãy ngừng luật đặc khu. Đừng tạo cơ hội cho kẻ thù xâm chiếm đất đai của Tổ Tiên một cách hợp pháp.

Đừng nghĩ rằng bỏ đặc khu là phải chịu thua dân. Một chính quyền mà cố thắng chính nhân dân của nước mình thì tất sẽ sụp đổ.

TS. Nguyễn Ngọc Chu

Đỗ Anh Thơ : Cuối đời, nhặt truyện cũ đăng lại : HẠT GẠO BA THÁNG 

      Vào cữ tháng tám, quê tôi trời thường mưa tầm tã hàng tuần lễ. Đó là tiết mưa giỗ Lê Lai, Lê Lợi. Lúc còn nhỏ học trường làng, tôi rất thích những ngày này. Vì đó là mùa cá rô hạt bưởi kho nghệ vàng au, mùa của những trò chơi giữa mưa, giữa nước.
Hồi đó, sau những buổi đi học, chúng tôi thường rủ nhau lên sân bay Yên Đại chăn trâu bò. Sân bay của Nhật lúc này, ngoài những đoạn đường băng đất đỏ đã bị du kích ta đào lên nham nhở để chống máy bay địch đổ bộ còn lại là những bãi cỏ rộng mênh mông. Đám cỏ may như những bụi kê hoang. Nhưng nếu ta chịu khó hái, cắn lấy hạt mà nhấm nháp thì nó cũng bùi vô kể. Bờ cỏ gà, ngọn đầy những cái mào to. Chúng tôi thường nhổ lên từng nắm, rồi ngồi chụm lại với nhau chơi trò chọi gà. Mặc cho trời mưa xối xả đàn trâu bò được thả rong. Chúng thong dong, vừa lội nước vừa thả sức gặm cỏ, trông thật vui mắt. Thỉnh thoảng, một con trâu cái đâu đó lạc mất con, lại cất tiếng gọi “nghé ọ”. Chú nghé non đang tha thẩn, khoái trá với nước mưa trời, cong vó, vội vàng chạy về. Nhưng trước khi rúc xuống bụng mẹ, cậu ta còn chạy quanh một vòng nữa… cho nước tung lên thật cao cho đã thích rồi mới chịu thôi.
Xong trò chơi chọi cỏ gà, thấy đàn trâu bò ăn đã khá no, chúng tôi thường cưỡi chúng, bày trò đánh trận giả. Cũng có hôm, chúng tôi còn mang bóng quấn bằng lá chuối ra đá giữa bãi nước.
Thường thường sau một tuần mưa như vậy, những ngày khi mặt trời bừng sáng trở lại thì những chú chim chèo bẻo, không biết từ đâu bay về, tha hồ săn mồi là những con chuồn chuồn ớt dại dột đang khoe màu áo đỏ rực, rõ mồn một giữa đồng xanh. Chúng tôi lúc này lại có thú chơi khác là buộc chuồn chuồn trên ngọn lúa… để bẫy chim.
Nhiều năm sau rời quê nhà đi trọ học cấp ba, tôi vẫn không quên những trò chơi đó. Nhưng lúc này, phần lớn bạn thiếu thời đã vào bộ đội. Một chiều chủ nhật tôi về thăm nhà để lấy gạo, đúng vào dịp sau mưa, trời vừa bừng sáng. Tôi đi bóc vỏ cây gôm, nhai lấy nhựa, ra đồng bẫy chèo lẻo. Đi bẫy chim mà chỉ có một mình thì không thú, lại nhớ bạn. Vì thế, khi mặt trời vừa buông màn hồng sau Rú Gai, chuẩn bị đi ngủ sớm, tôi đã lững thững ven bờ ruộng trở về tay không. Lúc này, tôi đang khát khô cổ. thấy cánh đồng vắng vẻ, tiện tay tôi vội ngắt trộm mấy ngọn đòng đòng lúa nếp, nhai ngon lành.
Những giọt sữa lúa làm cho tôi khoan khoái và tỉnh táo hẳn. Tôi định phạm tội lần thứ hai. Nhưng rồi tôi nhớ tới câu hát ví của mẹ lúc còn nhỏ:
– “Thứ nhất tội trộm trứng gà,
Thứ nhì tội nhổ lúa ra đòng đòng…”
Tôi đang lưỡng lự. Bỗng tôi thấy bóng một cô gái đang ngấp ngó dưới ruộng bên cạnh. Tôi giật mình, lo sợ, rảo bước quay về nhà.
Mẹ tôi đang đi đâu vắng. Tôi giở sách ra học. Chữ nghĩa cứ nhảy múa trước mắt mà đầu óc tôi chỉ nghĩ đến ngày mai, cách bẻ khum cây lúa và buộc chú chuồn chuồn ớt sao cho con chim chèo bẻo sà xuống là vướng nhựa ngay. Tôi phải cố bẫy cho được mấy con, mang lên trường “khao” bạn học.
Tôi đang lan man nghĩ và nhìn ra sân thì thấy phía bên kia giậu găng, một cánh áo nâu, mái tóc xõa vai, tất tả đi về. Cái thúng cắp bên nách.
Biết chắc đó là Xoan, cô hàng xóm, nhưng tôi hơi lạ vì cử chỉ của cô có vẻ như vội vàng giấu diếm.
Mới xa nhà có một năm mà tôi thấy cô gái thuở nào đã lớn hẳn lên, trở thành một thôn nữ, một cô láng giềng xinh đẹp để thương, để nhớ… Cô thường muốn lánh mặt tôi. Nhưng tôi lại có cảm tưởng hình như mình luôn luôn bị theo dõi.
Rồi tôi lắng tai nghe, rõ cả tiếng rang rang, giã giã… bên ấy. Một mùi thơm lúa mới phảng phất đâu đây. Đang mải mê suy nghĩ và hồi tưởng thì một lát sau, tôi nghe tiếng bước chân rón rén, nhẹ nhàng đến sau lưng tôi. Rồi một bàn tay nhẹ nhàng đặt lên sách cho tôi một gói lá chuối. Tôi vội vàng quay đầu lại và sững sờ khi nhận ra đó là Xoan.
Xoan đỏ ửng mặt. Dưới làn áo nâu non, bộ ngực căng tròn đang phập phồng. Cô nói như run rẩy:
– Anh Hoàng, anh đừng ăn đòng lúa non, có tội chết! Em làm cho anh một nắm cốm nếp đó. Anh cất ngay vào cặp đi, không mẹ anh về bây giờ.
Tôi ngây người, trời đất như đang chao đảo trước mặt thì Xoan đã chạy vụt về nhà. Tôi chỉ kịp nhìn theo mái tóc phất phơ của Xoan sắp bị giậu găng kia che khuất.
Vừa lúc đó, mẹ tôi về. Tôi lúng túng chào mẹ.
Nhưng mẹ tôi không để ý. Bà đổ gạo ra sàng sàng, sảy sảy.
Tôi nhìn mái tóc bạc của mẹ đang cặm cụi nhặt từng hạt thóc, nhìn con mắt mẹ thẫn thờ, vừa lường vừa đếm đi đếm lại từng bơ gạo một… Lòng tôi xốn xang một nỗi buồn khó tả.
Cúi xuống đọc tiếp chưa hết trang sách, khi ngẩng lên, tôi không thấy mẹ tôi ngồi đó nữa. Sàng gạo còn để giữa nhà. Lắng tai tôi nghe tiếng thì thầm góc sân nhà Xoan:
– Xoan ơi, hôm nay cháu hái được nhiều lúa ba tháng chín bói không?
– Lúa mới chấp xanh cả bác ạ. Cháu nhặt mãi mới được khoảng hai bó!
Tôi nghe tiếng mẹ tôi hạ thấp giọng hơn:
– Hồi chiều bác phải lên vay chịu nhà lão Tự hai yến gạo cho thằng Hoàng ngày kia mang đi. Không ngờ về lường lại, nó thiếu đi gần hai bơ. Chúng nó ăn ở điêu toa thật!
Hai ngày sau, tôi lên trường. Học sinh cấp ba chúng tôi ngày ấy trọ học không mất tiền. Nhưng thường góp gạo nấu cơm chung theo tổ.
Hôm đó, tôi đang hí hửng đổ ruột tượng gạo ra cùng bạn bè thì mấy cô gái bỗng nhiên reo to:
– Gạo bạn Hoàng có lẫn cả gạo rang, chúng mày ơi!
Thế là, những bàn tay búp măng trắng muốt đua nhau tìm tìm, xới xới… chỗ gạo của tôi. Các bạn nhặt lên, nhón vào lòng bàn tay rồi tranh nhau, nhai ngon lành… những hạt gạo vàng ươm, thơm phưng phức ấy…
Các bạn tôi vừa ăn vừa khen ngon. Bỗng một cô cười, nói dí dỏm:
– Hình như… Hoàng đã có vợ chúng mày ạ. Mẹ tau là người Huế mà rang cốm cũng không thể dẻo được như thế này đâu!
Tôi ngượng nghịu, đỏ nhừ mặt. Nhưng trong lòng lại vô cùng tự hào về mẹ và về một bàn tay… của ai đó. Tôi cố cười phá lên, để ngăn những giọt nước mắt cho khỏi bị trào ra…

Đỗ Anh Thơ : Bài đăng lại nhân ngày giỗ Tổ (5/4 AL ) : Cây Vông nhà thờ hay là cây “Xư” của Trang Tử

           Tôi viết những dòng hồi ức này đúng vào dịp ngày giỗ tổ của họ tôi (5/4 âm lịch) năm Canh Dần 2010 này.

Nhà thờ họ tôi xây dựng từ năm 1940-42, gồm thượng điện, trung điện và bái đường (nhà làm lễ cúng). Bái đường cũ đã bị các cụ trong họ tôi dỡ, đem bán đi sau cải cách ruộng đất, vì sợ mang tiếng là dòng họ phong kiến, lúc tôi còn ở Trung Quốc, chỉ còn lại thượng và trung điện. Năm 1992, quyên góp được một ít tiền của bà con trong họ ở Hà Nội, tôi cùng với người em họ là Nguyễn Đức Uẩn, đại tá quân đội, về trùng tu lại. Nhà bái đường mới, cột được đúc bằng bê tông, chứ không phải bằng lim như khi xưa, dỡ từ nhà thờ cụ Tặng (tức Nguyễn Đức Tân- bố cụ Nguyễn Đức Đôn) ở dưới làng đưa lên, năm 1942. Lúc đó vì nó quá thấp nên đã được xây gạch kê cao cột thêm khoảng 1 mét. Nay làm lại, theo ký ức chúng tôi. Nó có vẻ như vẫn mang dáng dấp như xưa.

Khi về cùng Uẩn và các chú trong họ trùng tu, tôi đã đi quan sát một vòng, thả hồn trở về thuở ấu thơ, 50 năm trước, để phục chế lại như nguyên mẫu những gì của cha ông.

Tôi trở về với ký ức của một thằng bé đầu to quá cỡ, đẻ thiếu tháng, ốm yếu và rất bướng bỉnh, nhưng lại rất sợ một ông cụ trong họ là tú tài Nguyễn Đức Đồng, anh cụ Nguyễn Đức Đôn, ông nội của tiến sĩ văn học Anh, Nguyễn Đức Nam. Vì thế, cha tôi thường chế tôi với mấy câu thơ:

Đầu to chạng vạng,
Mặc áo loang khoang.
Khi đi về làng,
Thì hãi[1] ông cụ.

Tuy vậy, khoảng năm 40 hay 41, khi cụ Nguyễn Đức Đôn làm lễ rước sắc phong, tôi đã được ngồi trên xe kéo, dưới chân cụ Đồng, hình như từ Vinh, vinh quy về quê.

Đến lúc trùng tu, mặc dù có nhiều người muốn dùng câu đối bằng chữ quốc ngữ, nhưng tôi cương quyết phản đối. Lý luận của tôi là chữ Hán không phải của riêng người Tàu, mà là của nhiều dân tộc khác như Triều Tiên, Nhật, Việt Nam… Việt Nam ta đã để mất bản quyền. Tôi đã đọc đi đọc lại lại những câu chữ Hán còn sót ở thượng điện, như

Kỳ lai viễn hĩ bằng tiên trạch 其来 远 奕 凭 先 泽

Vĩnh viết kiên hồ di hậu nhân 永 曰 坚 乎 遗 后 人[2]

và câu Dịch dịch tẩm miếu 奕  奕 寝 庙[3], tôi đã nghe các bậc cao niên kể về xuất xứ dòng họ… để sáng tạo nên các câu đối mới chữ Hán cho tam quan, cuốn thư và bái đường, những dòng như sau:

Nguyễn Đức tộc tẩm miếu (阮 德族 寝 庙)[4]

Nguyễn khởi tại nguyên trinh cựu phân tam lĩnh

Đức tàng ư tâm chí kim hợp nhất nguyên

阮 起 在元 真 旧 分 三 岭

德 藏于心 志 今 合 一源[5]

Bằng tiên di hậu

凭 先遗 后[6]

Bái tổ đường đạo kinh bang tế thế
Khuyến học sảnh đàm văn nghệ từ chương
Minh minh đức khả đồng trị quốc
Tiên tiên trạch năng cộng tề gia.
拜 祖 堂 道 经 邦 际 世
劝 学 厅 谈 文 艺 辞 章
明  明 德 可 同治 国
先 先 泽 能 共 齐 家[7]

Nhà thờ họ tôi vốn được cử nhân Quang lộc tự thiếu khanh là Nguyễn Đức Đôn (chú họ) cùng cha tôi, khóa sinh hỏng tam trường là Nguyễn Đức Tụ (cháu) chủ trương  hợp tự. Cụ Đôn đã bất chấp ý kiến của nhiều bậc cha anh, dỡ nhà thờ chi họ mình (chi 3) ở dưới làng về làm nhà thờ mới, trên nền nhà cũ của cụ tổ. Công lao và viễn kiến đó của cụ đã để lại cho muôn đời con cháu trong họ.

Trước nhà thờ có một cây vông to, dễ thường đến nay đã gần trăm tuổi. Thân nó đầy gai, thân xốp, gỗ không có giá trị làm đồ mộc hay đun nấu gì. Có lẽ nó như cây của Trang tử, 神 木 不 材[8], chính vì thế mà nó mới sống lâu, mới thành cây thiêng trước các đền chùa, nhà thờ quê tôi.

Lúc tôi khoảng lên bốn lên năm, tức là lúc nhà thờ chưa hợp tự, được cha tôi đèo từ quê ngoại về quê nội cúng giỗ, tôi thấy nó đã lớn gần như cây vông trước sân trường huyện.

Vông có lẽ là tên tiếng Việt. Ở Trung Quốc tôi chưa từng gặp cây này, có thể là do mình chưa đi nhiều nơi nên không biết chăng? Tôi cũng chưa biết viết tên cây này bằng chữ Hán như thế nào! Nếu phải viết, tôi đành phải ghép bộ mộc với chữ vong (亡= mất)  hoặc vong (忘 = quên) mà thôi.

Cây vông nằm trực chỉ với cổng nhà thờ, nhưng có lẽ cha tôi và cụ Đôn vốn không tin theo thuyết phong thủy, nên không tránh.

Những năm 50 đến 60 thân nó đã rỗng ruột, trẻ con chăn trâu đã chơi trốn tìm trong đó. Nhưng khoảng gần hai  chục năm trở lai đây, tự nhiên thân nó phát triển đầy trở lại, nay đã tràn trề sức sống.

Các cháu tôi còn mê tín kể rằng, có lần một người đi cày ruộng liền kề đã chặt đi một cành của nó sà xuống đất nhà mình, về nhà liền bị ốm chết. Tôi không tin nó thiêng đến thế. Nhưng tôi vẫn cứ băn khoăn về một ngữ nghĩa, cái tên “vông”. Nó là “vong” là quên hay là mất gốc chăng?

Bởi vì ngày nay hầu hết những người trong họ tôi ly hương ra đi, lập nghiệp, gọi là có chút thành đạt, ở Hà Nội, Sài Gòn hay ở nước ngoài, văn nghiệp dù có lớn, nhưng  không ai có chức quyền gì. Họ có tâm trạng nhớ quê da diết, nhưng ít ai trước khi nhắm mắt, dặn con cháu đưa nắm tro về quê, trừ nhà thơ Thúy Bắc. Đến như tôi, cũng muốn nằm lại cạnh hòn đá mồ côi ở Đồng Mô Ba Vì, như một kẻ bất đắc chí. Họ có phải vì xa ngái hay là vì những nguyên nhân nào khác, buồn vui sau những năm tháng ở quê nhà?

…Mấy ngày nay, trước bái đường nhà thờ họ tôi, để chuẩn bị giỗ tổ, các con cháu trong họ tôi đang dựng một nhà mái tôn như là để khoe cái giàu sang, hiện đại, để đón con cháu, lũ lượt ô tô về với giỗ tổ. Thế nhưng, bên ngoài cái hào nhoáng đó, gia đình, dòng họ tôi, còn có giữ được truyền thống, hiếu học “弃 名 重 才”[9], với những sợi dây đoàn kết, hiếu thuận, cũng như nhiều dòng họ khác, khắp đất nước nữa hay không?.

Nay tôi ngồi buồn ở nơi Sài Gòn xa xôi, tưởng nhớ đến ngày giỗ tổ mà buồn cho cây vông nhà thờ, cây “xư” của Trang Tử, chỉ vài năm một lần, chứng kiến ngày  được treo một lá cờ đại lên trên ngọn, con cháu đứa xênh xang mũ áo tế, đứa đánh trống, đánh cồng… đứa đọc văn… đứa đội mâm cỗ… lại có thêm dăm ba chiếc ô tô đời mới gọi là sang, khoe nhau chức học quan không lấy gì làm cao cho lắm với địa phương?

Ăn uống xong, họ lại ra đi, bỏ lại phía sau, vẫn là chiếc cày chìa vôi,với tiếng tắc rì giọng “cà có cuống cà có đuôi” với đói nghèo.

© 2010 Đỗ Anh Thơ

© 2010 talawas


[1] Nghĩa là sợ.

[2] Đây từ lâu đã là bằng chứng đất tổ xưa , hãy nói một cách kiên định rằng: phải để lại cho con cháu mai sau.

[3] Chữ trong Luận ngữ, nghĩa là miếu mạo nguy nga.

[4] Miếu thờ họ Nguyễn Đức.

[5] Nguyễn khởi từ đầu trung trinh (chiết tự 阮 có chữ 元 nguyên) xưa chia làm ba ngọn. Ám chỉ họ có ba chi, còn có ý nói họ từ phía làng Phượng Lịch (tây bắc thuộc quẻ Càn) đến lập cư.

Đức có chứa chữ tâm (chiết tự, dưới chữ đức có chữ tâm) nay hợp lại một nguồn. Ám chỉ sự hợp tự họ.

[6] Rút gọn câu đối cũ ở thượng điện, nghĩa là bằng chứng xưa, để lại đời sau.

[7] Nhà bái tổ còn là nơi bàn chuyện làm ăn kinh tế/Là nhà khuyến học, là nơi bàn luận văn chương/Biết làm rạng cái đức sáng của tổ tiên thì có thể cùng nhau quản lý tốt đất nước/Biết đặt lợi ích của cha anh dòng họ trên thì có thể làm yên ấm cửa nhà.

Các chữ “minh đức, trị quốc, tề gia’ là lấy trong sách Đại học (tề gia trị quốc bình thiên hạ) của Nho giáo, tác giả chỉ nhấn mạnh thêm nhất là vế sau.

[8] Thần mộc bất tài, nghĩa là cây thần không dùng làm được đồ dùng gì. Đây là một chương trong Trí tuệ Trang tử của tác giả.

[9] Khí danh trọng tài – Bỏ danh trọng tài.

Phản hồi

6 phản hồi (bài “Đỗ Anh Thơ – Cây vông nhà thờ hay cây “xư” của Trang Tử”)

  1. Trần Văn Tích nói:

    Cây vông của tác giả Đỗ Anh Thơ thuộc loại cây to, thân có gai, lá hình quả tim, mép có răng cưa, đầu lá nhọn, dài lối 20-30 cm, rộng chừng 15-20 cm. Hoa đực màu đỏ hay đỏ sậm, mang bông nhiều hoa (multiflores), hoa cái là hoa đơn (fleurs isolées). Quả hình nang, cứng, gồm lối 12 mảnh hình múi (coques), cao 5 cm, rộng 10 cm. Tên khoa học của nó là Hura crepitans L., họ Euphorbiaceae. Nó gốc vùng nhiệt đới Nam Mỹ. Tính từ crepitans mô tả tình trạng trái vông khi chín và khô thì bật vỡ rất mạnh, gần như nổ kêu một tiếng bép, hạt bên trong bị phóng đi khá xa. Hạt cây vông này có chứa tinh dầu mang tính tả dược, là một thứ thuốc hạ, gây tiêu chảy. Các tên khác là : điệp tây, vông đồng, bã đậu tây (gọi thế vì trong Đông y, vị bã đậu là một vị thuốc xổ quen thuộc). Tiếng Pháp gọi cây này là sablier, pet du diable, noyer d’Amérique.
    Vông thực ra có nhiều loại.
    Cây vông nem là cây Erythrina indica Lamk. thuộc họ Papilionaceae. Lá gồm ba lá chét, lá chét giữa rộng hơn là dài, lá gần như có hình quả thận, rụng vào mùa mưa; hoa màu đỏ tươi thắm (rouge écarlate), tụ thành 1-3 chùm dầy. Quả giáp (gousse) dài 15-30 cm, đen, hơi hẹp lại ở gữa các hạt. Mỗi quả có từ 5-8 hạt, hình quả thận (réniformes), đỏ hay nâu, tễ rộng, mang một vành trắng. Tên tiếng Pháp : arbre corail.
    Cây vông không họ hàng bà con gì với cây ngô đồng hết. Cây ngô đồng có tán lá toả ra như dù che, lá xẻ thùy chân vịt, bề ngang lá tới 25 cm, có 3-5 thùy hình tam giác, cuống lá dài hơn phiến lá. Hoa nhỏ màu vàng nhạt. Quả có 5 đại, với 2 hạt hình trứng. Ngô đồng có nhiều tên khoa học : Sterculia platanifolia L., Firmiana simplex Wight., Paulownia imperialis L., Aleurites fordii Hemssley. Do đó ngô đồng thuộc nhiều họ thực vật. Cây ngô đồng là cây của Chinh phụ ngâm : Sương như búa bổ mòn gốc liễu / Tuyết nhường cưa xẻ héo cành ngô; của Truyện Kiều : Nửa năm hơi tiếng vừa quen /Sân ngô cành biếc đã chen lá vàng; Non quê thuần vược bén mùi / Giếng vàng đã rụng một vài lá ngô; của Bích câu kỳ ngộ :Thoi đưa ngày tháng sương sao / Ngô vừa rụng lá lại đào nẩy hoa; của Quan Âm Thị Kính : Lá ngô lần điểm đốt tay /Thị Mầu đã đủ đến ngày sinh trai. Tất nhiên nó còn xuất hiện trong thơ văn Hán Nôm đời Hồng Đức hay thơ Tương An Quận Vương, Nguyễn Thông v.v..
    Chữ nôm viết chữ vông với bộ thụ bên trái và chữ phong (cây phong, có thảo đầu) bên phải hoặc chữ bồng (tươi tốt, cũng với thảo đầu) bên phải chứ không phải với chữ vong.

  2. Đỗ Anh Thơ nói:

    Tôi rất dốt môn thực vật học nhưng khẳng định rằng cây vông trong hoài niệm cuả tôi hình như là một loại cây di thực. Trước CM tháng 8 nó thường có ở các sân trường, to hơn cây phượng tây nhiều. Các cụ gọi đây là cây vông tây, lá thường xanh, toả bóng khắp sân trường. Tôi không còn nhớ hoa nó ra sao nhưng không đúng là cây ngô đồng (梧 桐)ở Huế. Quả nó khô rụng xuống có khoảng 6 kía trông như một cái bánh xe, nở ra các hạt to bằng đồng xu, chúng tôi thường dùng để đánh đáo. Những cái nửa múi vỏ của nó có những cái gai cứng đen, trông như mỏ chim vẹt, chúng tôi thường dùng để thi chọi, gần như chọi nhị hoa phượng ( chưa nở).Phải bẻ thật mạnh thì nó mới gãy.

  3. Tri Ngộ nói:

    có bài về cây ngô đồng trong link sau:
    http://netcodo.com.vn/chuyende/2005/06/89073/

  4. Phùng Tường Vân nói:

    Còn Cây Vông Này, Chắc Là Cây Vông Cộng Sản .

    Tôi nghe nói đã từng có một thứ cỏ mà sự sinh sôi nẩy nở của nó có nguyên nhân xa gần với hoạt động của Đảng Cộng Sản ở xứ ta, nên được dân địa phương gọi là “cỏ cộng sản”; nay nhân một câu chuyện quê hương, Đỗ Tiên Sinh kể chuyện ngôi tổ đình của dòng họ mình, có nhắc đến một cây vông, nhưng xem “hình tích” mà Đỗ Quân mô tả thì chưa vị nào quyết được nó là loại vông nào, tôi xin thuật một giai thoại về một loại vông mà hoàn cảnh của câu chuyện liên quan sao mà nó giống hệt cái lối phô trương, lố bịch, dốt nát của các quan cộng sản ngày nay, nên nghĩ nó chắc là “Cây Vông Cộng Sản” quá !

    “Vịnh cây vông
    Ra làm quan, Nguyễn Công Trứ (1778-1858) rất bực mình, khó chịu và khinh bỉ những kẻ bất tài, vô hạnh mà ăn trên ngồi trốc, chỉ biết một mục đích là vinh thân phì gia, nạo vét túi lương dân và ăn cắp công sản. Ông cũng ghét độc những thói xu nịnh, lòn cúi của những quan chức thuộc hạ. Một lần, trong triều có viên quan đại thần mở tiệc mừng con thi đỗ cử nhân. Tiệc đông đủ quan khách, và cả những văn nhân tài tử. Tình cờ trước sân nhà viên quan, có một cây vông trổ hoa. Có người nêu ý là làm thơ vịnh cây vông cho vui. Nêu như vậy là dụng tâm tán tụng chủ nhân. Cây trổ hoa thì khác gì người thi đỗ. Trời đã ban lộc, ban phúc cho quan đại thần. Họ ép Nguyễn Công Trứ làm theo đầu đề ấy. Ông không từ chối mà ứng khẩu ngay:

    Biền, nam, khởi tử (*) chẳng vun trồng
    Cao lớn làm chi những thứ vông
    Tuổi tác càng già, già xốp xáp
    Ruột gan không thấy thấy gai chông
    Ra tài lương đống không nên mặt
    Dựa chốn phiên ly chút đỡ lòng
    Đã biết nòi nào thì giống nấy
    Khen cho rứa cũng trổ ra bông!

     

    Bài thơ như tát vào mặt chủ nhân. Quan đại thần tím mặt không biết xử trí thế nào. Quan khách ngồi quanh đó cũng sượng sùng.”
    __________
    (*)Những giống cây quý.

  5. Trung Nu Hoang nói:

    @ Dinh Le (DL) 16/05/2010:
    ..”Cây vông này người ta còn gọi là vông nem tức là người ta lấy lá của nó để gói nem.
    Cây vông mọc hoang ngoài đồng thì được gọi là cây vông đồng, cây nhỏ và có gai mọc dày hơn vông nhà…” (quote).
    Vông NEM cây nhỏ, lá mỏng, mềm thường dùng gói nem, chứ không thể là cây vông tác giả mô tả trong bài viết .. “” một cây vông to, dễ thường đến nay đã gần trăm tuổi. Thân nó đầy gai, thân xốp, gỗ không có giá trị làm đồ mộc hay đun nấu gì.”” . Theo tôi, đó chính là cây vông ĐỒNG. Hình như bác DL đã nói ngược lại giữa 2 cây này.
    Tôi cũng nghe / biết trong văn học Trung Hoa, cây đó được gọi là “ngô đồng” như bác DL đã nói trong PH với 2 câu thơ khá nổi tiếng: ” Ngô đồng nhất diệp lạc, Thiên hạ cộng tri thu”.

Đỗ Anh Thơ : Cuối đời, nhặt truyện cũ đăng lại : A Páo và bầy rắn thần

 Trên lưng chừng núi Mã Pha Bản Séo Xìn có một gốc dẻ cụt ngọn. Nó như cột mốc chốt giữa một lối mòn, dốc đá lởm chởm. Những người sống trên cao, hoặc ở những bản bên cạnh, không thể không dắt ngựa đi qua lối này để về nhà. Nhưng dưới chân đèo, bao giờ cũng vậy, họ dừng ngựa rợn tóc gáy, chần chừ nhìn lên núi, đôi mắt xoáy đăm đăm vào cây dẻ cụt ngọn. Khi thì nó như một bà già bế đứa con nằm sõng xoài trên tay, khi lại như một con trăn khổng lồ đang rướn cao cổ nuốt một con ngựa lạc đàn. Em bé hình như mới bị ma xó bắt đi và bà mẹ đang rũ rượi gọi hồn.

Sườn núi phía sau cây dẻ có một khoảng rừng rậm. Cây mọc âm u lên tới tận đỉnh Mã Pha, quanh năm sương mù che phủ. Ở đó có một cái lán xiêu vẹo của ông già Páo sống độc thân mà dân quanh vùng quen gọi ông là ông già Rắn. Các già làng thường thầm thì với nhau rằng tổ tiên của già Páo họ Giàng, từ Tàu chạy loạn sang đây có lẽ cũng đã đến bốn năm đời.

Lúc trẻ Páo mồ côi cha mẹ rất sớm. Anh yêu A Mỵ con gái Phìa Mú, một nhà giàu nhất bản. Anh thường vác khèn lên núi phía sau nhà cô, chính chỗ gốc dẻ cụt hiên nay, thổi réo rắt những bản tình ca. Còn cô gái trong nhà dệt thổ cẩm, thỉnh thoảng lại dừng thoi, kéo tấm khăn trùm đầu lau nước mắt. Họ tha thiết yêu nhau nhưng vì Páo quá nghèo, không nuôi nổi một con lợn để nộp cheo, nói gì tới giết trâu bò làm cỗ cưới. Một lần Mỵ bỏ nhà trốn theo Páo. Họ băng rừng suốt mấy ngày đường nhưng rồi cuối cùng Phìa Mú cũng tìm được. Lão cột con gái vào gốc cây, lúc này còn là một cây dẻ tơ đánh cho thâm tím mặt mày. Tháng sau, biết Mỵ có thai, ông dời nhà đi sang bản khác và gả Mỵ cho Phìa Lều, là bạn già của lão để làm thiếp.

Từ đó Páo như người không hồn. Chiều chiều anh vẫn mang sáo ra gốc dẻ để thổi rồi cuối cùng anh dựng lều ở đấy luôn. Để giải sầu, anh đã làm bạn với thuốc phiện và sống xa lánh mọi người.

Cứ thế năm tháng đi qua, củ mài, ngô hoang, hoa anh túc trong rừng giúp Páo kéo dài cuộc sống… để mà đêm đêm sau khi đã tỉnh thuốc, anh lại mang khèn ra thổi những điệu khèn réo rắt nhớ thương:

“Amỵ ơi! Em là con nai rừng lạc đàn.

Anh là dòng suối mênh mang…”

Không nhớ rõ bao nhiêu mùa rẫy đã đi qua. Mọi người đã quên như không có anh trên đời này nữa. Anh đang tự giết mình trong sầu thương và khói thuốc phiện. Cho đến một đêm hè mưa gió, có một ông già người Mán vừa đi đến đây thì cả người và ngựa đều kiệt sức. Lên cơn đau bụng dữ dội, buộc ông phải bò lết leo lên nhà sàn của Páo. Lách cánh cửa, liếc nhìn vào nhà định xin ngủ nhờ thì người khách qua đường bỗng kêu lên một tiếng, ngã và ngất xỉu. Páo lờ đờ ngồi dậy, khua ngọn đuốc nhìn ra, thấy một cụ già đang nằm sõng xoài giữa trời mưa. Páo vội vực cụ vào nhà.

Cụ già ôm bụng rên quằn quại. Lát sau vừa nôn vừa đi tả. Páo chậm rãi đến bên bàn đèn xái thuốc phiện hòa với nước, cạy miệng cụ đổ vào. Xong, anh ta cho thêm củi và đặt cụ già bên cạnh bếp lửa.

Anh như quên hẳn có người lạ, quay về với chiếc bàn đèn. Ngoài trời mưa càng to. Một tiếng sét nổ đinh tai. Anh rung mình ớn lạnh… và cứ thế anh rít liên hồi hết điếu này đến điếu khác…

Nửa đêm, cụ già lúc này đã hết đau, mở hé mắt ra nhìn. Vẫn là cái cảnh lúc nãy đã làm cụ ngất đi. Trong ánh lửa chập chờn, có đến gần một chục con rắn hổ mang, cạp nong, hổ lửa… treo đuôi lên rui nhà và buông cái đầu xung quanh người Páo. Chúng há hốc miệng, đớp lấy những làn khói. Có con còn thè cái lưỡi xanh lè ra, liếm đi liếm lại đĩa xái thuốc phiện.

Cụ già nằm im không dám động đậy, gần sáng khi cơn mưa đã tạnh, liếc thấy Páo ngủ say như chết, những con rắn đều đã khoanh tròn lại, con ở trên xà nhà, con nằm trên đùi, con yên giấc trên cổ Páo, cụ già run bần bật bò xuống cầu thang. Con ngựa của cụ cột dưới gốc cây biến đâu mất. Còn ngọn dẻ thì đã bị sét đánh chẻ đôi ngọn. Mặc cho trời tối đen và dốc đá trơn như mỡ, cụ cứ thế mà bò mà lăn xuống chân núi, tìm vào nhà một người thổ, miệng nói líu nhíu như bị ma ám rồi lại ngất đi. Mãi mấy ngày sau cụ mới hoàn hồn. Cụ đem chuyện kể cho họ nghe. Từ đó, một đồn mười, mười đồn trăm rằng nhà Páo nuôi một bầy rắn thần. Ai ai cũng sợ. Tuy nhiên, có một lần, một người trong bản bị tả lỵ thầy mo cúng tế mãi đành bó tay. Người nhà đã đi đến chuyện bó chiếu đem đi chôn, thì người con trai chợt nhớ tới chuyện ông già người Mán kể ngày nọ, đánh bạo đến nhà Páo xin ít xái thuốc phiện của rắn thần. Và thế là bố anh đã được cứu sống. Từ đó mỗi khi có người trong vùng bị bạo bệnh, họ lại liền đến cầu cứu Páo. Không hiếm người vì thế cũng được chứng kiến cảnh bầy rắn chầu bên chiếc bàn đèn của Páo. Có khi họ thấy cả cảnh Páo thổi kèn, còn bầy rắn lắc la lắc lư đầu… múa theo. Múa hát chán, Páo ôm lấy con rắn chúa, khóc sướt mướt… miệng luôn mồm gọi Amy. Đàn rắn lúc đó như muốn chia sẻ nỗi buồn cùng với chủ, rúc đầu vào tay áo anh và nằm im, mặc cho khói thuốc phiện vẫn phảng phất thơm lừng.

Cảnh đó dân bản Séo Sìn dần rồi cũng quen đi. Họ không còn sợ như trước nữa. Mà thực ra Páo và đàn rắn có làm hại ai bao giờ! Đâu có độc ác như bọn phìa tạo và lính Tây, lính Nhật. Chúng thường chặt đầu Việt minh không ghê tay rồi treo lủng lẳng trên cành cụt cây dẻ…

Cách mạng tháng Tám nổi lên. Mặc dù lúc này đã trở thành ông già, nhưng Páo như người chết sống lại, cùng hòa vào dòng người biểu tình trong bản. Có buổi liên hoan văn nghệ. Páo còn cuốn hai ba chú rắn quanh cổ, đi diễn trò văn nghệ. Ông thổi bài “Sơn la âm u”, còn bầy rắn banh cái mang ra… lắc lư múa. Trẻ em vỗ tay hoan hô, sán lại gần xem cho rõ, quên cả sợ.

Bọn thực dân Pháp nhảy dù xuống Bắc Cạn, Páo cùng dân bản trốn vào rừng. Một tiểu đội lính lên đường, sau khi đốt xong chiếc nhà sàn của Páo, liền đưa rượu thịt và những thứ vừa cướp được bày ra khoảnh đất dưới gốc dẻ. Quan và lính ăn uống no nê, say bí tỉ rồi lăn ra ngủ. Sáng ra một toán lính khác đi qua mới phát hiện ra cả tiểu đội này chết hết. Đứa nào mặt mũi cũng tím bầm. Chúng hò nhau khiêng xác xuống núi.

Chiến dịch Cao Bắc Lạng thành công. Nhân dân trở về bản cũ, trong đó có Páo. Bà con dựng lại cho Páo nhà sàn khác. Đàn rắn thần lại tụ tập trở về.

… Một buổi chiều, có một người đàn bà hơi luống tuổi dắt một chú bé chừng 15, 16, tay chân vạm vỡ như một thanh niên, họ tìm đến bản Sèo Xín. Bà đứng tần ngần nhìn cây dẻ cụt, nhìn túp nhà sàn, nét mặt buồn buồn. Bà nhìn lên đỉnh núi rồi lại trông xuống chân đèo. Ráng vàng đã đổ sau rừng mờ mờ ảo ảo. Miệng bà lẩm bẩm:

– Đúng là chỗ này, không sai!

Chú bé thì đang mải tìm hạt dẻ rụng quanh gốc cây. Bỗng có tiếng khèn từ căn nhà sàn vang lên. Người đàn bà cuống quýt:

– Này, A Cầm, con có nghe tiếng khèn không? Đúng là tiếng khèn của cha con đó! Rồi không kịp nghe đáp lại, bà chạy sấp ngửa leo lên nhà sàn. Páo đang mơ màng với khói thuốc phiện và luôn mồm hát:

“A Mỵ ơi em là con nai lạc đàn,

Anh như dòng suối mêng mang.

Nước kia vượt ghềnh thác,

Tìm dấu chân nai vàng.

Tìm ngực em nõn nàng,

Cho nai kia hết khát

Cho em băng suối ngang

Tránh nanh vuốt hổ dữ…”

Páo vừa hát vừa gào. Đàn rắn thì rướn cao cổ, lắc la lắc lư như gõ nhịp. Người đàn bà đứng sững giữa sàn nhà đến mấy phút, rồi chạy quỳ xuống bên bàn đèn:

– A lui Páo ơi!

Páo nghe tiếng gọi từ từ mở mắt, tưởng như từ cõi chết xa xăm trở về, và khi đã nhận ra Amỵ thật, ông khóc òa… như một đứa trẻ. Đàn rắn đều đã lao lên xà nhà, cuộn tròn lại, miệng phun phì phì dọa nạt…

Mấy ngày sau A Mỵ mới kể cho Páo biết rằng, Phìa Lều đã chạy theo Tây và bọn Vàng Pao, Mỵ mới trốn được, vội đưa con trở về đây tìm Páo.

Từ đó, Páo nghe lời Mỵ, năng ra suối tắm rửa. Ông cũng giảm bớt thuốc phiện. Ngày ngày ông thường cùng với A Cầm đưa chó vào rừng săn thú và đào củ mài.

Những lúc vắng mặt vợ, ông mới dám đưa bàn đèn ra. Đàn rắn lại tụ tập về, nhưng chúng trông lờ đờ uể oải hẳn, không lắc lư múa nữa mà há miểng ra đớp liên tục khói thuốc…

Mấy tháng sau, một đêm trời lại nổi mưa to, sấm chớp nổi đùng đùng. Nửa đêm, khi ở chái bên A Cầm đã ngủ say, Páo cuồng nhiệt ghì A Mỵ vào lòng như thời còn son trẻ. Hai người cởi hết áo quần, lăn tròn giống như đôi rắn. Bất giác, Páo nhìn lên mái nhà, thấy một đôi mắt rắn do ánh lửa phản chiếu trông đỏ lừ như máu. Nhưng nỗi đam mê khao khát khiến Páo mặc cho bếp lửa tí tách tàn, không thèm dậy thêm củi…

Mãi tới khi mặt trời đã gần đứng bóng, Páo mới thức dậy. Páo thấy A Mỵ lõa lồ nằm co quắp bên cạnh ông, người lạnh giá. Páo ôm lấy xác vợ thì con rắn chúa từ chỗ kín của bà từ từ bò ra, lừ mắt nhìn ông. Nó phóng lên xà nhà, trong khi Páo mặc quần áo, tìm thanh mã tấu…

Lời cuối chuyện: Tôi tình cờ nghe chuyện về Giàng A Páo nhân một chuyến đi miền núi để tìm một ít cao hổ cốt, mật gấu và mật ong rừng dùng cho tuổi già. Và tôi đã đến bản Sèo Xìn, chỗ cây dẻ cụt ngọn, ở đây tôi gặp một trại nuôi rắn. Người bác sĩ chuyên gia về rắn độc, không ai khác chính là A Cầm, còn Giàng A Páo đã mất cách đây mấy năm. Ông xác nhận chuyện trên là có thật.

Rắn của ông, một số loài được nuôi trong hang có lưới sắt. Riêng giống rắn chúa hiếm, rất độc, có họ hàng với hổ mang mà ông gọi bằng tên là tinh là “co-bra…” gì gì đó tôi quên mất, ông vẫn để sống tự nhiên trong rừng. Mỗi lần lấy nọc, ông lại dụ chúng về bằng khói thuốc phiện. Ông có biếu tôi một lọ rượu nhỏ chế bằng nọc của nó. Nghe ông nói, một ml nọc rắn này xuất khẩu giá tới mấy trăm đô la. Nó được bào chế thành thuốc có thể chữa khỏi bệnh bán thân bất toại, do tai biến mạch máu não, công hiệu hơn cả mật gấu, cao hổ cốt… mà tôi đang tìm.