Quang Dũng :ĐÔI MẮT NGƯỜI SƠN TÂY ( do TMCS…dịch)

  (Thơ Quang Dũng)
Dịch:
TMCS: Anh, Hán
Trịnh Phúc Nguyên: Pháp
Phan Hoàng Mạnh : Pháp
ĐÔI MẮT NGƯỜI SƠN TÂY
Tác giả: Quang Dũng

Em ở thành Sơn chạy giặc về, 
Tôi từ chinh chiến cũng ra đi 
Cách biệt bao lần quê Bất Bạt, 
Chiều xanh không thấy bónĐÔI MẮT NGƯỜI SƠN TÂYg Ba Vì 

Vừng trán em vương trời quê hương, 
Mắt em dìu dịu buồn Tây phương. 
Tôi thấy xứ Đoài mây trắng lắm, 
Em có bao giờ em nhớ thương. 
 
Anh: TMCS
 
THE SƠN TÂY LADY’S  EYEYS
(Poem by Quang Dũng-Translation by TMCS)

You evacuate from Son Tây city
To take my part in the war, I also leave…
More than once, we’ve been far from Bất bạt, our homeland.
So many sunsets
We couldn’t see the Ba vì mountain’s silhouette !

Your forehead reminds me of our homeland sky 
Your eyes are saddened  with the Western ladies’ s sorrow.
For me, our West land’s clouds are always so white,
Of which do you think  at time ? 
 
Hán- phiên âm- dịch nghĩa: TMCS
 
SƠN TÂY NHÂN SONG NHÃN      ĐÔI MẮT NGƯỜI SƠN TÂY

(Quang Dũng thi-TMCS dịch)               (Thơ Quang Dũng-TMCS dịch)

Tiểu muội tự Sơn Tây* tị địch         Em gái chạy giặc từ Sơn Tây        
Ngã vi chinh chiến diệc đăng trình Tôi cũng lên đường vì chiến tranh.
Gia hương Bất bạt* kỉ li biệt            Đã mấy lần xa quê Bất Bạt”
 Thanh vãn Tản viên bất kiến hình  Chiều xanh không thấy hình bóng Ba vì

Tịch quán thiên không triền muội ngạch Bàu  trời quê hương vương vầng trán em
Nhãn tình sầu tứ tự Tây nương       Ý buồn đôi mắt giống thiếu nữ phương Tây
Thiên vân Tây xứ phi thường bạch Mây trời ở xứ Đoài vô cùng trắng
Vấn muội hà thì hoài cảm thương    Hỏi em lúc nào thấy nhớ thương
Chữ Hán:
 
山西人雙眼 
(光勇詩-相梅居士譯)
 
小妹自山西避敵
我為征戰亦登程
家鄉不坺幾離別
青晚傘圓不見形
 
籍貫天空纏妹額
眼睛愁思似西娘 
天雲西處非常白
問妹何時懷感傷 
Pháp: Trịnh Phúc Nguyên
 
LES YEUX DE LA SONTAIENNE
De SonTay,tu t’es  enfuie des ennemis,
Engagé pour la guerre,je suis aussi parti.
Ayant quitté BatBat natal bien de jours passés,
Je ne vois plus la silhouette de BaVi les soirs azurés.

Le ciel du sol natal se projette sur ton front,
Tes doux yeux regardent tristement vers l’Ouest,
Je vois affluer de là-bas des nuages très blancs,
Y as-tu jamais pensé,le coeur plein d’affection?
 
Pháp: Phan Hoàng Mạnh
 
  LES YEUX  DES GENS DE SƠN TÂY
(LES YEUX DE LA JEUNE FILLE DE SƠN TÂY)
                  Tôi không biết chọn đề nào là đúng ý tác giả (PHM)
    


Tu t’es enfuie de la cité Sơn devant les troupes ennemies,
Et moi, partant en guerre, suis aussi en route.
Tant de fois, on a quitté la terre natale de Bất Bạt,
Où dans le soir vert, on  n’a pu apercevoir le pic de Ba Vi.

Ton front est empêtré de quelque chose du ciel natal.
Tes yeux ont la douce mélancolie de la terre d’Ouest. (*)
Je constate que les nuages de l’ouest sont très blancs.
Et toi, quand donc te sens- tu serrée de nostalgie d’amour?
 

Đỗ Anh Thơ : Thơ chiết tự chữ Nhân, Hưu và Tiên                

 

Hỏi cây: sao đứng mãi đây ?

Không, không , tôi đợi một ngày lên tiên.

Than ôi ! Gỗ sắp thành Hiền

Người ngừời …nhân nghĩã , xỏ xiên …cứ bàn !!!

05/6/2017

Tại Bình Thạnh -SG                                                                   ĐAT

(*) 人 ( nhân = người) ﹐

仁 ( nhân nghĩa), 休 ( hưu ) 仙 ( tiên )﹐ 賢 ( hiền)

Đỗ Anh Thơ : Truyện cực ngắn : Chiếc đồng hồ chuông treo tường

Năm 1990 , Docago ky cóp tiền mua được một mảnh đất nhỏ rộng 80 m2 ở làng Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội . Lúc làm xong nhà, lão  được một người cháu mừng  một chiếc đồng hồ treo tường của Nhật , lão quý lắm , đem treo ở trên đầu bàn làm việc . Lão bỏ chuông, chỉ để nó tích tắc …tích tắc nhẹ nhàng gõ nhịp … như đếm ngược thời gian, như nhắc nhở cho lão biết quãng đời còn lại của  mình . Vì thế lão mới không ngơi nghỉ, trăn trở phản tư , thai nghén được khá nhiều truyện , hồi ký và sách biên khảo cổ văn của Tầu

Tới khi chuyển nhà vào trong nam , vợ lão mang nó theo nhưng  lão đã quên , không còn chú ý tới nó nữa … vì trên mọi công cụ nghe nhìn , chỗ nào cũng hiển thị cho lão biết về giờ giấc …như đèn báo con tàu  sắp đến ga cuối cùng .

Dòng thời gian cứ trôi đi như thế…cho đến tối hôm qua , mưa gió, sấm chớp đầu mùa gào thét …ầm ầm khiến gốc dừa, cây khế trước nhà lão,  run rẩy… rũ rười  đang chắp tay vái lạy trời đất …thì điện phụt tắt , trời tối om om … . Lúc này lão mới sực nhớ đến chiếc đồng hồ cũ. Lão lấy đèn phin soi lên nhìn, thì thấy nó đã ngừng chạy tự bao giờ. Lão tìm cục pin mới đem thay, nhưng kim phút của nó chỉ giật cục mấy cái rồi lại ngừng . Đến lúc này lão mới cảm thấy như mình đã có lỗi với người bạn già chung thủy , đã cùng vui buồn với lão suốt gần 30 năm trời .

Sáng ra lão vội mang sang cho ông thợ điện què chữa bệnh cho nó. Ông tập tễnh đi khắp góc nhà, tìm trong đống phụ tùng nát, được một cum IC chính hãng . Ông đem thay tim cho nó. Lão móc túi trả tiền ,liền bị ông thợ điện gạt phắt đi .

Đưa về nhà, vợ lão khen :

– Trông lại như đồng hồ mới vậy.

…Rồi bà dem nó treo gần cửa bếp và chép miệng :

-Treo ở đây , cho nó đánh chuông để biết giờ … gọi ông xuống ăn cơm cho tiện !

Lão sực nhớ ra đã có mấy lần , lão không còn nhớ mình đã ăn cơm rồi hay chưa  . Nay được đồng hồ gõ chuông gọi …cũng hay !!!

02/6/2017

Tại Bình Thạnh SG

ĐAT

Đỗ Anh Thơ : Truyện cực ngắn : Tuo …chu…qu …kuai …ba !

 

Đang ở quận 9 chơi với các cháu,  Docago nghe  Hòa thượng Thích Thịt Chó đả đảo sách  “Trí tuệ Khổng Tử”, “ Trí tuệ Lão Tử” …mà Hắn vẫn tự hào nay đã thành e-book , Hắn  tức điên, quyết chí lần này phải “ thoát Trung” .  Hắn  liền gọi taxi lên Nhà sách ký một hợp đồng dịch thuê sách tiếng Anh,  rồi nghĩ thầm :

– Phen này thì Thích Thịt Chó phải biết tay ta  “thoát Trung” nhanh như thế nào !

Quay về  Bình Thạnh, vét mãi trong túi chỉ còn đúng 300 ngàn , hắn ra cửa hàng trước cửa hỏi mua chiếc đèn để bàn đúng nhãn hiệu Ma dê in Vietnam

Chủ quán lắc đầu lìa lịa :

Tất cả các hàng điện , nước , sắt thép, điện tử của ta, hiện nay cạnh tranh không nổi với hàng Tầu nên các công ty đều phải gia công cho chúng rồi dán mác Việt Nam . Mà giá đúng 360 ngàn cả bóng , bác a .

_ Thế thì lại là hàng rởm như đèn LED có  công tắc cảm ứng , tôi mua của ông . Cháy  ngay thôi mà !

Rồi Hắn chép miệng : Thế ra khẩu hiệu “Người Việt Nam dùng hàng Viêt Nam chỉ là hô hào suông ư ?

Nói thế xong, Hắn chạy băng qua đường , về nhà .

Ông chủ quán nhìn lão ngơ ngác.

Thì ra Hắn thiếu tiền phải về vay vợ.  Vợ Hắn cúi xuống …lần hầu bao …lần trong quần lót… mãi mới  moi ra được một trăm. Khi bà ngửng lên …thì Hắn đã biến mất.

Nhưng rồi bà nghe Hắn rên nho nhỏ trong toa lét và lẩm bẩm nói :

Tuo …chu…qu… kuai …ba !!! (*)

Té ra bụng Hắn đã tích lại cái “ nhân chi sơ ” lâu ngày  quá rồi. Thoát nhanh làm sao được mà Thích Thịt Chó cứ trách mắng  . Thật tội nghiệp cho Hắn !

 

 

Chú thích (*) 脱 出 去 快 巴

Tại Bình Thạnh

Sài Gòn

(26/5/2017)

ĐAT

.

HUY CẬN:CÁC VỊ LA HÁN CHÙA TÂY PHƯƠNG (phần cuối) – TMCS dịch

Dịch:
TMCS:  Anh  và Hán
Trịnh Phúc Nguyên : Pháp
Phan Hoàng Mạnh  : Pháp
Hoàng hôn thế kỷ phủ bao la 
Sờ soạng, cha ông tìm lối ra 
Có phải thế mà trên mặt tượng 
Nửa như khói ám, nửa sương tà. 

Các vị La Hán chùa Tây Phương! 
Hôm nay xã hội đã lên đường 
Tôi nhìn mặt tượng dường tươi lại 
Xua bóng hoàng hôn, tản khói sương.

Cha ông yêu mến thời xưa cũ
Trần trụi đau thương bỗng hoá gần! 
Những bước mất đi trong thớ gỗ 
Về đây, tươi vạn dặm đường xuân.
 
Anh: TMCS
 
The world was covered by the immense century sunset
Our ancestors have scrabbled for the outlet.
Therefore, half of the face of every statue was smoky
And the other half – foggy.

Oh! Arhats of the Tây Phương  Buddhist temple,
Today the mankind society takes the departure.
 I see the rejuvenation on each statue’s face
Without smoke and sunset shadow on their figure.

Our beloved ancestors 
Having experienced too much sufferings since ancient days
Become so close to us nowadays!
The steps lost in the wooden fibres return here
Make the long Spring Road radiant and clear.
 
Hán- phiên âm. dịch nghĩa: TMCS
 
Hoàng hôn trường mạn mãn thiên địa Hoàng hôn lê thê kín trời đất
Mạc sách tổ tiên  tầm xuất đồ           Tổ tiên quờ quạng tìm lối ra
Do thử tượng tiền, nhân khả kiến    Do đó đứng trước tượng ta thấy:
Dung nhan yên yểm, sương mô hồ.  Mặt tượng  :khói che, sương mơ hồ.

Tây phương tự lí chư La Hán    Các vi La Hán trong chùa Tây Phương !
Xã hôi kim thiên dĩ xuất hành     Xã hôi hôm nay dã khởi hành
Ngã kiến tượng dung như khởi sắc  Tôi thấy nét mặt tượng khởi sắc
Yên sương dĩ tản, thiên quang thanh Khói sương đã tan, trời trong sáng .

Kính ái tổ tiên tự quá khứ      Tổ tiên kính mến từ quá khứ
Bi thương xích xích hốt thâm tình   Trần trụi đau thương bỗng thân tình
Mộc trung cước bộ vị hành tẩu  Những bước chân trong gỗ chưa cất bước 
Hưng phấn xuân đồ vạn lí trình. Đi vạn dặm trên đường xuân hưng phấn.
 
Chữ Hán: TMCS
黃昏長慢滿天地
摸索祖先尋出途
由此像前人可見
容顏霜掩煙模糊
西方寺裡諸羅漢
社會今天已出行
我見像容如起色
煙霜已散天光青
敬愛祖先自過去
悲傷赤赤忽深情
木中腳步未行走
興奮春途萬里程
Pháp: Trịnh Phúc Nguyên
Le crépuscule séculaire couvre l’espace immense,
Nos ancêtres ont tâtonné pour chercher l’issue,
Est-il vrai que c’est pour cela que les visages des statues
sont à moitié noircis par la fumée,à moitié embrumés de l’ombre du soir,

Ô arhants de la pagode Tay phuong,
Aujourd’hui,la société est déjà au point de départ sur la piste,
Je contemple les visages des statues,
Il semble que vous vous raffraichissiez,
que vous avez chassé l’ombre crépusculaire
et dissipé la brume et la fumée.

Nos ancêtres d’antan respectés,bien-aimés,
Contorsionnés de douleurs,semblent nous approcher,
Les pas disparus des fibres du bois sculpté
retournent ici, tout rafraichis,
sur le chemin éternel du Printemps.
 
Pháp : Phan Hoàng Mạnh.
 
(Kèm  hai khổ kì trước, trong đó PHM có đính chính một chỗ do lỗi dánh máy)
Nos pères, qui avaient supporté le grand fardeau du 
                                                                          Temps,
Les amis contemporains de Nguyen Du, 
Avec du feu dans les entrailles et des lourds soucis sur
                                                                          le front,
Avaient tant souffert pour la vie mais n’avaient pu
                                                         sauver le monde.
 
Nos ancêtres avaient eu les entrailles déchirées
Dans l’époque où la vie piétinait toujours sur place.
Tous les espoirs les poussaient sur les côtes.
Ils restaient desséchés comme des bourgeons 
                                                     manquant de soleil.

Le crépuscule séculaire avait recouvert toute l’humanité.
Tout en tâtonnant, nos pères recherchaient la sortie.
Est-ce la raison que sur tous les visages des statues,
C’est blafard comme enveloppés de fumée ou de
                                                                           brume.

O Arhants de la Pagode Tay Phuong!
Aujourd’hui, toute la société est en route.
Il me semble que vos physionomies sont quelque peu
                                                                rafraichies,
L’ombre crépusculaire est refoulée et la brume s’est
                                                                      dissipée.

Nos ancêtres estimés des époques d’antan,
Qui avaient tant souffert, deviennent bien proches.
Les pas, qui se sont perdus dans les fibres du bois,
Parviennent maintenant tout frais sur mille lieues de
                                                                  Printemps.
 

 

Đỗ Anh Thơ : Truyện cực ngắn: Chú chich chòe lửa hót chúc sức khỏe Docago

 

Trời chuyển mùa, gần tuần nay Docago “ nhọoc” nên đã 8 giờ sáng, lão vẫn chưa dậy .

Dưới nhà, họa mi, chích chòe than đang hót líu lo.

Lão lắng tai, nhưng  chưa nghe tiếng hót “ túc  chúc..túc chúc ” trầm trầm của chú chích chòe lửa . Sợ chú ốm nên lão gượng vùng dậy , vội vàng xuống cầu thang, bước ra sân sau .

Đến gần lồng, lão  đưa đôi mắt kèm nhèm…  nhìn chim nhưng không thấy chú đứng trên cầu. Chích chòe than, họa mi ở bên cạnh, đang hót …thấy lão …liền im bặt.  Vạch vải che lên, thì ra chú đang bám trên đỉnh lồng …ngó ngó, nghiêng nghiêng  …nhìn … bạn  hót.  Tới khi thấy lão, chú nhảy xuống , vẻ mừng rỡ, rồi cong  đuôi dài, như cái áo khoác của kỵ sĩ lên  và  “ túc chúc …túc chúc”  liên hồi…Lão càng nhìn, chú càng nhảy nhót, rồi hót to hơn.

Lúc này vợ lão đã dậy tập thể dục xong đang ăn sáng . Nhưng tại sao chú lại không hót ? Vì bà lão yêu , chăm sóc họa mi và chòe than, cho chúng nhiều sâu hơn , nên chú giận bà chăng? hay biết lão “nhọoc”  dậy muộn  nên chú  chờ lão xuống , cất tiếng chào buổi sáng , để chúc lão vui khỏe, yêu đời  lên chăng  ?

2/5/2017

Tại Bình Thạnh SG

 

Huy Cận : Các vị La Hán chùa Tây Phương ( khổ 11-22) – TMCS (dịch)

Thơ HUY CẬN
 
Dịch:
TMCS: Anh – Hán
Trịnh Phúc Nguyên :  Pháp
Phan Hoàng Mạnh  :  Pháp
Cha ông năm tháng đè lưng nặng 
Những bạn đương thời của Nguyễn Du 
Nung nấu tâm can vò võ trán 
Đau đời có cứu được đời đâu. 

Đứt ruột cha ông trong cái thuở 
Cuộc sống giậm chân hoài một chỗ 
Bao nhiêu hi vọng thúc bên sườn 
Héo tựa mầm non thiếu ánh dương. 
 
Anh: TMCS
 
Our ancestors – the contemporary friends of Nguyễn Du-
With the heavy burden of time on their backs,
Have whole-heartedly searched out the way
To rescue the mankind from sombre days.
Although their hearts have been always filled with pity,
But it is in vain till  nowadays! 

The hearts of our ancestors were broken that time
When in their life
There was not any change and  improvement.
Because all hopes closed to their life
Were as withered as the tender buds lacking of sunlight. 
 
Hán- Phiên âm- Dịch nghĩa : TMCS
 
Tuế nguyệt tổ tiên phụ bối thượng  Tổ tiên cõng năm tháng nặng trên lưng
Nguyễn Du chi hữu tự na thì        Là bạn Nguyễn Du từ thuở ấy
Tâm can hoả nhiệt, ngach đa trứu  Tâm can thiêu đốt, trán nhăn nheo.
Độ thế cứu nhân bất khả thi      Không  làm được việc cứu nhân độ thế.

Tiên tổ đoạn trường tự cổ đại        Tổ tiên đứt ruột từ đời xưa
Nhân sinh vĩnh viễn bất năng di   Cuộc sống con người mãi chẳng đổi thay được
Hảo đa tâm nguyện tằng hoài bão Từng hoài bão rất nhiều tâm nguyện,
Khô kiệt nộn nha bất cập thì          Như các mầm non khô héo , không gặp thời
 
Chữ Hán: TMCS
 
歲月祖先負背上
阮攸之友自那時 
心肝火熱額多皺 
渡世救人不可施
 
先祖斷腸自古代
人生永遠不能移
好多心願曾懷抱
枯竭嫩芽不及時
 
Pháp: Trịnh Phúc Nguyên
 
Nos ancêtres ont le dos chargé du poids des mois et des années,
Les amis contemporains de Nguyen Du,
Le coeur chauffé,le front froncé,
Compatissant à la vie humaine,pourtant ne pouvant la sauver

Nos ancêtres,les entrailles déchirées pendant la période
ou piétine la vie  en vain sur place,
Beaucoup d’espérances nées en leur coeur,
Sont pourtant flétries comme des jeunes germes
manquant de lumière solaire.
 
Pháp: Phan Hoàng Mạnh
 
Nos pères, qui avaient supporté le grand fardeau du 
                                                                          Temps,
Les amis contemporains de Nguyen Du, 
Avec du feu dans les entrailles et des lourds soucis sur
                                                                          le front,
Avaient tant souffert de la vie mais n’avaient pu
                                                         sauver le monde.

Nos ancêtres avaient eu les entrailles déchirées
Dans l’époque où la vie piétinait toujours sur place.
Tous les espoirs les poussaient sur les côtes.
Ils restaient desséchés comme des bourgeons 
                                                     manquant de soleil.