Đỗ Anh Thơ : Truyện cực ngắn : Thầy Đồ đau cái lưỡi

Ngày xưa . có một phú ông khi nhà giết lợn , hắn bảo đầy tớ luộc đem lên cho hắn món nào ngon nhất để hắn nhắm rựơu. Người đầy tớ mang lên cái lưỡi . Hắn khen ngon . Mấy hôm sau, nhà lại giết lợn , hắn lại bảo :

–        Mang lên món nào dở nhất.

Người đầy tớ vẫn mang lên cho hắn cái lưỡi…. Lão phú ông liền quát và lấy roi cặc bò dọa đánh tên đầy tớ trung thành kia nếu không nói cho hắn biết lý do tại sao. Và…như chúng ta đã biết, thầy trò họ đã giở lý sự cùn ra như thế nào .

Ngày nay, có một thầy Đồ, chỉ đủ nửa vẹm chữ nghĩa, chỉ quen thói đạo văn và nịnh bợ …tâng bốc bạn mình, ông này là vua thơ , ông kia là thiên tài nhạc sĩ, sáng tác ca trù nổi tiếng . Lão hòng nấp bóng họ, để làm ăn, mong có một chút danh hão, nhưng mà mãi vẫn chưa đươc.

Thế rồi, cái lưỡi lão vì phải uốn đi uốn lại nhiều lần, nên sưng vù ..thuốc men mãi không khỏi , phải ăn cháo cả tháng trời . Lão không còn có khả năng lý sự như tên đầy tớ kia , hoặcnhư khi lão ta còn chưa lẫn, như khi lão bàn về chữ “triết” như là hai kẻ sĩ đang đàm đạo để tìm ra chân lý, hay là những con người ngạo mạn, dùng miệng lưỡi để bắt bẻ nhau (*) (**)

ĐAT

Tại Bình Thạnh, SG

              (*) Chiết tự chữ triết cổ () và hiện nay ()

                  (**) Xin đọc thêm bài đã đăng trên mạng :

Đỗ Anh Thơ : Bàn thêm về chữ “ triết” () của Tầu

Advertisements

Đỗ Anh Thơ : Cuối đời, nhặt truyện cũ đăng lại (3) : Chiếc cối giã trầu của Mẹ

          Suốt ba tháng mùa đông cụ Giáo phải nằm liệt giường. Lưng cụ đau như dần, đôi bắp chân nhức buốt. Đêm đêm cụ thường nhờ đứa cháu gái duy nhất của mình là Nga Mi quấn cho hai sợi dây vải từ mắt cá chân lên tới đầu gối, cụ mới hết cái cảm giác kiến bò rân rân trong xương tủy, mãi mới thiếp đi được trong gió rét ẩm, mưa phùn.

Nhưng sáng dậy cụ lại thèm được ra quét cái sân đất để mà đứng tựa cán chổi, ngắm nhìn cây cau, khóm chuối trước nhà… Dễ thường dịp này chúng đã sắp chửa buồng. Cụ thèm được ngồi trước cửa để ngóng chừng cháu đi học về. Nó sẽ để nguyên cặp sách sau vai, chạy lại hai tay ôm choàng lấy bà mà nói đủ chuyện. Cuối cùng thế nào rồi nó cũng kêu đói bụng và cụ Giáo lại mắng yêu cháu một câu muôn thuở :

– Cha bố mi… Mi xấu đói chẳng khác gì cha mi ngày xưa. Đi học về chưa kịp buông sách đã vào bếp lục chạn, tìm cơm nguội.

Ba tháng ròng thỉnh thoảng trời hửng nắng, cụ mới dậy bắc được niêu cơm. Còn thường ngày phải nhờ cô Na hoặc các mẹ nhà bên cạnh sang giúp.

Bố Nga Mi đi bộ đội rồi bặt tin từ ngày nó còn nằm trong bụng mẹ. Thống nhất đất nước, cụ mới nhận được giấy báo tử. Nga Mi vừa lên bốn. Mẹ em định ở vậy, nhưng cụ Giáo không chịu. Chị đành đi bước nữa, không ngờ chị lại gặp cảnh “lỡ bước sang”, đò sông cách trở… Năm thì mười họa chị mới lén lút tạt về thăm con, thăm mẹ chồng cũ được một lần. Thường thường, sau khi cắm nén nhang lên bàn thờ cho chồng, chị lục dưới thúng lấy ra mấy chục cá nục. Chị xuống bếp nổi lửa lên kho kỹ để bà cháu ăn dần. Xong chị mới lên nhà trên ngồi bên cạnh giường cụ. Chị ôm Nga Mi vào lòng mà hôn. Còn hai bàn tay, chị quàng qua lưng con, nắn hết bắp chân này đến bắp chân khác cho mẹ chồng. Cụ Giáo nằm im vì dễ chịu hay để giấu đi nỗi xúc động. Mắt chị không dám nhìn con, cũng không dám nhìn mẹ chồng… mà chỉ thả vào khoảng không, chìm đắm trong sâu lắng, thăm thẳm buồn. Cả ba người cứ ngồi như thế, không nói với nhau một lời. Có lẽ, giữa họ những lời âu yếm nói nhiều đã cạn. Nỗi khổ đau, những giọt nước mắt thở than nhiều đã khô. Nên cái quý nhất, thiêng liêng nhất hiện tại, đó là sự im lặng, cảm thông. Cho tới khi mặt trời gần đứng bóng, chị mới vội vã ra về cho kịp chuyến đò ngang, kịp về nhà nấu bữa cơm trưa cho người chồng nghiện hút, nát rượu, hay ghen… và cho đứa con nhỏ tật nguyền.

… Dù mùa đông có mưa phùn rét mướt lâu đến mấy đi chăng nữa, thì rồi cũng phải nhường chỗ cho mùa xuân. Qua mấy đêm, trời nổi mưa rào, tiếng sấm như gõ chiêng, gõ trống thùng thình, gọi những ngọn lúa xuân nhảy múa. Lá của chúng xanh mơn mởn, phổng phao, vươn cao nhánh, như thiếu nữ đến tuổi dậy thì.

Đúng thời gian này, cụ Giáo như cất được gánh nặng trên lưng, trên ngực. Gần trưa, nắng vàng le lói, cụ ngồi dậy. Cụ lấy gạo nấu cơm. Rồi cụ bắc ghế ra sân ngồi ngóng cháu Nga Mi. Tự nhiên cụ thấy thèm trầu. Cụ lọ mọ sờ ngăn tủ tìm cái cối và tìm trầu cau mà bà bạn già vừa mới đưa cho hôm qua. Cụ bỏ trầu cau vào cối, kẹp vào đầu gối mà giã. Cụ vừa giã vừa đưa mắt nhìn hai con chào mào đang chuyền cành trên cây ổi, hót líu lo. Tai cụ nghe rõ cả tiếng vo ve của bầy ong đi lấy mật. Đầu óc cụ chưa bao giờ tỉnh táo đến như thế. Nhặt lá khi bỏ miệng trầu vào mồm, cụ cảm thấy ngực mình nóng ran, rạo rực như thời còn con gái mới về nhà chồng.

Rồi cụ giã cối trầu thứ hai. Bỗng Nga Mi từ đâu rón rén đến sau lưng ôm choàng lấy cổ bà mà thơm rối rít.

– Bà khỏe rồi, để cháu giã cho! Dễ thường bà chán trầu đã hơn tháng rồi đấy nhỉ? Bà ạ, cháu nghe thầy giáo bảo, ai nghiện cái gì khi ốm mà thèm trở lại là  sắp khỏi!

– Ừ, bà cũng sắp khỏi rồi. Bà phải sống để được ăn cỗ cưới của cháu chứ!

Bà cụ móm mém cười. Còn Nga Mi thì định đấm khẽ vào lưng bà như ngày nào, như đấm vào lưng chúng bạn khi bị chế. Nó giơ tay lên và hụt hẫng… khi chợt nhớ ra rằng lưng bà mình đã cong, lại đang đau. Nó nói chống chế:

– Bà ơi, chiếc cối giã trầu này làm bằng vỏ đạn do cha cháu từ Vĩnh Linh gửi về cho bà, ngày cháu chưa đẻ phải không?

– Ôi, cháu của tôi nhớ giỏi quá! Nếu không có cháu thì chắc bà đã quên mất rồi! Thôi, xuống bếp lấy cơm lên mà ăn.

– Dạ. Cháu đói bụng quá.

– Cha đẻ mi, mi xấu đói… y như là…

Người ta thường nghiệm ra rằng, người già chỉ như một ngọn đèn cạn dầu trước gió, vụt sáng lên khi sắp tắt. Đêm hôm đó, cụ Giáo ra đi… một cách thanh thản, nhẹ nhàng. Sáng ra, Nga Mi sờ tay bà thì đã lạnh giá. Nó gào lên, chạy sang nhà hàng xóm kêu cứu.

Chính quyền, các cụ phu lão, mẹ anh hùng liệt sĩ… đổ đến. Họ vén màn lên: da mặt cụ Giáo hồng hào, tóc cụ bạc phơ phơ như cước, tựa như một bà tiên đang ngủ say.

Buổi chiều khâm liệm cụ, Nga Mi khóc sưng húp cả mắt, ôm lấy quan tài bà, không cho các chú, các bác đậy nắp. Rồi nó chạy lại đầu giường, lấy ra chiếc cối giã trầu chiều qua, nhẹ nhàng đặt xuống bên má bà. Một chú phải ghì chặt lấy nó, để cho mọi người chuẩn bị đóng nắp quan.

Bỗng mẹ Nga Mi từ ngoài sân, tất tả bước vào, quần áo ướt như chuột lột:

– Cháu lạy các chú, cháu lạy các bác. Cho cháu nhìn mặt mẹ cháu một lần cuối. Cháu biết tin từ trưa, nhưng “hắn” dọa chém, không cho cháu đi. Cháu phải trốn bơi qua sông…

Nắp quan tài lại được mở ra. Chị vuốt mắt mẹ chồng tay đấm vào ngực mình:

– Con thật bất hiếu với mẹ, mẹ ơi!

Rồi chị nói lảm nhảm những gì không rõ. Chị vái người chết vái ảnh chồng trên bàn thờ. Chị quay sang vái con, vái xóm giềng đứng bên cạnh. Nước mắt cùng với nước trên áo quần chị, nhỏ xuống ròng ròng…

                                                         ĐAT

Thơ Bàng Bá Lân : Cổng làng ( khổ 1-2 và các bản dịch )

Dịch :

TMCS: Anh, Hán

Trịnh phúc Nguyên: Pháp

Phan Hoàng Mạnh   : Pháp

( Ảnh minh họa : Cổng làng Ước Lễ – Thanh oai – Hà Tây )

CỔNG LÀNG (KHổ 1-2)

Thơ: Bàng Bá Lân

Chiều hôm đón mát cổng làng,

Gió hiu hiu đẩy mây vàng êm trôi

Đồng quê vờn lượn chân trời

Đường quê quanh quất bao người về thôn

Sáng hồng lơ lửng mây son

Mặt trời thức giấc, véo von chim chào

Cổng làng rộng mở. Ồn ào

Nông  phu lững thững đi vào nắng mai

Anh: TMCS

THE VILLAGE GATE

(Poem by Bàng Bá Lân – Translation by TMCS)

Every sunset,  the village gate is a place, where

People come to get some fresh air

The breeze pushes yellow clouds slightly,

In the field extended to the horizon,

Rice waves are bobbing unceasingly.

On the zigzag paths, they are on the way to the hamlets.

Early in the pink morning, the vermilion clouds hang in the sky.

In the gay songs of birds, the sun wakes up on time.

It’s also the time when the village gate is opened wide.

The sun shines onto the noisy farmers

To  the fields they are going together.

Hán – Phiên âm – dịch : TMCS

HƯƠNG MÔN

( Bàng bá Lân thi – TMCS dịch)

Hương môn, bàng vãn, chúng thừa lương.Cổng làng chiều hôm, mọi người đến hóng mát

Thôi động hoàng vân do quát phong.       Do gió nổi đẩy mây vàng trôi

Thuỷ đạo như ba thiên tế khởi.                   Lúa như sóng dậy lên ở chân trời

Loan loan đồ thượng, chúng quy hương.Nhiều người về làng trên đường uốn quanh

Thanh tảo hồng vân huyền kỉ đoá.  Sớm tinh mơ lơ lửng mấy áng mây hồng

Thái dương lai tỉnh điểu hoan ca.   Trời thức giấc, chim hót véo von

Hương môn khai phóng nhân huyên náo. Cổng làng mở ra, mọi người ồn ào.

Nhật xuất , nông phu mạn xuất gia.  Mặt trời ló ra, nông phu thong thả rời nhà

Chữ Hán : TMCS

鄉門

(傍伯鄰詩-相梅居士譯)

鄉門傍晚眾乘涼

推動黃雲由颳風

水稻如波天際起

彎彎途上眾歸鄉

清早紅雲懸幾朵

太陽來醒鳥歡歌

鄉門開放人喧閙

日出農夫慢出家

Pháp: Trịnh Phúc Nguyên

PORCHE DU VILLAGE

Au porche du village,on accueuille le frais du soir,

La brise doucement pousse les nues d’or flotter,

La campagne  ondulée s’étend jusqu’à l’horizon,

Sur les alléees rustiques,on rentre aux hameaux.

Le matin,flottent à la dérive des nuages vermeils,

Le soleil se lève,les oiseaux gazouillent,

Le porche du village s’ouvre largement.Du tumulte,

Des paysans lentement entrent et sortent sous le soleil matinal.

Pháp  :   Phan Hoàng Mạnh

LE  PORTAIL  DU VILLAGE

Le jour en déclin accueille le portail dans sa fraîcheur

Avec un vent léger qui fait flotter des nuages jaunes.

La campagne ondule jusqu’à l’horizon,

Sur la route des champs, reviennent les gens au hameau.

Le matin rose s’attarde dans les nuages de vermillon.

Le soleil se réveille dans les gentils gazouillis d’oiseaux.

Le portail du village est largemente ouvert, et bruyamment,

Cheminent des paysans dans la clarté matinale.

Phản hồi :

 

Tran Van Kinh

8:54 PM (11 minutes ago)

Tôi hân hạnh được đọc bài Cổng làng của BBL, lại được đọc các bản chuyển ngữ đặc sắc của các bậc đàn anh, bỗng nhớ đến một bài tôi viết đã lâu, bèn xin góp vui gọi là của kẻ hậu sinh.

Ra ngõ

Ra ngõ gặp ngoi Đình

Nghe xập xình chiêng trống

Những đám rước quê mình

Điệu Hành vân, Lưu thủy …

Ra nữa gặp ngôi Đền

Nhớ anh hùng, kiệt hiệt

Lịch sử hiện dần lên

Những trang đời oanh liệt

Ra nữa gặp ngôi Chùa

Nhìn bon chen…cát bụi

Ngó danh lợi…phù du

Thấy u mê lầm lỗi !

Ra nữa gặp ngôi Trường

Lúc trống trường vào học

Ta đứng nép bên đường

Nhìn bóng mình…ngày trước

Ngõ làng ta vậy đó

Dù bao giờ bay xa

Chân trời trong mắt nhỏ

Chẳng bao giờ bay qua..

.


 Phản hồi của Trần Trọng Chiêm :

Mẹ ơi con nhớ thuở nào

Dắt trâu vác cuốc bên ao cổng làng

Bây giờ nhà ngói cao sang

Chợ Chùa bánh đúc mơ màng tuổi thơ

TTCh​




Đỗ Anh Thơ : Cuối đời, nhặt truyện cũ đăng lại (2) : Lão Nhắng với Tôi

   Với đôi kính trắng, chiếc áo ba đờ xuy, cái xe đạp mi ni mới của Trung Quốc, trông lão thật xứng là một người danh giá, vọng tộc trong làng. Đời Lê, họ nhà lão có đến ba tiến sĩ. Nhưng truyền thuyết kể rằng: “Ông tổ nhà lão làm nghề cất vó. Một đêm đi mò cá, biết họ Võ đào nền chùa tìm huyệt. Ông tổ nhà lão dọa tố cáo. Họ Võ đành nhường cho một cái nên chỉ có thể phát được có ba đời”. Lão nghe chuyện, liền nổi xung. Lão đánh tiếng sẽ gọi con cháu đầu gấu đến họ Võ xin tí tiết. Ai ai nghe cũng phải sợ.

Buổi đầu, mới về làng này, chưa quen, tôi giáp mặt lão, không chào. Lão dương mắt kính, nhìn tôi trân trân. Đi một đoạn, lão buông một câu trống không:

– Đường cái làng này, mười viên gạch thì họ Trần nhà tao có chín viên. Mấy thằng ngụ cư, không biết lề thói, gì cả!

Từ đó về sau, nếu tôi có chào, lão cũng không thèm lên tiếng đáp lại . Thế là tôi bắt buộc phải tìm cách lánh mặt. Hễ nhác thấy bóng lão từ xa, tôi giả vờ sửa xe, hoặc đành quay lại, y chuyện Lạn Tương Như với Liêm Pha, xưa kia.

Có lẽ, lão hơn tôi đến hơn chục tuổi. Đã thuộc làu câu “kính… nhi viễn chi” của Khổng tử, đúng ra, tôi phải sửa lỗi lầm đó. Nhưng mà không được, lý là tại làm sao? Lòng tự ái trong tôi cứ dày vò mãi. Vợ con cứ trách tôi rằng, chẳng hiểu câu nói của cha ông xưa: “bán bà con xa mua láng giềng gần” gì cả. Đã nghỉ hưu rồi, làm anh dân thường, mà còn làm phách. Cực chẳng đã, chiều mồng hai tết năm đó, tôi chủ động sang nhà lão. Lão nằm ngay trên giường, đắp chăn không dậy. Bà vợ hai rót chén nước, mời chiếu lệ. Tôi vội vàng làm thủ tục của cha ông, nói mấy câu chúc mừng năm mới, rồi lủi thủi ra về.

Sau đó mấy hôm, xóm họp người cao tuổi. Tôi cũng được mời. Các cụ dòng họ Võ phấn khởi lắm. Biết tôi võ vẽ đôi ba câu, nên họ bắt tôi đọc thơ xuân. Bỗng có một tiếng cắt ngang:

– Thôn quê chúng tôi ít chữ, biết gì “thơ với thẩn”!

Tôi quay sang nhìn, thấy lão Nhắng tỉnh bơ, đang nói tiếp:

– Có bàn lễ hội thì bàn. Không, tôi về!

Cụ chủ nhiệm câu lạc bộ tuổi già cuống quýt, bấm lưng tôi. Tôi cụt hứng. Té ra cụ nào trong xóm cũng sợ lão Nhắng. Có lẽ vì lão là hậu duệ của một dòng họ danh giá, lại là ông từ “lừ khừ giữ đền”, đang cho các cụ mượn làm trụ sở chăng?

Thế là kế hoạch hội nhập của tôi không thành công. Thậm chí, mấy ngày sau, tôi còn được nghe phong thanh rằng, lão Nhắng bảo, tôi muốn vào hội, để sau này xin “hai thước đất”… cuối làng.

Từ đó tôi bất cần. Gặp lão tôi cũng giương kính lên, nhìn thẳng.

Thế rồi thời thế xoay vần. Xã tôi thành phường, một phần huyện thành quận. Dân xóm tôi bầu khối trưởng mới. Ông trưởng xóm cũ, vốn họ Trần của lão Nhắng, do tham ô nhiều tiền làm đường điện, nên mất ghế. Thế là lão đứng lên, thọc tay vào túi áo ba đờ xuy, lững thững bước ra về. Các bà trong họ ấy cũng lỉnh gần hết. Tôi thấy ông trưởng khối mới, mặt có hơi tái đi, khi thấy ba gian đình, người vãn đi già nửa.

… Rồi một hôm, tôi đi qua, thấy lão Nhắng ngồi trực đền. Nhằm chọc tức lão, tôi vào đình, đọc câu đối và ghi ghi chép chép.

Ngờ đâu, lão Nhắng đứng lên đon đả rót nước mời tôi. Thế là từ đó, hai chúng tôi thân nhau, lui tới nhà nhau như chưa từng có hiềm khích bao giờ. Lão còn lấy trong ống bương ra một cuộn giấy bản to, toàn là sắc phong thời Lê, nhờ tôi dịch. Vợ tôi mừng ra mặt. Trong óc bà ấy thoáng nghĩ ngay đến cái cơ hội “hai thước đất” mà lão Nhắng đoán như trúng tim đen ấy, đã đến gần. Vì chả dấu gì các bạn, bà ấy với tôi, đều đã già, lại thuộc diện KT2, KT3 cả, chưa có tiền nộp thuế đất, làm đơn xin sổ đỏ để nhập hộ khẩu.

Nhưng rồi một năm trôi qua. Phường mới của tôi, trâu bò vẫn cứ thả rông. Rác rưởi, rơm rạ của các nhà hàng thịt chó vẫn hun mù mịt. Lòng, phân, nước thối nồng nặc vẫn mặc nhiên… chảy tràn qua đường… hội nhập với dòng sông Tô lững lờ đen.

Tôi ngán ngẩm. Thế rồi, không biết tôi đã nhiễm vi rút A.Q của lão, tự bao giờ. Ngồi với lão, tôi cũng đâm sính kể chuyện họ hàng, rằng bà con tôi, có tới hàng chục tiến sĩ, giáo sư đang sống ở Hà Nội. Còn phó tiến sĩ, phó giáo sư thì… đếm không xuể.

Tôi với lão thường vỗ đùi đen đét, tâng bốc lẫn nhau như thế, rồi tu rượu đến khuya. Chỉ có khác, lão nói tiến sĩ họ nhà lão thuở trước, còn bia trên Văn Miếu. Phần tôi, tôi nói chuyện thành đạt của con cháu tôi thời nay, hết đi Tây lại đi Mỹ. Thế thôi!

Đỗ Anh Thơ : Cuối đời, nhặt truyện cũ đăng lại (1) : Mùa hoa xoan

 Mùa đông đến, khi cây xoan chỉ còn đeo lủng lẳng mấy trùm quả khô teo, cành cong trơ trụi như những bàn tay xương xẩu, già cả… giơ lên trời để chống đỡ với gió lạnh thì mấy chú chào mào cũng ngồi ủ rũ, sệ cánh trên đó, không nơi ẩn nấp, không còn hót líu lo nữa.

Đàn chim ngói vụt bay đi, sà đến mấy thửa ruộng đầu làng để nhặt mấy hạt thóc cuối cùng trên cánh đồng nghèo, chỉ còn gốc dạ lẫn cây rau muối khiến lòng ta thêm buồn, lạnh lẽo, quạnh hiu.

Tết đã gần đến. Gương mặt mẹ tôi đầy lo toan. Bà nhìn bồ thóc trong buồng. Kể từ vụ mùa đến nay đã vơi đi già nửa, nhưng bà vẫn phải lường mấy rá… mang ra chợ.

Tôi với cô gái cùng xóm đang ngồi chơi đánh ô bằng những quả khô đắng, rụng đầy gốc của chính cái cây cùng có cái tên Xoan này.

Chơi đánh ô là thú của con gái sau đánh thẻ. Nhưng vì không có bạn đá bóng tôi đành phải chơi trò này. Bao giờ cũng vậy, khi Xoan hô: “hết quan, toàn dân…” là cô ấy vơ vào lòng toàn bộ hạt xoan. Tôi cứ phải vay nợ hoài. Nợ nhiều, cáu quá, tôi leo lên cây, hái mấy chùm đem xuống trả. Cuối cùng, khi mẹ tôi về chợ, tôi có cớ để bỏ chơi, chạy đi lục thúng mủng của mẹ.

… Tôi nghe tiếng thở dài của bà. Ngoài một chục mắm nục là món ăn mà tôi rất ghét, chỉ có một đùm lá chuối gói hai cái kẹo đường đỏ tẩm bột, dài bằng hai nửa ngón tay.

Tôi đưa cho Xoan một cái kẹo. Đôi mắt cô long lanh, bảo:

– Thế là em trừ hết nợ cho anh rồi đó!

Xoan nhảy qua bờ rào, chạy về nhà. Tôi nghe tiếng thằng Cậy giậm chân đành đạch:

– Anh Niêm lại cho chị kẹo rồi. Chị phải để em cắn một nửa.

… Sát tết, là ngày trời thường rét ngọt, lất phất mưa. Những cành xoan xương xẩu ấy như tươi lại, chúm chím nụ.

Chúng tôi thường qua những cái tết ngây thơ, giữa cái nghèo túng và lo toan của người lớn như vậy.

Ra giêng hai, đến trò chơi khác. Dưới gốc cây, chúng tôi lấy hoa xoan xâu thành cườm.

Tôi đóng chú rể, đeo chuỗi ngọc cho Xoan làm cô dâu.

Thường thường trò chơi này tôi và Xoan chơi vụng trộm, không để người lớn và thằng Cậy biết.

Đôi mắt Xoan tròn như mắt bồ câu, nhìn tôi, mặt ửng đỏ, ngượng ngùng… Còn tôi, tôi chỉ sợ bạn bè cùng xóm chế mà thôi.

Năm tháng qua đi, rồi tôi phải đi trọ học xa. Xoan ở nhà làm hàng xay, hàng xáo cùng mẹ. Xoan đã trở thành một cô gái xinh đẹp và đảm đang nhất làng.

Thỉnh thoảng, mỗi lần ở trọ hết gạo, tôi về nhà lấy để mang lên. Tôi thấy mẹ tôi tần ngần, rồi chạy sang nhà Xoan. Lát sau, cô mang sang hai cái ruột tượng đầy, màu nâu non. Tôi biết chắc đó là gạo cô chuẩn bị mang ra chợ. Tôi lúng túng, đỡ lấy từ tay Xoan. Cô lại đỏ mặt, cúi mặt xuống… rồi giả vờ quay sang bắt chấy cho mẹ tôi, để được ngắm tôi xếp sách vở vào ba lô và khoác hai cái bao tượng… ra đi.

Mẹ tôi thường bảo:

– Gắng học cho giỏi, nghe con!

Tội dạ và nhìn về phía mái tóc bạc của mẹ, đôi mắt Xoan long lanh, như đợi chờ như vô vọng. Còn tôi thì lãng mạn, thầm nghĩ sẽ là một Phạm Công xưa… với nàng.

Tuy cùng nhà tranh vách đất cả, nhưng bố mẹ Xoan nghèo khổ đã rõ. Còn nhà tôi, mới sa sút từ khi bố tôi, một nhà nho nghèo, mất cách đây hai năm. Cái túng đói của nhà tôi được mẹ tôi che giấu rất giỏi. Mỗi khi có bạn cùng lớp tôi về qua, bà đon đả, giữ chúng ở lại cho bằng được.

Bà nấu một nồi cơm đầy trên mâm có hai đĩa cá nục luộc, kho nhạt. Chúng tôi được một bữa cơm trắng no nê. Ăn xong, bưng mâm xuống nhà, tôi mới chợt thấy mẹ đang nhai từng lát khoai lang hấp. Trong lòng tôi hối hận vì sự chểnh mảng học hành và những chuyện đua đòi theo bạn.

Vì thế, tôi quyết chí học và chưa có bạn gái. Mặc dù trong lớp năm cuối cấp ba, một lần tôi nhận được một mẩu thư tình, có ướp một bông hồng, không ký tên.

… Khoảng ngoài mồng bốn tết năm con hổ vàng, túc là năm 1962, khi hoa xoan đã rắc đầy ngõ, những hạt cườm tím, tôi nhận được một tin sét đánh. Ngày đó Xoan về nhà chồng.

Chả trách gì mà gần cả tháng nghỉ tết, tôi không làm sao tìm gặp được cô láng giềng ấy.

Đêm đó tôi trằn trọc và thức trắng. Nước mắt đầm đìa cả gối. Sáng ra, tôi chạy sang nhà, nhìn căn nhà thiếu vắng hình ảnh một người… của tuổi thơ, tôi ôm lấy mẹ Xoan khóc to và buột miệng gọi “mẹ”.

 Bà rưng rưng nước mắt, xoa đầu tôi, an ủi:

– Em nó chờ cậu mãi! Con gái có thì… Mà nó đã đi lên chùa, xin thẻ. Về nó khóc suốt đêm. Nó bảo tuổi nó, nếu được cậu yêu chăng nữa, thì sau này cũng làm khổ cậu mà thôi. Bởi vậy, nó mới thuận lấy anh cán bộ tập kết đã theo đuổi nó bao năm nay…

Từ đó, thỉnh thoảng Xoan ghé thăm mẹ. Có khi, khớp với lần tôi nghỉ học, ở Hà Nội về nghỉ hè. Nhưng lại đến lượt tôi lẩn tránh Xoan.

…Sau năm 1975, miền Nam giải phóng. Xoan theo chồng về trong đó. Mẹ tôi và bố mẹ Xoan lần lượt qua đời.

Thế là chúng tôi bặt tin nhau cho đến tận bây giờ. Cũng từ đó, mỗi độ xuân về, thấy hoa xoan nở đầy đường, tôi lại rón rén bước giày, cho khỏi đạp lên.

Tôi biết rằng, hết mùa hoa, nó chỉ đem lại quả đắng mà thôi. Còn đâu cái háo hức tuổi thơ… tôi trèo lên hái, để trả nợ cho ai nữa.

DAT

Phan hoi :

       Dang de le :

Câu chuyện quá hay, buồn, đẹp nhưng rất lãng mạn, làm tan chảy tâm hồn người đọc

Đỗ Anh Thơ : Thương nhớ mãi chú có Capi ( kỳ 3)

Một thời gian sau, đứa con gái Docago đi lao động ở Đức, chắt bóp gửi về cho lão hai chiếc xe Honda . Lão bán đi , mua đất xây nhà bên bờ sông Tô Lịch rồi chuyển lên Hà Nội  . Con cả lão vào nam, bán nhà ở Nam Định . Do đó  Capi cũng được  về thủ đô . Trừ lão có hộ khẩu tập thể, còn cả nhà còn phải sống chui . Mấy tuần sau, Docago và đứa con út đi xe máy về đón Capi lên thủ đô . Ngày đưa chú đi cũng là ngày giao nhà . Hình như chú cũng quyến luyến căn nhà cũ,  Lúc r a xe, chú được bế lên , đặt vào dỏ trước tay lái. Chú buồn rười rưỡi, nằm im thin thít . Mắt chú  liếc nhìn căn nhà , rồi liếc trôm Docago nhiều lượt, hình như chú có ý nghi ngờ bị đem bán  . Tới khi thấy lão rồ máy, phóng xe ra khỏi nhà, thì chú mới yên tâm . Chú nằm trước dỏ xe , quay mặt nhìn lão. Cái đuôi chú ve vẩy, mắt bắt đầu ngơ ngác nhìn người và xe cộ trên đường .  Lần đầu tiên chú được  ngồi xe và đi xa . Chắc chắn chú suy nghĩ lung lắm. Nòi giống becgie  nhà chú chưa từng bị lên dao thớt, làm bạn với riềng mẻ nên trong đầu chú chưa hề có  thông tin này.

Chú nhởn nhơ vẫy đuôi hòai . Tới thị xã Phủ Lý , chú được xuống xe, đi vệ sinh. Xong lại ngoan ngoãn tới nằm dưới chân Docago . Vốn bản tính hay khoe khoang, Docago chỉ ăn có nửa tô phở, rồi cầm nửa còn lai, đứng dậy. Thấy sẵn có cái bát nhôm bẩn của nhà hàng, lão mượn và ra hiệu cho Capi .Lão thử diễn tro xiếc chó , giữa đông người như cụ Vitalis . Capi hiểu ý, đến ngoặm lấy mang bát đến dưới chân cho lão trút phở thừa vào . Đôi mắt Capi  hau háu , nằm chờ lệnh chủ . Chú chó lông xù nhà hàng, to gấp đôi Capi, định xông vào . Nhưng chú chỉ mới nhăn răng, gầm gừ, nó đã vội cong đuôi, biến mất . Ra tới gốc bàng trước quán, nó không quên ghếch cẳng đái, rồi lấy hai chân cào… rồi sủa vang như tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của mình. Các thực khách nhìn trầm trồ và khen chú chó khôn  . Capi thưởng thức gần nửa tô phở đó. Có lẽ chú cảm thấy ngon nhất trên đời. Còn Docago thì tự hào về chó, xuýt nữa quên cả trả tiền. Cái mũi lão phập phồng, nở to , chỉ thiếu được bôi đỏ của thằng hề là lão có thể trở thành chủ gánh xiếc, kiếm ra tiền.

Ăn xong, con lão lái xe thay lão. Capi được ngồi vào lòng chủ , tiếp tục lên đưỡng .

( Còn nữa)                                                                       Tại Bình Thạnh SG

30/8/2017

ĐAT

 

Đỗ Anh Thơ : Tiếng ếch kêu ngoài tường rào nhà Docago ( tiếp theo)

Docago mê chích chòe lửa đó đến quên ăn, quên ngủ. Ngoài gốc sung ra, lào còn thường treo nó canh bờ rào sắt , gần với một chú cu gáy .

Ông già câu cá khuyên láo :

: Tui để ý thấy , đã có một hai thanh niên cầm sào , lảng vảng quanh nhà bác đó.

-Bác cứ yên tâm đi.  Tui đã có bầy béc giê rất thính tai, cảnh giới từ xa rồi . Gần thì có camera. Sợ gì !

Khác với chích chòe lủa hay làm dáng, cu gáy thì đạo mạo như một triết gia . Khi thấy mặt lão  lấy ngón tay ra hiệu , nó lại rụt cái cổ cườm rồi cố gắng rướn lên gù mấy tiếng như muốn đàm đạo với lão về thuyết này, thuyết nọ, như muốn chê bai chích chòe lửa , chỉ được cái đẹp mã , nhưng cái đầu thì rộng tuyếch. Lão ngồi trên ghế đá, ngắm những ông phỗng , rối thác lời chúng cật vấn nhau…  để vơi đi nỗi đau nhân tình …

             ‘ Ngài mặc chiếc quần ống chẽn đỏ
Vai khoắc áo đuôi tôm tuyền đen .
Xứng danh hiệp sĩ chích chòe lửa ,.
Kiếm đâu” không bênh vực khuyên hèn ?
Ta già , nằm yên là một lẽ
Ngài sao còn trẻ , sức thanh niên.
Hay cám trứng, lồng son, mãn nguyện
Chỉ hót huyên thiên để kiếm tiền
 ! “

( còn nữa)

22/8/2017

Tại Bình Thạnh- SG

ĐAT